Chi phí thuốc BHYT và những vấn đề đặt ra: Một số khuyến nghị nâng cao khả năng tiếp cận thuốc

29/01/2019 10:48:29
Với nguồn số liệu thứ cấp thu thập tại các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam và số liệu sơ cấp thu thập từ cuộc điều tra, nhóm nghiên cứu đã phân tích, tham khảo một số kết quả nghiên cứu khác của một số tác giả, dựa trên các bằng chứng khoa học, nhóm nghiên cứu đưa ra một số đánh giá cơ bản về thực trạng sử dụng chi phí thuốc với 03 nhóm bệnh phổ biến, có chi phí điều trị cao.

(Ảnh minh họa)

Với nhóm bệnh ung thư

Bình quân chi phí thuốc điều trị trong giai đoạn từ năm 2015 đến quý 3/2017 cho bệnh nhân ung thư có tỷ lệ dao động từ 5,6 đến 9,6% so với tổng chi phí tổng chi phí khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế của tất cả các nhóm bệnh nhân. Trong đó năm 2016 chiếm tỷ lệ cao nhất (9,6%), 9 tháng đầu năm 2017 có tỷ lệ chi phí thấp nhất (5,6%).

Chi phí cho thuốc điều trị ung thư có sự gia tăng, trong đó chi phí cho thuốc/ngày điều trị, tăng 1,4 lần (năm 2017: 426.523 đồng; năm 2016: 304.665,67 đồng). Tỷ lệ chi phí tiền thuốc/tổng chi phí của năm 2017 (59,4%) thấp hơn năm 2016 (54%) là 5,4% so với tổng chi phí;

Thuốc Paclitaxel trong cả hai năm 2015, 2016 và quý 1/2017 đều xếp ở vị trí cao nhất về tỷ lệ chi phí (14,12%; 12,84%; 10,69%);

Những thuốc điều trị ung thư có cơ chế cùng chi trả rất ít được lựa chọn sử dụng trong điều trị, theo đó chỉ có 1/3 số thuốc này nằm trong nhóm 10 thuốc có chi phí cao nhất, số còn lại nằm trong số thuốc có chi phí thấp nhất trong các nhóm thuốc ung thư. Chỉ có 30% số lượng thuốc điều trị ung thư có trong danh mục của Thông tư 40 là có chi phí từ 01% trở lên so với tổng chi phí của nhóm thuốc điều trị ung thư.

Số tiền trung bình chi trả cho thuốc/ngày điều trị của bệnh nhân ung thư gia tăng nhanh, năm 2017 tăng 139% so với năm 2016, cao gấp khoảng từ 2-2,5 lần so với chi phí điều trị trung bình của bệnh nhân nội trú khác.

Nhóm bệnh “U ác của phế quản và phổi” mã số ICD10 từ C34.0-C34.9 có tổng chi phí điều trị tại cơ sở y tế lớn nhất chiếm 16,76% tổng chi khám, chữa bệnh của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện.

Với bệnh thiếu máu

Thuốc điều trị bệnh thiếu máu có chi phí lớn nhất trong 10 loại thuốc, gồm: năm 2015 với thuốc “Sắt sufat (hay oxalat) + folic acid” (tỷ lệ 23,8%); năm 2016 và quý I/2017 thuốc “Sắt fumarat + acid folic” chiếm vị trí cao nhất (20,1%) tăng 0,2% so với năm 2015 và 9% so với 2016.

Chi phí trung bình tiền thuốc/ ngày cho điều trị bệnh 09 tháng đầu năm 2017 là 426.691,77 đồng, tăng 3,7 lần so với chi phí trung bình tiền thuốc/ngày cho điều trị 9 tháng đầu năm 2016 (112.897,77 đồng). Tương tự số chi trung bình/ngày điều trị năm 2017 cũng tăng hơn năm 2016 2,73 lần. Có thể nói có sự gia tăng chi phí cho thuốc trong điều trị bệnh thiếu máu trong nhóm bệnh nhân có thẻ BHYT.

Tỷ lệ chi cho máu/tổng chi phí khám, chữa bệnh chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi phí, năm 2016 là 26,29% và năm 2017 là 22,06%;

Tỷ lệ chi cho thuốc/tổng chi khám, chữa bệnh trong 09 tháng đầu năm 2017 chiếm 37,79% cao hơn xấp xỉ 10% so với tỷ lệ chi cho thuốc/tổng chi khám, chữa bệnh 9 tháng đầu năm 2016 (27,53%).

Tỷ lệ thanh toán của quỹ khám, chữa bệnh BHYT/tổng chi khám, chữa bệnh của bệnh nhân 09 tháng đầu năm 2016 và 2017 đều trên 93% và tỷ lệ tiền bệnh nhân cùng chi trả/ tổng chi khám, chữa bệnh dưới 6,7%.

Với bệnh Viêm khớp dạng thấp

Trong 03 năm 2015, 2016, và quý I/2017 thuốc chiếm tỷ lệ chi phí lớn nhất, gồm: năm 2015 thuốc “Rituximab” (34,86%); năm 2016 là thuốc “Meloxicam” chiếm 31,7% tổng chi phí chung cho thuốc năm 2016; trong 03 tháng đầu năm 2017 thuốc Rituximab có chi phí lớn nhất (38,91%);

Một số thuốc có cơ chế cùng chi trả lại có tỷ lệ chi phí thấp nhất (Etanercept, Infliximab, Tocilizumab). Vấn đề này cho thấy mặc dù những thuốc này là loại thuốc được đánh giá có hiệu quả cao trong điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp nhưng sự tiếp cận của bệnh nhân đến những thuốc này còn nhiều hạn chế.

Chi phí trung bình cho một ngày điều trị 09 tháng đầu năm 2016 thấp hơn (41,4%) so với 09 tháng đầu năm 2017;

Chi phí trung bình cho một ngày thuốc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp của năm 2017 tăng hơn năm 2016 khoảng 13,1%.

Trường hợp bệnh “các viêm khớp khác” mã số ICD10 M13 có tần suất vào điều trị nội trú cao nhất trong 09 tháng đầu năm của năm 2016 và 9 tháng đầu năm 2017;

Trong 9 tháng đầu năm 2016 trường hợp bệnh “các viêm khớp khác” mã số ICD10 M13 có tổng chi phí khám, chữa bệnh và tần suất vào điều trị nội trú đều xếp vị trí cao nhất. Trong khi đó 09 tháng đầu năm 2017, tần suất vào điều trị nội trú cao nhất là trường hợp bệnh “Các viêm khớp khác” mã số ICD10 M13;

Một số yếu tố liên quan đến chi phí điều trị ung thư, viêm khớp dạng thấp và thiếu máu

Phương pháp hóa trị là phương pháp điều trị phổ biến (36,30%), chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là phẫu thuật chiếm khoảng ¼ bệnh nhân, xạ trị chiếm 11,10%. Có 741/997 người bệnh được điều trị cả 04 phương pháp, trong đó những bệnh nhân mắc nhóm bệnh ung thư vú được điều trị cả 04 phương pháp chiếm tỷ lệ cao nhất (31%), tiếp theo là nhóm bệnh ung thư phổi. Nhóm bệnh về ung thư gan có tỷ lệ điều trị cả 04 phương pháp thấp nhất (6,2%).

Bệnh nhân ung thư được cung ứng thuốc đầy đủ và kịp thời trong điều trị, chiếm tỷ lệ 88,9%.

Có 52% số ý kiến trả lời cho biết phải mua thêm thuốc điều trị đặc hiệu và chiếm tỷ lệ cao nhất. Nhóm bệnh ung thư vú chiếm tỷ lệ cao nhất trong những bệnh nhân phải mua thêm thuốc điều trị (41,5%), trong đó có 63,9% cho biết phải mua thuốc điều trị đặc hiệu.

Có 55,02% bệnh nhân cho biết là không biết loại thuốc mình phải mua có tác dụng gì trong điều trị.

Chi phí trung cho một đợt điều trị của bệnh nhân đang điều trị các nhóm bệnh ung thư cho thấy nhóm có chi phí từ 6 triệu -10 triệu đồng/đợt điều trị chiếm tỷ lệ cao nhất (25,3%). Theo sau đó là chi phí từ 6 triệu -10 triệu đồng/đợt.

Một số khuyến nghị

  • Với Bộ Y tế

Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung chính sách về thuốc và giá thuốc đối với nhóm thuốc điều trị ung thư, phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam cũng như thu nhập của người dân;

Nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện danh mục thuốc điều trị bệnh ung thư, bệnh viêm khớp dạng thấp, bệnh thiếu máu, theo hướng nên đưa vào danh mục những loại thuốc cần cho điều trị những bệnh hiểm nghèo, chi phí đắt tiền được quỹ khám, chữa bệnh BHYT thanh toán 100%. Những loại thuốc chi phí cho những bệnh thông thường, được chỉ định rộng rãi nên quy định cùng chi trả. Có như vậy mới phát huy được tính nhân đạo, nhân văn của quỹ khám, chữa bệnh BHYT, đồng thời tác động tích cực đến việc cân đối quỹ khám, chữa bệnh BHYT có thể cân đối được.

  • Với BHXH Việt Nam

Nâng cao chất lượng trong phối hợp quản lý giá thuốc, trong đó cần thực hiện tốt hơn nữa công tác đấu thầu, đặc biệt là các thuốc điều trị các bệnh hiểm nghèo, nhằm tạo điều kiện cho mọi người bệnh được tiếp cận với thuốc điều trị có hiệu quả cao.

Có những nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả trong điều trị bệnh ung thư của một số thuốc hiện đang thực hiện cùng chi trả để kiến nghị với Bộ Y tế sửa đổi bổ sung vào danh mục thuốc được chi trả 100% hoặc giảm mức chi trả đối với loại thuốc hiệu quả điều trị không rõ ràng. Đồng thời nghiên cứu đề xuất một số thuốc điều trị nội trú các bệnh thông thường đưa vào danh mục cùng chi trả.

  • Với các hãng dược phẩm

Nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất, phân phối lưu thông làm giảm giá thành các loại thuốc, đặc biệt là thuốc điều trị bệnh ung thư;

Phối hợp, tiếp tục có nghiên cứu đánh giá hiệu quả một số thuốc mới, thuốc hiện đang thực hiện cùng chi trả để có bằng chứng khoa học cho những khuyến cáo với Bộ Y tế, BHXH Việt Nam trong việc xây dựng, ban hành chính sách về giá và hỗ trợ giá trong điều trị nhằm giúp cho bệnh nhân có điều kiện được thụ hưởng thành tựu khoa học trong công cuộc đấu tranh với bệnh tật, đặc biệt là căn bệnh ung thư ở Việt Nam./.

TS BS. Lưu Viết Tĩnh

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam