Bảo đảm cho người tham gia BHYT được thụ hưởng dịch vụ y tế công bằng, chất lượng

08/01/2018 10:06:38
Ngày 25 tháng 10 năm 2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân trong tình hình mới. Nghị quyết đề cập một cách toàn diện đến những kết quả to lớn cũng như những hạn chế yếu kém, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong công tác y tế 25 năm qua. Nghị quyết đã nêu rõ 5 quan điểm của Đảng về công tác y tế; các mục tiêu đến năm 2025 và 2030 với 9 nhiệm vụ, giải pháp để đạt được các mục tiêu trên, đồng thời, Nghị quyết cũng nhấn mạnh đến vị trí, vai trò, tầm quan trọng, những thành tựu, những hạn chế và các giải pháp thực hiện BHYT, tiến tới BHYT toàn dân. Để kịp thời đưa Nghị quyết số 20-NQ/TW vào cuộc sống chúng tôi xin nhấn mạnh một số nội dung liên quan đến phát triển BHYT với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong thời gian tới góp phần xây dựng hệ thống y tế Việt Nam công bằng, chất lượng, hiệu quả và hội nhập quốc tế.

Ảnh minh họa

BHYT là chính sách xã hội quan trọng, là một trong những trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm phát triển. Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 Khóa XII đã nhấn mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó cũng đã nêu rõ: “Chính sách tài chính y tế có nhiều đổi mới và diện bao phủ BHYT ngày càng được mở rộng”. Điều này đã được minh chứng cụ thể bằng con số trên 86% dân số đã tham gia BHYT tính đến hết tháng 12/2017 với tốc độ gia tăng một cách nhanh chóng so với 28% vào năm 2005. Trong gần 30 năm phát triển, BHYT Việt Nam đã thu được những kết quả quan trọng: Hệ thống chính sách, pháp luật về BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; số người tham gia BHYT tăng qua các năm; quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng. Nguồn tài chính BHYT ngày càng tăng và đóng góp một phần đáng kể cho sự nghiệp chăm sóc khỏe Nhân dân. Quỹ BHYT bước đầu đã cân đối được thu chi và có kết dư, quỹ BHYT đã đảm bảo sự an toàn về tài chính trước những rủi ro bệnh tật cho hàng triệu người bệnh và gia đình họ. Hệ thống tổ chức BHYT được hình thành và phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện các chế độ, chính sách BHYT.
Cùng với những thành tựu nêu trên, Nghị quyết cũng chỉ ra những hạn chế yếu kém và những nguyên nhân chủ yếu, đó là: “Tư duy bao cấp, ỷ lại vào Nhà nước còn nặng, thiếu cơ chế đồng bộ, phù hợp để người dân tham gia BHYT và thu hút mạnh mẽ nguồn lực ngoài nhà nước đầu tư phát triển y tế.” Nghị quyết nhấn mạnh: “Cơ chế, chính sách về BHYT, giá dịch vụ, tổ chức, biên chế... còn thiếu đồng bộ”.
Thực tế gần 30 năm thực hiện chính sách BHYT đã cho thấy, cơ chế tài chính còn lúng túng trong việc chuyển đổi từ “ngân sách nhà nước” sang “xã hội hóa”; từ cơ chế phí dịch vụ sang giá dịch vụ, chuyển dần ngân sách cấp trực tiếp cho các bệnh viện sang hỗ trợ người dân tham gia BHYT gắn với lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế và đổi mới phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh còn nhiều bất cập; tỷ lệ bao phủ BHYT, sử dụng quỹ cũng như cân đối quỹ chưa thực sự bền vững. Chưa thực hiện nguyên tắc đóng, hưởng mà từ mức đóng đưa ra cơ chế hưởng, đồng thời chưa có các mức đóng, hưởng khác nhau để người dân lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế của mình và gia đình mà hiện BHYT chỉ có một mệnh giá duy nhất 720.000 đồng/người/năm nhưng đa số người mua thẻ là người có bệnh nặng, bệnh mạn tính; chưa có quỹ dự phòng của BHYT. Chính vì vậy, trong 05 quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân, quan điểm thứ tư đề cập chủ yếu về cơ chế tài chính trong chăm sóc sức khỏe Nhân dân, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến phát triển BHYT toàn dân: “Hướng tới thực hiện bao phủ chăm sóc sức khoẻ và BHYT toàn dân; mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khoẻ; được bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia BHYT và thụ hưởng các dịch vụ y tế. Tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế và có cơ chế giá, cơ chế đồng chi trả nhằm phát triển vững chắc hệ thống y tế cơ sở.”
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong gần 30 năm thực hiện chính sách BHYT như đã nêu ở trên, quan điểm thứ tư đã chỉ rõ phải hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe và BHYT cho toàn dân với mục tiêu cụ thể đến năm 2025 có 95% dân số và năm 2030 trên 95% dân số tham gia BHYT. Đảng cũng đã định hướng rất rõ tính công bằng, chất lượng và hiệu quả cũng như hội nhập quốc tế trong xây dựng hệ thống y tế Việt Nam chú trọng tới quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân trong tham gia BHYT để được thụ hưởng dịch vụ y tế chất lượng với tỷ lệ hài lòng ngày càng được nâng cao. Quan điểm này cũng đã chỉ rõ cơ chế tài chính, định hướng cơ chế, phương thức chi trả dịch vụ y tế trong các cơ sở y tế trên nguyên tắc tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế, song vẫn phải bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống y tế, nhất là y tế cơ sở và không để Nhân dân bị nghèo hóa do bệnh tật. Như vậy, “Hướng tới thực hiện bao phủ chăm sóc sức khoẻ và BHYT toàn dân…” không chỉ là yêu cầu của thực tiễn bảo đảm công bằng, chất lượng và hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, mà còn hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng được nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII: “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách BHYT cho toàn dân”, “Đẩy nhanh tiến độ thực hiện BHYT toàn dân”. Có thể thấy, chủ trương thực hiện BHYT toàn dân luôn được Đảng ta khẳng định và phát triển qua các thời kỳ với các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm bảo đảm cho mọi người dân đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe với chất lượng ngày càng được nâng cao.
Trong Nghị quyết số 20-NQ/TW đã đề cập một cách toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện mục tiêu và quan điểm của Đảng về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong thời gian tới. 9 nhiệm vụ, giải pháp cơ bản đã được nêu ra trong Nghị quyết là: 1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và của toàn xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân; 2. Nâng cao sức khỏe Nhân dân; 3. Nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới y tế cơ sở; 4. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, khắc phục căn bản tình trạng quá tải bệnh viện; 5. Đẩy mạnh phát triển ngành Dược và thiết bị y tế; 6. Phát triển nhân lực và khoa học - công nghệ y tế; 7. Đổi mới hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ y tế; 8. Đổi mới mạnh mẽ tài chính y tế ; 9. Chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế. Trong 9 nhiệm vụ, giải pháp đó, nhiều giải pháp và biện pháp thực hiện BHYT đã được đề cập một cách cụ thể trong Nghị quyết.
Trước hết, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã nhấn mạnh đến vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong việc tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp Nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 20-NQ/TW, trong đó có việc vận động, tập hợp các tổ chức xã hội đoàn kết xây dựng đời sống mới gắn với việc tham gia BHYT toàn dân. Như vậy, tham gia BHYT toàn dân đã được gắn với trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, của các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội, đặc biệt nhấn mạnh đến trách nhiệm của toàn xã hội trong công tác truyền thông tạo sự đồng thuận xã hội và vai trò giám sát xã hội, phản biện xã hội của Nhân dân trong thực hiện đường lối, chính sách về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, nói chung, về thực hiện BHYT tiến tới BHYT toàn dân, nói riêng.
Tiếp theo, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã chỉ rõ biện pháp: “Triển khai đồng bộ hệ thống công nghệ thông tin trong quản lý trạm y tế, tiêm chủng, quản lý bệnh tật, hồ sơ sức khoẻ người dân gắn với quản lý thẻ, thanh toán BHYT”. Trong thời đại công nghệ thông tin, việc ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin trong quản lý y tế, BHYT là rất cần thiết. Trong nhiều năm qua Ngành BHXH đã áp dụng có hiệu quả thành tựu của công nghệ thông tin trong việc thanh toán đa tuyến, trong quản lý ngành, trong khai thác, quản lý, giám sát thực hiện BHXH trên phạm vi toàn quốc. Ngành BHXH đã sớm chủ động trong việc tích hợp mã thẻ BHYT với mã thẻ BHXH góp phần tích cực trong quản lý sức khỏe và quản lý công dân ở nước ta, tạo điều kiện minh bạch, công khai thông tin trong quản lý sức khỏe, quản lý BHYT cho người tham gia BHYT, đồng thời giảm phiền hà trong thực hiện chính sách BHYT trong thời gian tới. Không những thế, việc ứng dụng công nghệ thông tin đã thể hiện việc thực hiện biện pháp: “Tập trung đẩy nhanh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin từ quản lý bệnh viện, giám định, BHYT, bệnh án điện tử tới chẩn đoán, xét nghiệm, khám, chữa bệnh từ xa” có hiệu quả góp phần giảm quá tải bệnh viện và nâng cao chất lượng KCB tại bệnh viện và các cơ sở y tế.
Ba là, Nghị quyết số 20-NQ/TW đã dành phần lớn các biện pháp, các hoạt động cụ thể trong nhiệm vụ, giải pháp thứ 8 về “Đổi mới mạnh mẽ tài chính y tế” để giải quyết cấc vấn đề liên quan đến BHYT. Nghị quyết số 20-NQ/TW đã nêu rất rõ nguyên tắc cơ bản trong cơ chế tài chính BHYT là: “Thực hiện nguyên tắc y tế công cộng do ngân sách nhà nước bảo đảm là chủ yếu. Khám, chữa bệnh do BHYT và người dân chi trả. Chăm sóc sức khoẻ ban đầu do BHYT, người dân và ngân sách nhà nước cùng chi trả; BHYT đối với người lao động phải do người sử dụng lao động và người lao động cùng đóng góp; ngân sách nhà nước bảo đảm đối với một số đối tượng chính sách. Ban hành “Gói dịch vụ y tế cơ bản do BHYT chi trả” phù hợp với khả năng chi trả của quỹ BHYT và “Gói dịch vụ y tế cơ bản do Nhà nước chi trả” phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước; đồng thời huy động các nguồn lực để thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu, quản lý sức khoẻ người dân”. Nguyên tắc này cho thấy, Nhà nước chịu trách nhiệm chính về công tác y tế dự phòng, bảo đảm cơ bản ngân sách nhà nước cho các chương trình, dự án y tế công cộng. Các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế cơ sở, khám chữa bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế khác thực hiện cơ chế đồng chi trả: Nhà nước, BHYT, người sử dụng lao động, người dân và người lao động. Mặt khác, trong nguyên tắc này cũng thể hiện rất rõ cơ chế bảo đảm quyền lợi được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người tham gia BHYT dựa trên quy định các gói dịch vụ cơ bản để tạo sự thống nhất về số lượng và chất lượng dịch vụ y tế ở các tuyến, song vẫn gắn với khả năng tài chính của Nhà nước và của BHYT. Ngày 18/10/2017 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 39/2017/BYT quy định gói dịch vụ cơ bản cho tuyến y tế cơ sở gồm: Gói dịch vụ y tế cơ bản do Quỹ BHYT chi trả và Gói dịch vụ y tế cơ bản phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng và nâng cao sức khỏe để từng bước thực hiện nhiệm vụ giải pháp đổi mới tài chính y tế trong BHYT.
Nghị quyết số 20-NQ/TW không những nêu ra nguyên tắc cơ bản thực hiện cơ chế tài chính trong BHYT mà còn chỉ rõ mức bảo đảm tài chính của từng bên tham gia BHYT, đồng thời luôn nhấn mạnh đến khía cạnh giá hoặc chi phí dịch vụ y tế phù hợp với người dân nhằm bảo đảm phát triển BHYT bền vững và không làm cho người dân bị nghèo hóa do bệnh tật, khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ ở tuyến cơ sở góp phần giảm quá tải cho tuyến trên: “Ngân sách nhà nước, BHYT bảo đảm chi trả cho các dịch vụ ở mức cơ bản; người sử dụng dịch vụ chi trả cho phần vượt mức. Có cơ chế giá dịch vụ và cơ chế đồng chi trả phù hợp nhằm khuyến khích người dân khám, chữa bệnh ở tuyến dưới và các cơ sở y tế ở tuyến trên tập trung cung cấp các dịch vụ mà tuyến dưới chưa bảo đảm được”.
Trong thời gian qua chúng ta còn lúng túng trong việc chuyển đổi từ “ngân sách nhà nước” sang “xã hội hóa”; từ cơ chế phí dịch vụ sang giá dịch vụ, chuyển dần ngân sách cấp trực tiếp cho các bệnh viện sang hỗ trợ người dân tham gia BHYT gắn với lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế và đổi mới phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh, do vậy, Nghị quyết cũng đã đề cập đến việc: “Từng bước chuyển chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cấp trực tiếp cho cơ sở khám, chữa bệnh sang hỗ trợ người tham gia BHYT gắn với lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế. Nâng cao hiệu quả quỹ hỗ trợ khám, chữa bệnh cho người nghèo. Đẩy mạnh phương thức nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng và thực hiện cơ chế giá gắn với chất lượng dịch vụ, khuyến khích sử dụng dịch vụ y tế ở tuyến dưới”.
Để khắc phục tư tưởng trong Nhân dân đau ốm mới mua BHYT; ngân sách hỗ trợ đối tượng khó khăn còn thấp; chưa thực hiện nguyên tắc đóng, hưởng mà từ mức đóng đưa ra cơ chế hưởng, đồng thời chưa có các mức đóng, hưởng khác nhau để người dân lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế của mình và gia đình; chưa có quỹ dự phòng của BHYT; chưa có giải pháp, chế tài cụ thể đối với những người không tham gia BHYT và chống lạm dụng, trục lợi quỹ BHYT cũng như khắc phục các hạn chế, yếu kém trong quản lý BHYT Nghị quyết số 20-NQ/TW đã chỉ rõ phải: “Triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện BHYT toàn dân. Điều chỉnh mức đóng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, thu nhập của người dân và chất lượng dịch vụ. Đa dạng các gói BHYT. Tăng cường liên kết, hợp tác giữa BHYT xã hội với BHYT thương mại. Nâng cao năng lực, chất lượng giám định bảo hiểm y tế bảo đảm khách quan, minh bạch. Thực hiện các giải pháp đồng bộ chống lạm dụng, trục lợi, bảo đảm cân đối quỹ BHYT và quyền lợi của người tham gia BHYT, cơ sở y tế”.  
Chủ trương, đường lối của Đảng xuất phát từ nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách BHYT và BHYT toàn dân - con đường chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân tốt nhất trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách BHYT, BHYT toàn dân ngày càng được Đảng nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn. Từ chủ trương phát triển bảo hiểm khám, chữa bệnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, BHYT ra đời, ngày càng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội ở nước ta. Trải qua gần 30 năm xây dựng và phát triển, Đảng ta luôn bám sát thực tiễn, từ tổng kết thực tiễn để đề ra chủ trương, đường lối, quan điểm và các giải pháp đồng bộ thực hiện BHYT, tiến tới BHYT toàn dân. Nghị quyết số 20-NQ/TW được ban hành không chỉ có ý nghĩa to lớn trong việc tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới nói chung, mà còn là nền tảng tư tưởng và cơ sở vững chắc cho phát triển mạnh mẽ và bền vững BHYT ở nước ta trong thời gian tới bảo đảm cho mỗi người dân Việt Nam được thụ hưởng dịch vụ y tế công bằng, chất lượng và hiệu quả./.
GS-TS. Đào Văn Dũng

Tài liệu tham khảo chính:
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2017), Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
- Ban Cán sự đảng BHXH Việt Nam (2017), Nghị quyết số 96-NQ/BCSĐ ngày 24 tháng 8 năm 2017 về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác truyền thông BHXH, BHYT trong tình hình mới và Kế hoạch số 135-KH/BCSĐ ngày 12/10/2017 triển khai Nghị quyết 96.
- Bộ Y tế (2017), Thông tư số 39/2017/BYT, ngày 18/10/2017 quy định gói dịch vụ cơ bản cho tuyến y tế cơ sở gồm: Gói dịch vụ y tế cơ bản do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả và Gói dịch vụ y tế cơ bản phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng và nâng cao sức khỏe.
- Đào Văn Dũng (2017), “Thách thức và giải pháp phát triển y tế Việt Nam trong tình hình mới”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 333, kỳ 1, tháng 11/2017, tr 15-20.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội./.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam