Biện pháp An sinh xã hội bền vững lao động khu vực phi chính thức

09/03/2018 14:10:10
Theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), số lao động phi chính thức chiếm tỷ lệ lớn, bao gồm lao động làm việc trong nông nghiệp, nông thôn, lao động tự do, lao động trong kinh tế hộ gia đình, sản xuất kinh doanh cá thể; góp phần quan trọng vào an ninh lương thực quốc gia, sản xuất các sản phẩm hàng hóa phục vụ dân sinh và cho xuất khẩu, tạo nhiều việc làm cho người lao động, đóng góp khoảng 30% vào GDP của quốc gia.

Ảnh minh họa

Lao động phi chính thức chiếm trên 60% lực lượng lao động
Lao động phi chính thức là khu vực kinh tế mở ra sớm nhất, mạnh nhất và với tốc độ nhanh nhất khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới giữa thập niên 80 của thế kỷ trước. Đây cũng là khu vực kinh tế đóng vai trò quan trọng đưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua thời kỳ khó khăn đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Khu vực này còn thu hút nhiều lao động bị dôi dư, khi các doanh nghiệp Nhà nước tổ chức sắp xếp lại, đồng thời nó lấp được khoảng trống thiếu hụt về việc làm và thu nhập đối với một bộ phận lớn lao động khi nền kinh tế chuyển đổi. Với đặc thù là quy mô nhỏ, hoạt động linh hoạt, đòi hỏi ít vốn và các nguồn lực khác nên khu vực kinh tế phi chính thức đã đóng vai trò quan trọng trong những nỗ lực xóa đói, giảm nghèo ở nước ta. Đặc biệt, gần đây nhất, khi nền kinh tế Việt Nam chịu tác động chung của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính của thế giới, thì khu vực kinh tế phi chính thức đó chứng tỏ sự năng động của mình, thu hút hàng vạn lao động bị mất việc làm từ khu vực chính thức và nhờ vậy mà nó không tạo nên cú sốc về việc làm và thu nhập đối với xã hội.
 Nhận thức được vai trò quan trọng của khu vực kinh tế phi chính thức trong việc tạo việc làm, thu nhập và giảm nghèo nên trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế phi chính thức cũng như bảo vệ quyền lợi cho lực lượng lao động làm việc tại khu vực này. Với tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực kinh tế chính thức còn thấp như hiện nay thì trong những năm tới, khu vực kinh tế phi chính thức sẽ tiếp tục là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Bởi vậy, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tập trung vào những nội dung: ASXH, học nghề, an toàn vệ sinh lao động, tiếp cận thị trường,.. cho lao động làm việc ở khu vực kinh tế phi chính thức.
Lao động khu vực phi chính thức còn có những đặc điểm dễ nhận thấy khác như: việc làm bấp bênh, thiếu ổn định; không có hợp đồng lao động, thu nhập thấp (trung bình chỉ đạt 2,2-2,5 triệu/tháng), thời gian làm việc dài (bình quân 47,3 giờ/tuần, cao hơn so với mức bình quân là 43,8 giờ/tuần), doanh nghiệp trong khu vực này thường có quy mô rất nhỏ hoặc siêu nhỏ( từ 10 lao động trở xuống); không đăng ký kinh doanh, không đóng BHXH, BHYT, không chi trả các chế độ phụ cấp và các khoản phúc lợi xã hội khác cho người lao động… Những người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức thường quay vòng, luẩn quẩn trong đói nghèo; hạn chế về năng lực, kiến thức và vật chất khiến cơ hội hòa nhập xã hội để phát triển không có nhiều. Tuy nhiên, khu vực phi chính thức tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế - xã hội, chiếm một lực lượng lao động đông, năng động, dễ chuyển đổi, mặc dù đây là một khu vực dễ bị tổn thương. Do vậy, cần thiết nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng cường an sinh xã hội đối với khu vực này, mà trong đó trụ cột là chính sách BHXH.

Lao động phi chính thức tham gia BHXH còn hạn chế
Điều 34 Hiến pháp năm 2013 về quyền an sinh xã hội của công dân, đảm bảo an sinh cho mọi người dân, tuy nhiên đến nay lao động khu vực phi chính thức tiếp cận các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt chính sách BHXH – một biện pháp an sinh xã hội bền vững còn nhiều hạn chế.
Đến nay, sau hơn 10 năm thực hiện chính sách BHXH tự nguyện, tuy nhiên mới có khoảng gần 300 ngàn lao động tham gia, chỉ chiếm khoảng 0,6% tổng số lao động của khu vực phi chính thức và chiếm khoảng 0,4% tổng lực lượng lao động là một kết quả còn quá hạn chế.
Nghị quyết số 15 và Nghị quyết 21 về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với chính sách BHXH và BHYT đã khẳng định quan điểm: “Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển hệ thống BHXH, BHYT đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của Nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT” với mục tiêu cụ thể “Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH, BHYT; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, BHYT tự nguyện; thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân. Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BHTN; trên 80% dân số tham gia BHYT”, đồng thời các Nghị quyết cũng nêu rõ định hướng sửa đổi chính sách như sau: “Mở rộng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người tham gia các loại hình BHXH, BHYT, nhất là BHXH tự nguyện cho nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức; BHYT cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, nông dân, học sinh, sinh viên, đồng bào ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng núi.”
Với khoảng 18 triệu việc làm năm 2017 (chưa tính lao động khu vực nông nghiệp), quy mô lao động phi chính thức ở Việt Nam còn rất lớn và chưa có xu hướng giảm. Người lao động trong khu vực phi chính thức thường không có hợp đồng lao động, không có BHXH, không tham gia công đoàn, không có liên hệ nhiều với các khu vực khác của nền kinh tế và do đó không được sự bảo vệ của pháp luật lao động và an sinh xã hội. Vì vậy, thực hiện BHXH cho mọi người lao động nói chung và bản thân người lao động phi chính thức nói riêng được xem là mục tiêu vừa là giải pháp tích cực góp phần thực hiện công bằng xã hội trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo cho mọi người dân đều được tham gia và hưởng các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật.

BHXH là biện pháp an sinh xã hội bền vững
Nhìn chung BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. BHXH được coi là biện pháp an sinh xã hội (ASXH) bền vững vì những lý do sau:
Một là, nội dung của BHXH bao trùm phần lớn nội dung của chính sách an sinh xã hội, khi thực hiện đầy đủ các nội dung của BHXH coi như đã thực hiện được khuyến nghị của ILO. Ở Việt Nam hiện nay, các chế độ BHXH bao gồm: BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (đã tách ra bảo hiểm tai nạn lao động); Hưu trí; Tử tuất; BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: Hưu trí; Tử tuất. BHTN bao gồm các chế độ sau đây: Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ học nghề; Hỗ trợ tìm việc làm và BHYT.
Hai là, độ bao phủ và nguồn quỹ của BHXH là rất lớn là sự đảm bảo quan trọng nhất để khi người lao động do những lý do nhất định nào đó bị mất hoặc gảm nguồn thu nhập sẽ có nguồn nhu nhập thay thế, nói cách khác BHXH là lưới an sinh đầu tiên bảo vệ người lao động trước rủi ro về việc làm và thu nhập. Hơn nữa, BHXH không chỉ đảm bảo cuộc sống cho bản thân người lao động mà cả gia đình, thân nhân của người lao động, do đó đối tượng bảo vệ của BHXH chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống ASXH.
Uớc tính đến hết năm 2017, tổng số người tham gia BHXH là 13,811 triệu người, chiếm 25,2% lực lượng lao động (trong đó 13,9 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, 291 nghìn người tham gia BHXH tự nguyện); tham gia BHTN trên 11,4 triệu người. Giải quyết chế độ BHXH cho trên 9 triệu lượt người, trợ cấp BHTN hàng tháng cho trên 650 nghìn người lao động(1). Trong số hơn 11 triệu người cao tuổi cả nước (từ 60 tuổi trở lên), số người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH chiếm khoảng 27%, số người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên chiếm khoảng 14,5% (1,6 triệu người). Như vậy nếu không tính đến gần 1,4 triệu người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp hằng tháng thì có 58,9% người cao tuổi hiện không được nhận lương hưu, trợ giúp xã hội và phải làm việc để có thu nhập đảm bảo cuộc sống hoặc sống dựa vào mạng lưới an sinh xã hội phi chính thức (con cháu, gia đình, dòng họ...).
Ba là, BHXH là xương sống của hệ thống ASXH, bởi đây là cấu phần mà “chi” dựa trên cơ sở “thu”, quỹ BHXH do các bên đóng góp và được sử dụng để chi trả cho người lao động khi gặp biến cố hoặc rủi ro, quỹ BHXH được bảo tồn và phát triển có tính ổn định lâu dài – Đây là cơ sở vững chắc cho hệ thống BHXH tồn tại và phát triển, tạo ra sự khác biệt so với chính sách ASXH xã hội khác. Quỹ BHXH đảm bảo sự bền vững do được nhà nước bảo trợ sự bảo tồn và phát triển của Quỹ.
Bốn là, Chính sách BHXH cũng góp phần điều tiết các chính sách trong hệ thống ASXH. Hệ thống ASXH bao gồm nhiều bộ phận như BHXH, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội và các dịch vụ xã hội khác với đối tượng, phương thức hoạt động, nội dung hoạt động khác nhau, nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau do có cùng một mục tiêu là góp phần ổn định cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng mà trong đó mỗi đối tượng được thụ hưởng một chính sách nhất định. BHXH phát triển sẽ làm tăng đối tượng được thụ hưởng trong xã hội, như vậy nhà nước có điều kiện tập trung nguồn lực để trợ giúp những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như có nguồn lực để giải quyết các rủi ro khác trong xã hội.
Năm là, chính sách BHXH góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị - xã hội – nhân tố quan trọng đảm bảo ASXH lâu dài và bền vững. BHXH giúp người lao động yên tâm làm việc, có trách nhiệm trong công việc là nhân tố góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng tổng sản phẩm quốc dân. Hơn nữa, phần quỹ BHXH nhàn rỗi được đầu tư trở lại nền kinh tế, tăng nguồn vốn cho phát triển.
Sáu là, thông qua việc người sử dụng lao động tham gia BHXH cho người lao động, tạo lập mối quan hệ ổn định và gắn bó giữa người lao động với người sử dụng lao động, hạn chế được hiện tượng tranh chấp và mâu thuẫn giữa hai bên, góp phần ổn định xã hội. Đồng thời, chính sách BHXH thực hiện những mục tiêu nhất định mà Nhà nước đã đề ra sẽ góp phần ổn định nền chính trị quốc gia. Chính sách BHXH được thực hiện đối với các nhóm đối tượng sẽ đảm bảo tính công bằng trong chính sách BHXH và đảm bảo sự công bằng, chia sẻ trong thực hiện chính sách này.

Cần giải pháp đồng bộ
Để góp phần thực hiện mục tiêu thu hút 50% lực lượng lao động tham gia BHXH vào năm 2020, đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân theo tinh thần của Điều 34 Hiến pháp năm 2013 thì việc phát triển chính sách BHXH là rất cần thiết trong thời gian tới và cần tập trung vào các giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất, cần quyết liệt hơn nữa trong việc truyền thông sâu rộng về chính sách BHXH tự nguyện, tăng cường sự tham gia của các cấp các ngành, đoàn thể, đặc biệt là vai trò các hội, đoàn thể như: Hội nông dân, Liên minh hợp tác xã, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ.. để người dân biết được tính ưu việt, nhân văn của chính sách này, nắm được quy trình thủ tục tham gia và hưởng chế độ. Cần phải nhấn mạnh hơn nữa vai trò chủ động của ngành BHXH trong việc đẩy mạnh các hình thức truyền thông thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tập huấn, hội thảo và phối hợp với các ngành có liên quan. Cần thiết xây dựng đề án tăng cường hỗ trợ người dân tham gia BHXH tự nguyện thông qua việc tuyên truyền, cơ quan nhà nước có liên quan cần nghiên cứu dành nguồn kinh phí hàng năm thúc đẩy việc truyền thông chính sách BHXH tự nguyện để người dân biết tham gia.
Thứ hai, tiếp tục đơn giản các thủ tục hành chính trong các cơ quan cung cấp dịch vụ công, đặc biệt đối với ngành BHXH cần đảm bảo duy trì tốt việc giao dịch “một cửa”, ứng dụng tối đa công nghệ thông tin trong giao dịch hành chính, tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người lao động nói riêng và người dân nói chung.
Thứ ba, các ngành có liên quan như: Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, BHXH… cần nghiên cứu xây dựng đề án hỗ trợ người dân tham gia BHXH tự nguyện, trong đó cần tập trung vào các nội dung về tuyên truyền, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thực hiện, hỗ trợ đối tượng tham gia về phí đóng góp định kỳ.
Thứ tư, tăng cường hơn nữa việc nghiên cứu nhu cầu tham gia, đánh giá khả năng tham gia của người lao động nói riêng và người dân nói chung để tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách có liên quan ngày một phù hợp hơn và hấp dẫn người dân trong việc tham gia BHXH tự nguyện./.

Chú thích
1. Trong năm 2017 có 1.076 nghìn lượt người được tư vấn, hỗ trợ giải quyết việc làm và trên 33 nghìn lượt người được trợ cấp học nghề.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam