1/3 số người trên thế giới không được tiếp cận với nguồn nước an toàn

26/12/2019 12:13:32
Theo Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 1/3 số người trên thế giới đang không được tiếp cận với nguồn nước an toàn, công trình vệ sinh đạt chuẩn và bảo đảm vệ sinh môi trường; trong đó, 2,2 tỷ người không được sử dụng nguồn nước an toàn, 4,2 tỷ người không có công trình vệ sinh đạt chuẩn, 03 tỷ người thiếu các thiết bị vệ sinh, thậm chí chỉ là thiết bị rửa tay cơ bản.

Trong những năm gần đây, thế giới đạt được nhiều tiến bộ đáng kể về tăng độ tiếp cận của người dân với nguồn nước an toàn, công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường (từ năm 2000, 1,8 tỷ người đã được tiếp cận với nguồn nước đơn thuần, tỷ lệ dân số thực hành đại tiện ngoài môi trường giảm còn 9%, 23 quốc gia đã đạt được tỷ lệ gần như loại bỏ, chưa đến 1% dân số, thực hành đại tiện ngoài môi trường...); tuy nhiên, thực tế vẫn có những “lỗ hổng” lớn trong chất lượng dịch vụ cung cấp.

Ước tính 1/10 tổng số người trên giới (khoảng 785 triệu người) thiếu các dịch vụ cơ bản, trong đó, 144 triệu người vẫn phải sử dụng nguồn nước chưa được xử lý; cứ 10 người thì 08 người sống ở khu vực nông thôn chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ cung cấp nước sạch; độ bao phủ của những dịch vụ cơ bản tại các quốc gia giàu nhất cao hơn ít nhất gấp đôi so với các quốc gia nghèo nhất; khoảng 673 triệu người vẫn thực hành đại tiện ngoài môi trường, phần lớn tập trung ở Châu Phi cận Sahara - nơi nhiều quốc gia đã và đang đối mặt với bùng nổ dân số; có tới 297.000 trẻ em dưới 05 tuổi mỗi năm tử vong do tiêu chảy liên quan đến nguồn nước, công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường; 03 tỷ người thiếu các thiết bị rửa tay cơ bản bằng nước, xà phòng tại gia; gần 3/4 dân số của các quốc gia kém phát triển nhất không có các thiết bị rửa tay cơ bản...  

Bởi được tiếp cận với nguồn nước đơn thuần là chưa đủ, nếu nguồn nước không sạch, không an toàn đủ để uống sau khi xử lý hoặc nguồn nước ở xa thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, cũng như sức khỏe, của người dân. Tương tự, nếu công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường không bảo đảm, cũng gây tiêu cực đến người dân. Người già, người khuyết tật, trẻ em, hộ gia đình nghèo, cộng đồng nghèo là những đối tượng có nguy cơ “bị bỏ lại phía sau” nhiều nhất. Do đó, UNICEF – WHO khuyến cáo các Chính phủ cần tập trung đầu tư vào cộng đồng để làm “cầu nối” chính sách với người dân; phân bổ đồng đều sự hỗ trợ trên các vùng, miền; đảm bảo các quyền con người thiết yếu, trong đó có quyền được tiếp cận với nguồn nước an toàn; thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng về khả năng tiếp cận nguồn nước an toàn, công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường trong cộng đồng; hướng đến các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) liên quan đến tiếp cận phổ cập và công bằng với nguồn nước, công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường... Bởi khi tăng cường cải thiện nguồn nước an toàn, công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường, sẽ giúp các quốc gia thế giới “đương đầu” và tiến đến loại bỏ các căn bệnh có tính lịch sử như tiêu chảy, dịch tả, thương hàn, viêm gan A, các bệnh nhiệt đới bị lãng quên (bệnh mắt hột, giun đường ruột, bệnh sán máng...)...; đồng thời, đầu tư vào nguồn nước, công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường mang lại hiệu quả, tích cực cho xã hội theo nhiều cách, trong đó tạo nền tảng thiết yếu cho sức khỏe tốt.

05 giải pháp cơ bản bảo đảm nguồn nước, công trình vệ sinh và vệ sinh môi trường

Giữ sạch nguồn nước: Tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức giữ sạch nguồn nước bằng cách không được vứt rác bừa bãi, không thải trực tiếp vào nguồn nước sạch, không dùng phân tươi làm phân bón; sử dụng thuốc trừ sâu theo đúng hướng dẫn; hạn chế tối đa việc sử dụng các hóa chất gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước.

Tiết kiệm nước sạch: Nhằm giảm sự lãng phí khi sử dụng nước, nên tắt vòi nước khi đang đánh răng hay vệ sinh cá nhân; kiểm tra, bảo dưỡng, cải tạo lại đường ống dẫn nước, bể chứa nước nhằm hạn chế thất thoát của nước; sử dụng nguồn nước từ thiên nhiên như nước mưa vào việc cọ rửa, tưới cây, tránh sử dụng nguồn nước sạch vì rất lãng phí.

Xử lý phân thải: Cần có kế hoạch thu gom, hố ủ vệ sinh hợp lý, tránh tình trạng xả tràn lan trực tiếp ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm.

Xử lý rác sinh hoạt, chất thải: Nên có những phương tiện chứa rác có nắp đậy kín, đủ sức chứa, nhất là rác hữu cơ ở gia đình, khu tập thể, nơi công cộng; đồng thời,  cần có những biện pháp xử lý hợp vệ sinh tránh tình trạng gây ô nhiễm nguồn nước.

Xử lý nước thải: Cần có hệ thống xử lý nước thải do sinh hoạt (cống ngầm kín) rồi đổ ra hệ thống cống chung, tránh tình trạng xả tràn lan gây ô nhiễm; nước thải công nghiệp, y tế cần phải xử lý theo quy định môi trường trước khi thải ra cộng đồng.

Hoàng Tùng (Theo WHO)

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam