Thứ Ba, 21/02/2017, 10:48 GMT+7

Giải pháp phát triển BHYT bền vững đối với nhóm đối tượng bảo trợ xã hội

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng bởi quá trình biến đổi khí hậu và tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh, Việt Nam hiện có hơn 25% dân cư cần sự trợ giúp xã hội, bao gồm khoảng 9,4 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, trên 09 triệu người có vấn đề sức khỏe tâm thần, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khoảng 1,8 triệu lượt hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm... và đồng thời, có khoảng 10% hộ nghèo, 5% hộ cận nghèo. Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách chăm lo đời sống, trong đó có BHYT, cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, góp phần ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.

   Thực trạng công tác triển khai, tổ chức thực hiện chính sách BHYT đối với đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn

  Thực hiện Luật BHYT năm 2008, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT (năm 2014), Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững… Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với BHXH Việt Nam, các Bộ, ngành liên quan, địa phương xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách, cấp thẻ BHYT cho đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; phối hợp giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Thực hiện nhiều hoạt động nhằm tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT, đăng tải thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng; qua đó, góp phần quan trọng giúp người dân hiểu đúng, đầy đủ và kịp thời về chính sách, pháp luật về BHYT, tạo hiệu ứng tích cực trong xã hội.

   UBND các tỉnh, thành phố theo thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn để tổ chức triển khai thực hiện tại địa phương; chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, các Sở, ngành phối hợp với BHXH địa phương rà soát, cấp thẻ, giải quyết chính sách, chế độ BHYT cho các đối tượng; hướng dẫn các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền chính sách BHYT tới cơ sở, tới đối tượng với nội dung, hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng thụ hưởng. Hằng năm, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với cơ quan BHXH, các Bộ, ngành liên quan thành lập hàng trăm Đoàn thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách trợ giúp xã hội tại các địa phương, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến thực hiện chính sách BHYT. Qua thanh tra, kiểm tra cho thấy, việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đã được các địa phương quan tâm, việc cấp trùng thẻ BHYT ít hơn, không có hiện tượng hưởng chồng chéo nhiều loại chính sách bảo trợ xã hội, người dân hiểu quyền và trách nhiệm của mình khi thụ hưởng các chính sách của Nhà nước. Đồng thời, phát hiện khá kịp thời những vi phạm, thiếu sót trong quá trình thực hiện, hạn chế, bất cập về chế độ, chính sách, qua đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp.

   Kết quả thực hiện

  Việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT, đối tượng được ngân sách Nhà nước cấp mua BHYT; trong đó, có nhóm đối tượng trẻ em dưới 06 tuổi, người được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo; cùng với sự tham gia của các tổ chức xã hội trong vận động phong trào mua tặng thẻ BHYT cho người có hoàn cảnh khó khăn đã góp phần tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT. Trên cơ sở đó, ý thức của người dân tham gia BHYT, nhất là đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, được nâng cao. Đến nay, cả nước có khoảng gần 28 triệu người có hoàn cảnh khó khăn được cấp thẻ BHYT, trong đó có gần 2,7 triệu đối tượng bảo trợ xã hội, gần 3,6 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo (khoảng 13 triệu người), khoảng 02 triệu lượt học sinh, sinh viên được hỗ trợ/năm. Trong giai đoạn 2011-2015, ngân sách Nhà nước đã bố trí khoảng 66.875 tỷ đồng để mua thẻ BHYT cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, các đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em dưới 06 tuổi và người cận nghèo, học sinh, sinh viên.

  Có thể nói, chính sách cấp thẻ BHYT miễn phí và hỗ trợ mua thẻ BHYT đóng góp to lớn trong lộ trình chung tiến tới BHYT toàn dân, nâng cao sức khỏe của người dân và có tác động lớn đến công tác giảm nghèo. Mặc dù vậy, nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy hạn chế của BHYT trong việc ngăn chặn tác động của chi tiêu y tế lên việc “bần cùng hóa” của các nhóm dân cư nghèo và có thu nhập thấp. Ngoài ra, tỷ lệ bao phủ BHYT còn thấp trong nhóm người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hộ cận nghèo, nhóm có thu nhập trung bình thấp… đã hạn chế tác động của BHYT trong việc hỗ trợ phòng ngừa các nhóm này rơi vào nghèo đói; vẫn còn nhiều loại thuốc nằm ngoài danh mục thuốc chi trả của Quỹ BHYT… do vậy, người thuộc hộ gia đình nghèo và cận nghèo khi có nhu cầu đi khám, chữa bệnh BHYT có khi phải chi một khoản tiền lớn vượt quá khả năng.

   Quan điểm, mục tiêu, giải pháp

    Quan điểm

  Trợ giúp xã hội, BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là một trong những trụ cột chính của hệ thống An sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội.

  Mở rộng và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội; chế độ, chính sách BHYT có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển BHYT đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng chế độ BHYT.

  Trợ giúp xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng. BHYT phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống BHYT.

Thực hiện tốt trợ giúp xã hội, chế độ, chính sách BHYT là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

   Mục tiêu

  Hoàn thiện luật pháp về trợ giúp xã hội, BHYT; tiếp tục cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân có hoàn cảnh khó khăn; mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp xã hội, chính sách BHYT, ưu tiên người nghèo, người sống ở vùng núi, vùng hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; nâng mức trợ giúp xã hội phù hợp với vòng đời, khả năng ngân sách nhà nước và xu hướng quốc tế; bảo đảm người dân gặp rủi ro được hỗ trợ kịp thời từ Nhà nước, tổ chức và cộng đồng; phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp xã hội, góp phần bảo đảm công bằng, ổn định xã hội và phát triển bền vững; hướng tới bảo đảm cấp thẻ BHYT cho 100% người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, hộ nghèo và hộ cận nghèo.

   Giải pháp phát triển BHYT bền vững đối với nhóm đối tượng bảo trợ xã hội

  Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách trợ giúp xã hội; pháp luật, chính sách BHYT

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác trợ giúp xã hội, chính sách BHYT, đặc biệt là vai trò của HĐND, UBND trong việc huy động và bố trí nguồn lực cho trợ giúp xã hội, giám sát thực hiện chính sách trợ giúp xã hội.

  Tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách BHYT để người dân thấy rõ vai trò, ý nghĩa của BHYT; quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tham gia BHYT. Phát hiện và biểu dương kịp thời các tổ chức, cá nhân, địa phương thực hiện tốt công tác BHYT; đồng thời, phê phán, xử lý nghiêm trường hợp vi phạm pháp luật BHYT. Chính quyền, cơ quan BHXH, cơ quan y tế và các tổ chức đoàn thể cần chú ý làm tốt công tác vận động nhân dân tham gia BHYT.

  Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật trợ giúp xã hội; chính sách, pháp luật về BHYT

  Hoàn thiện chính sách, pháp luật trợ giúp xã hội, đặc biệt nghiên cứu xây dựng Luật Trợ giúp xã hội hoặc Luật An sinh xã hội, Luật Công tác xã hội quy định cụ thể về đối tượng, nguyên tắc điều chỉnh trợ cấp xã hội, các chế độ chính sách, vai trò, thẩm quyền của nhân viên công tác xã hội; thành lập, tổ chức và hoạt động của cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội; cơ chế tài chính, tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá và những vấn đề liên quan khác đến trợ giúp xã hội, công tác xã hội.

  Tăng cường xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT. Có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia BHYT. Nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, hộ nghèo.

  Mở rộng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người tham gia các loại hình BHYT cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, nông dân, học sinh, sinh viên, đồng bào ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng núi. Có chính sách khuyến khích người tham gia BHYT tự nguyện thường xuyên dài hạn, hạn chế tình trạng người bị ốm đau mới mua thẻ. Quy định mức thanh toán BHYT theo hướng vừa bảo đảm quyền lợi của người tham gia, vừa bảo đảm cân đối quỹ theo nguyên tắc “đóng – hưởng”.

  Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội gắn với thực hiện chính sách BHYT

  Quy hoạch phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội phù hợp với chiến lược, phát triển chính sách BHYT; phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, địa phương.

  Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống BHYT theo hướng phục vụ chi trả nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm quyền lợi người tham gia. Thực hiện minh bạch, công khai và tăng cường quản lý hoạt động khám, chữa bệnh để hạn chế, ngăn chặn tình trạng trục lợi Quỹ khám, chữa bệnh BHYT, lạm dụng kỹ thuật cao, thuốc bệnh đắt tiền.

  Kiện toàn, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, BHYT đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

  Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan BHXH về trợ giúp xã hội, BHYT

  Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội, BHYT với cơ quan BHXH các cấp trong việc thực hiện chế độ, chính sách BHYT. Quản lý tốt đối tượng đóng và tham gia BHYT từ cơ sở. Củng cố và tăng cường quản lý Quỹ BHYT bảo đảm thu chi, đầu tư tăng trưởng Quỹ hiệu quả và an toàn theo quy định của pháp luật.

  Cải cách thủ tục hành chính

  Theo hướng rút ngắn thời gian giải quyết chính sách, bỏ bớt thủ tục hành chính không cần thiết; thống nhất quy trình xác định, quản lý đối tượng thụ hưởng trợ giúp xã hội, chính sách BHYT theo quy trình thống nhất, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng và giải quyết chính sách trợ giúp xã hội, BHYT.

  Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra

  Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về trợ giúp xã hội, BHYT và các chính sách liên quan đến hỗ trợ thực hiện; kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm, nhất là các hành vi tiêu cực, gian lận để hưởng chế độ trợ giúp xã hội, trục lợi BHYT.

  Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập kinh nghiệm quốc tế trên các lĩnh vực trợ giúp xã hội, BHYT

  Tăng cường, mở rộng hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài trong việc hỗ trợ kinh nghiệm về BHYT, hỗ trợ nguồn lực thực hiện trợ giúp xã hội.

Nguyễn Văn Hồi Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Gửi bình luận của bạn

TIÊU ĐIỂM
Xem nhiều nhất