Châu Á: Tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp bất chấp khủng hoảng kinh tế

17/09/2020 12:39:41
Nhiều nền kinh tế châu Á đang phải hứng chịu những đợt lao dốc lịch sử. Điều đó thể hiện ở những chiếc máy bay đậu im lìm trên đường băng, những nhà ga trống trải, những khu thương mại trung tâm sầm uất một thời vắng bóng người và số lượng cửa tiệm đóng cửa ngày càng nhiều. Tuy nhiên, đáng ngạc nhiên, số liệu thất nghiệp của khu vực này lại không ảm đạm như vậy.

(Ảnh minh họa)

Ở một số nền kinh tế quan trọng nhất của Đông Nam Á, ví dụ Singapore và Malaysia, tỷ lệ thất nghiệp của các quốc gia này không quá 5%. Cụ thể là 2,9% ở Singapore và 4,9% ở Malaysia. Điều này dường như không phù hợp với mức độ nghiêm trọng của sự suy giảm kinh tế, khi mà tổng sản phẩm quốc nội của Singapore tăng 13,2% trong Quý II/2020 so với cùng kỳ năm trước, còn Malaysia giảm 17,1%. Vậy đâu là nguyên nhân sự chênh lệch này? Yếu tố chính, theo các chuyên gia kinh tế, là vai trò của Nhà nước.

Châu Á có đặc trưng là nơi đang được thụ hưởng các dòng vốn toàn cầu, thương mại tự do và đầu tư nước ngoài; tuy nhiên, việc này không che khuất được vai trò quan trọng của khu vực công, nhất là tại Trung Quốc và Việt Nam. Ở chiều ngược lại là Philippines, quyền lực của Nhà nước tác động lên kinh tế thấp hơn nhiều. Giữa hai thái cực này là một số quốc gia như Singapore, Malaysia - ở cả hai quốc gia, các cơ quan Chính phủ nắm giữ cổ phần trong nhiều công ty lớn nhất, Nhà nước là một bộ phận cấu thành của việc ấn định tiền lương, thường là người quyết định người lao động nào đượcký hợp đồng hay bị sa thải.

Tại Singapore, bảo vệ thị trường lao động là một phần quan trọng trong chuỗi phản ứng tích cực của Chính phủ đối với tác động đại dịch Covid-19. Có ít nhất 04 gói kích cầu mà Chính phủ đưa vào áp dụng, bao gồm chương trình trợ cấp tiền lương nhằm khuyến khích các chủ sử dụng lao động, nhà tuyển dụng giữ chân nhân viên càng lâu càng tốt. Nếu không có sự can thiệp này, số lượng lao động thất nghiệp chắc chắn sẽ tăng lên. Thế nhưng, trong một số trường hợp, Chính phủ không thể giữ được công việc cho tất  cả người lao động, ví dụ, Singapore Airlines Ltd. cho biết, sau nhiều nỗ lực hạn chế cắt giảm nhân sự, họ sẽ phải sa thải 4.300 người lao động trong tương lai gần.

Khi các công ty, doanh nghiệp xem xét việc sa thải, họ đương nhiên sẽ ưu tiên lao động bản xứ, làm nòng cốt cho lực lượng lao động của họ. Tuy nhiên, Chính phủ cho rằng thành công của kinh tế Singapore trước giờ dựa trên sự “mở cửa”, từ lâu đã thu hút nhiều công ty đa quốc gia và nhân tài toàn cầu, nên chăng các công ty, doanh nghiệp nên có chính sách thích hợp để giữ lại lao động nước ngoài chất lượng cao. Đặc thù của nền kinh tế có tác động lớn đến thị trường lao động, không chỉ từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, mà đã diễn ra trong một thời gian dài và đã được kiểm chứng trong những cuộc suy thoái kinh tế trước đây. Chính phủ Singapore luôn luôn hiểu rằng sự tồn tại của nền kinh tế quốc gia này có vững chắc hay không là tùy thuộc vào lực lượng lao động, cũng như sự cân bằng giữa chế độ lương bổng và sự đảm bảo việc làm.

Trong khi đó, ở Malaysia, luật pháp quy định người lao động bản xứ được ưu tiên trong quá trình tuyển dụng, thụ hưởng nền giáo dục và tỷ lệ đóng góp cổ phần công ty. Các tập đoàn, doanh nghiệp thuộc Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong kinh tế quốc gia. Petroliam Nasional Bhd. là một ví dụ điển hình. Tập đoàn dầu khí này được coi là “máy ATM”, mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho Malaysia trong nhiều thập kỷ; xây dựng Tháp đôi Petronas - Petronas Twin Towers, biểu tượng của Malaysia, cũng như Thủ đô hành chính Putrajaya. Cổ tức của Petronas cũng là cơ sở cho ngân sách quốc gia và chi trả một loạt các khoản trợ cấp cho người lao động.

Ngược lại, kinh tế Philippines gần giống với mô hình của Phương Tây. Nhà nước đóng vai trò nhỏ so với một số nước láng giềng. Do đó, việc kích thích tài chính để đối phó với tác động của Covid-19 bị hạn chế, tăng trưởng kinh tế ở mức giảm mạnh nhất từ ​​trước đến nay trong Quý II và tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên hai con số. Trong khi Singapore, Malaysia nỗ lực giữ tỷ lệ việc làm trong nước, thì Philippines từ lâu đã mạnh về xuất khẩu lao động, từ bảo mẫu, công nhân xây dựng đến các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, giáo viên. Những lao động xuất khẩu này giờ đây đang phải trở lại quê hương trên những “chuyến bay giải cứu” của Chính phủ, gia nhập đội quân thất nghiệp trong nước, đối mặt với tương lai bất ổn.

Như vậy, có thể nói, vai trò của khu vực công có thể coi là một “kho báu to lớn” trong thời suy thoái kinh tế. Xây dựng mạng lưới An sinh xã hội, bảo đảm đời sống cho người dân; phân bổ ngân sách và các chương trình hỗ trợ; đưa ra các quyết sách kinh tế phù hợp với lợi ích quốc gia và định hướng doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều này cũng không phải là lựa chọn duy nhất trong mọi thời kỳ, mọi quốc gia, nên nhớ tăng trưởng kinh tế của Philippines trong vài năm trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát bỏ xa Singapore, Malaysia. Mặt khác, sự ưu việt của khu vực công không có nghĩa là đã hạn chế được hoàn toàn ảnh hưởng của Covid-19 lên nền kinh tế. Trong nhiều thập kỷ qua, đa phần các quốc gia hướng đến việc phát triển khu vực tư, giảm bớt khu vực công và nới lỏng phương thức quản lý kinh tế - coi đây là “chìa khóa” của sự thịnh vượng. Covid-19 sẽ là “phép thử” hữu hiệu nhất, kiểm chứng mạnh mẽ nhất cho mô hình này.

Hoàng Tùng (Theo Bloomberg)

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam