Chính sách bảo đảm tuổi già ở châu Âu

08/05/2018 09:07:11
Để có cơ sở thực tế cho việc tiến hành cải cách BHXH ở nước ta trong giai đoạn tới, xin được giới thiệu đến bạn đọc về tài liệu dịch từ báo cáo của TS. Herbert Rische – Chủ tịch Cơ quan bảo hiểm hưu trí Liên bang Đức tại cuộc hội thảo “Trao đổi về việc cải cách hệ thống bảo đảm tuổi già của các nước ở châu Âu”, so sánh về các chính sách của một số quốc gia điển hình trong đó có chế độ BHXH hưu trí.

Xu hướng phát triển trong các chính sách cải cách quốc gia
Để so sánh các chính sách bảo đảm tuổi già ở châu Âu trước hết phải phân tích từng bước cải cách cụ thể về quyền lợi, những nội dung ngoài tính đa dạng và khác biệt của hệ thống như đã được trình bày. Sự cần thiết phải điều chỉnh hệ thống hưu trí trong khuôn khổ của sự thay đổi điều kiện về dân số và một phần tác động mạnh mẽ của khủng hoảng đã buộc các nước ở châu Âu phải điều chỉnh được so sánh như “điều chỉnh vít” để giữ vững hệ thống bảo đảm tuổi già của quốc gia mình.
Nâng giới hạn tuổi nghỉ hưu
Phần lớn các nhà nước ở châu Âu khi nâng tuổi nghỉ hưu (tăng giới hạn tuổi nghỉ hưu theo quy định của Luật) cũng như kéo dài từng phần thời hạn bước vào tuổi nghỉ hưu theo một lộ trình. Ở một số quốc gia đã nâng tuổi nghỉ hưu lên 65 ví dụ như Hunggari, Litauen và Bulgarien. Một loạt các nước khác lại nâng tuổi nghỉ hưu lên 67 như Đức, Italia, Đan Mạch, Ba Lan và Hà Lan. Nước Anh và Irơlen đã quyết định nâng tuổi nghỉ hưu lên 68. Nhưng nguồn việc làm cho lao động cao tuổi lại chưa được xem xét đến.
Ở Thụy Điển đã đặt ra sự linh hoạt về tuổi nghỉ hưu từ 61 đến 67. Mỗi một năm sau tuổi 65 sẽ nâng dần các yếu tố khác nhau làm tăng lương hưu có liên quan đến đóng góp. Ngược lại nếu nghỉ hưu ở tuổi trước 65 sẽ bị giảm đi lương hưu một cách tương ứng. Ở Phần Lan thì tuổi già nhận lương hưu theo Luật có liên quan đến thu nhập đóng góp trước đó được tạo ra trong một hành lang từ 63 đến 68 tuổi.
Ở Pháp giới hạn tuổi nghỉ hưu theo Luật tới năm 2017 từ mức 60,4 tuổi lên 62 tuổi. Điều kiện để được hưởng mức lương hưu đầy đủ từ đủ tuổi giới hạn nghỉ hưu theo Luật là phải có thời gian tham gia đóng BHXH nhất định, thời gian đó theo số liệu cập nhật sau khi cải cách là từ 41,5 năm lên mức 45 năm. Nếu thời gian đóng góp BHXH tối thiểu không đủ thì có thể người nghỉ hưu được hưởng lương hưu đầy đủ trước hết phải là những người từ 65 đến 67 tuổi. Việc nâng điều kiện về thời gian đóng BHXH cần thiết sẽ tạo động lực nhằm hạn chế việc nghỉ hưu trước tuổi.
7 nước khác là Đan Mạch, Tây Ban Nha, Italia, Hà Lan, Hy Lạp, Sip và Slowakia lại gắn liền tuổi nghỉ hưu theo Luật với việc tăng tuổi thọ. Ví dụ, ở Đan Mạch từ năm 2030 cứ 5 năm lại điều chỉnh giới hạn tuổi nghỉ hưu theo Luật với mức tăng của tuổi thọ. Ở Hà Lan, từ năm 2020 giới hạn tuổi nghỉ hưu được điều chỉnh hàng năm cho phù hợp.
Ở Cộng hòa Tschech đã đưa ra lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu đối với Nam từ mức tuổi hiện hành là 62,5 tuổi thì cứ mỗi năm tuổi tiếp theo tính theo năm sinh sẽ tăng lên 2 tháng. Đối với Nữ lại đưa ra lộ trình điều chỉnh theo các bậc khác nhau. Giới hạn tuổi nghỉ hưu được thực hiện thống nhất cho cả Nam và Nữ ở tuổi 67 đối với những người sinh ra vào năm 1977. Đồng thời đối với những người có năm sinh sau năm đó thì giới hạn tuổi nghỉ hưu sẽ tăng lên mỗi năm là hai tháng và không có giới hạn trên.
Hạn chế việc về hưu sớm.
Một giải pháp tối ưu tiếp theo trong chính sách bảo đảm tuổi già là phải xem xét đến lỗ hổng giữa tuổi nghỉ hưu thực tế và giới hạn tuổi nghỉ hưu theo Luật. Vấn đề cơ bản ở đây là các biện pháp nhằm hạn chế và xóa bỏ việc về hưu trước tuổi. Một số nước trong cải cách đã thay đổi các điều kiện khác nhau về Luật đối với lương hưu cho người tàn tật và tăng thêm số lượng thời gian đóng góp BHXH cần thiết liên quan đến việc hưởng lương hưu trước tuổi.
Nếu người nghỉ hưởng lương hưu trước khi đạt được theo quy định giới hạn về tuổi nghỉ hưu thì sẽ thực hiện theo nguyên tắc giảm mức lương hưu. Ngược lại sẽ có sự bổ sung lương hưu nhằm khuyến khích những người còn tiếp tục làm việc sau khi đã vượt qua giới hạn tuổi nghỉ hưu theo Luật hoặc phối hợp giữa lương hưu tăng thêm với thu nhập từ lao động. Trong sự phối hợp này đòi hỏi Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng, những doanh nghiệp đã tạo ra nhiều khả năng để giữ lại người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu được tiếp tục làm việc.
Tăng cường nguyên tắc bảo hiểm
Nhiều nội dung cải cách đã thực hiện đầy đủ hơn nguyên tắc của bảo hiểm mà ở đó có sự kết nối chặt chẽ hơn về mức quyền lợi được hưởng tăng lên phải nhờ vào sự tăng thêm về thời gian đóng BHXH và nâng mức tiền đóng BHXH. Ở đây, việc thực hiện đối với hệ thống hưu trí có đóng góp từ thu nhập hiện nay không còn căn cứ vào những năm cuối đóng bảo hiểm hoặc dựa vào số lượng nhất định “những năm tốt nhất” để làm căn cứ tính lương hưu mà, ví dụ như ở Đức phải căn cứ vào toàn bộ quá trình đóng BHXH để tính toán lương hưu – cũng tương tự như ở Italia và Thụy Điển. Ở một số nước khác thì việc tính lương hưu căn cứ vào những năm cuối hoặc những năm có đóng góp tốt nhất đã được kéo dài khoảng thời gian này ra. Một hướng điều chỉnh khác, ví dụ như ở Đức, thời gian không có nghĩa vụ đóng BHXH nhưng được tính vào lương hưu (ví dụ như thời gian phụ nữ chăm sóc con sau khi sinh có thể lên tới 3 năm) đã bị thu hẹp lại.
Thay đổi cách tính lương hưu và điều chỉnh lương hưu
Việc thay đổi phần lớn về cách tính lương hưu và điều chỉnh lương hưu đã có từ lâu. Một loạt các các nước thành viên đã tiến hành “các yếu tố bền vững” hoặc các biến số tương tự, ví dụ như Phần Lan và Thụy Điển. Ở Phần Lan, người ta đã đưa “ hệ số tuổi thọ” vào cách tính toán mức lương hưu ngay từ khi bắt đầu đối với những người nghỉ hưu từ tuổi 62 về khoảng cách tuổi thọ tăng lên trong tương lai. Ở Thụy Điển thì khi tuổi thọ tăng lên sẽ giảm đi mức lương hưu ngay từ khi bắt đầu nhận lương hưu. Hiệu quả của biện pháp này theo nguyên tắc sẽ liên kết với việc đẩy lùi việc về hưu trước tuổi.
Việc điều chỉnh lương hưu lại đặt ra cho một loạt các nước không chỉ hạn chế việc tăng lương hưu mà còn phải hạn chế việc tăng giá cả sinh hoạt và các chi phí đảm bảo cuộc sống hoặc vận dụng một cách hỗn hợp các yếu tố điều chỉnh khác nhau. Một phần vì việc tăng điều chỉnh luôn bị giới hạn bởi các quy định đã được thay đổi, ví dụ như ở Luxemburg hoặc Cộng hòa Tschech. Ở Pháp liên quan đến hệ thống hưu trí bổ sung bắt buộc với các đối tác xã hội đã thỏa thuận điều chỉnh giảm 1 điểm phần trăm dưới tỷ lệ lạm phát cho giai đoạn từ 2013 đến 2015.
Mở rộng sự bảo đảm mức sống tối thiểu
Nhiều Nhà nước thực hiện biện pháp phòng ngừa nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho tuổi già. Hệ thống này được quy định theo các hình thức khác nhau: Trong phạm vị hệ thống hưu trí thì mức hưu trí tối thiểu cũng như tăng thêm mức lương hưu – ví dụ như ở Áo, Pháp và Bỉ - hoặc căn cứ vào thời gian đã sống ở quốc gia mà kết nối với mức hưu trí cơ bản – như ở Đan Mạch và Hà Lan để phân biệt. Ở các nước khác như Đức đã tạo dựng lên một hệ thống cứu trợ đặc biệt với các quyền lợi phụ thuộc vào mức độ khó khăn của người già cả.
Ví dụ, ở Áo đã đặt ra yêu cầu bổ sung cân bằng từ nguồn thuế nếu số thu nhập toàn bộ ở một mức nhất định mà không đạt được – hiện nay là 833 Euro cho người sống độc thân. Trong hệ thống chung ở Pháp đã đặt ra mức hưu trí tối thiểu cho những người đã có thời gian dài tham gia BHXH (tới khoảng 687 Euro), và mức trợ cấp tuổi già tối thiểu được trả từ nguồn thuế cũng được tăng lên theo mức độ nghèo khó – đối với người sống độc thân, mức cao nhất khoảng 787 Euro. Ở Hy Lạp theo chương trình cải cách bao trùm từ năm 2015 bên cạnh chế độ hưu trí gắn kết với đóng góp từ thu nhập đã tiến hành một mức lương hưu cơ bản gắn với nguồn tài chính từ thuế, có kiểm tra mức độ nghèo khó và thời gian đã sống ở Hy Lạp của người nhận trợ cấp.
Tăng cường hệ thống quỹ dự phòng chăm lo tuổi già
Song song với việc thu hẹp quyền lợi của các hệ thống tài chính tọa thu – tọa chi thì đã có nhiều nước châu Âu đã lập mới hoặc mở rộng hệ thống tài chính lập quỹ đầu tư bổ sung. Những hệ thống này hoặc là bắt buộc hoặc là được đề cập đến ở các hệ thống tư nhân, tự nguyện được yêu cầu từ nguồn thuế - như ở Đức đã thực hiện hệ thống “hưu trí vá thêm”.
Từ năm 2013, ví dụ như ở Cộng hòa Tschech, những người đã tham gia bảo hiểm hưu trí của nhà nước theo phương thức tài chính tọa thu – tọa chi có thể chuyển một phần đóng góp vào quỹ hưu trí tư nhân theo phương thức tài chính lập quỹ đầu tư. Việc quyết định chuyển đổi một phần đóng góp từ chế độ hưu trí nhà nước sang các quỹ hưu trí tư nhân là tự nguyện, nhưng không được làm ngược lại. Từ đó, đương nhiên mức lương hưu từ hệ thống tài chính tọa thu-tọa chi sẽ bị giảm đi. Mặt khác, người đó cũng sẽ nhận thêm phần lương hưu từ quỹ hưu trí được đầu tư.
Tuy nhiên, các mô hình cải cách đa dạng ở nhiều nước đến nay đã được rút lại. Ở Hunggari ngay từ năm 1998 theo lời khuyên của Ngân hàng thế giới đã tạo ra hệ thống đa trụ cột trong đó trụ cột nhà nước theo phương thức tài chính tọa thu – tọa chi, tiếp theo là hệ thống hưu trí bắt buộc theo phương thức tài chính lập quỹ tồn tích từ nghĩa vụ đóng góp là trụ cột thứ hai và trụ cột thứ ba theo hình thức tự nguyện. Tuy nhiên, hệ thống bắt buộc theo phương thức tài chính lập quỹ sau đó đã phải nhà nước hóa (chuyển giao sang nhà nước quản lý) nhằm làm giảm đi những thiếu hụt về ngân sách.
Cũng như vậy, ở Ba Lan với sự cải cách từ năm 1999 đã tiến hành bổ sung cho hệ thống bảo hiểm hưu trí nhà nước theo phương thức tài chính tọa thu – tọa chi một hệ thống bảo đảm tuổi già bắt buộc theo phương thức tài chính lập quỹ theo dạng quỹ hưu trí. Vì phần đóng góp cho sự bảo đảm tuổi già theo hình thức lập quỹ phải tách ra từ đóng góp chung cho hưu trí đã đưa bảo hiểm hưu trí nhà nước đến sự sai lệch về tài chính. Từ đó người ta đã phải suy nghĩ lại và chuyển giao nguồn tài sản từ quỹ hưu trí vào hệ thống bảo hiểm hưu trí nhà nước.
Nhắc đến những nội dung liên quan đến hình thức cải cách này, ở một số nước như Italia, Thụy Điển và Ba Lan từ giữa những năm 1990 đã tiến hành hệ thống BHXH dựa trên việc tư bản hóa giả định – vốn giả định (NDC- Notional Defined Contribution). Hệ thống này kết nối phương thức tài chính tọa thu-tọa chi với việc tính toán quyền lợi theo nguyên tắc của phương thức tài chính lập quỹ đầu tư. Ví dụ, trong trường hợp ở Italia, hàng năm nguồn vốn giả định luôn phù hợp với thu từ đóng góp phù hợp với sự tăng bình quân của Tổng sản phẩm quốc nội được điều chỉnh theo 5 năm cuối. Nguồn vốn giả định này sẽ được trả dần khi nghỉ hưu với mức lương hưu dựa trên sự kéo dài tuổi thọ theo nguyên tắc toán bảo hiểm./.
(Kỳ tới “Sự phát triển và cải cách ở các nước”)

TS. Phạm Đình Thành
Viện khoa học BHXH, BHXH việt nam

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam