Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thương binh, liệt sĩ

12/02/2014 00:41:27

Trên nền lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, đến giữa thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX, dân tộc ta phải đương đầu với những tên đế quốc to, những kẻ thù hung hãn, tàn bạo nhất của nhân loại, giành thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đưa cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cuộc chiến đấu ấy, quân và dân ta đã không tiếc máu xương, với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhiều người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân hoặc hy sinh một phần xương máu của mình cho sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự hy sinh vì nước, vì dân của các chiến sĩ ta là vô cùng cao quý. Tổ quốc mãi mãi ghi công, nhân dân đời đời biết ơn và tưởng nhớ. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn liệt sĩ”.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở nhận thức sâu sắc truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” là đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta, Người đã cùng với Đảng ta ra sức thực hiện công tác thương binh- liệt sĩ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Từ “Thư gửi các chiến sĩ Nam Bộ và Nam phần Trung Bộ” (12.1945) đến Di chúc, hầu như năm nào Bác Hồ cũng có thư gửi cho anh em thương binh và bệnh binh, cho các gia đình liệt sĩ, nhất là vào dịp Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7). Đồng thời, Bác Hồ còn có nhiều bài phát biểu quan trọng về thương binh, liệt sĩ trong nhiều dịp khác, như trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng (7/1/1947), thư gửi các Hội mẹ chiến sĩ liên khu bốn (5/1949), Diễn từ đọc trong buổi lễ đặt vòng hoa ở Đài liệt sĩ (31/12/1954), Bài nói chuyện trong buổi lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (5/1/1960),v.v.. Những bài viết, bài nói (khoảng trên 50 bài) và nhiều cử chỉ cao đẹp khác chứa đựng những tình cảm chân thành, sâu sắc đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.

Trước hết, Bác Hồ cho ta một nhận thức ngắn gọn, đầy đủ, chứa đựng những tình cảm sâu sắc nhất về thương binh: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt”. Tình cảm của Bác đậm nét trong từng câu, từng chữ, từng ý, từng lời: “Cách mấy ngày trước, họ là những thanh niên lành mạnh, vui vẻ, oanh liệt. Trải qua những ngày ăn gió nằm sương, những trận mưa bom, bão đạn, họ bị tay què chân cụt, họ hóa ra thương binh. Họ đã hy sinh cho ai? Cách mấy ngày trước bố mẹ họ nhận được tin tức, đang mong cho đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, họ sẽ trở lại quê hương, một nhà đoàn tụ. Ngày nay bố mẹ họ đã mất một người con yêu quý. Vợ trẻ thơ trở nên bà hóa. Con dại trở nên bồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Họ đã hy sinh cho ai? Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, đã hy sinh cho đồng bào” (Lời kêu gọi nhân ngày 27/7/1948). Hồ Chí Minh coi những con người đó là anh hùng, làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, vật chất họ mất nhưng tinh thần họ sẽ luôn sống với non sông Việt Nam. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên họ.

Để bù lại một phần mất mát, đau thương của thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, Bác Hồ nêu rõ bổn phận của mọi người đối với công tác thương binh, liệt sĩ : “Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Theo Người, mỗi năm đến "Ngày Thương binh, tử sĩ" (27/7), nhân dân có dịp tỏ lòng biết ơn những chiến sĩ đã hy sinh xương máu cho Tổ quốc, cho đồng bào. Sự giúp đỡ phải bao gồm cả vật chấttinh thần trên cơ sở nhận thức “tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh. Mà lòng bác ái của đồng bào cũng vô hạn”. Vì vậy, sự giúp đỡ là “trước, sau như mộtsẵn sàng giúp đỡ mãi”. Công tác thương binh- liệt sĩ phải được nhận thức là nghĩa vụ, trở thành một phong trào sâu rộng, gắn liền với trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể phụ nữ, thanh niên, nhi đồng, các giới và các tầng lớp đồng bào . Đây không phải là việc “làm phúc” theo “thời vụ”, giúp một thời gian, mà phải “giúp lâu dài”. Ngày 27.7.1950, trong Thư gửi Ban Tổ chức Trung ương Ngày Thương binh , Bác viết: “Ngày 27 tháng 7 là một ngày kỷ niệm. Mỗi năm đến ngày ấy, thì những người ái quốc Việt Nam càng tưởng nhớ đến anh em thương binh,, tưởng nhớ đến các gia đình tử sĩ, tưởng nhớ đến những người vô danh anh hùng, họ đã góp phần xương máu cho cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta. Càng tưởng nhớ đến những con người dũng cảm của Tổ quốc, thì mọi người càng phải thêm hăng hái thi đua làm tròn nhiệm vụ... Năm nay Chính phủ không mở lạc quyên cho ngày ấy. Nhưng tôi mong rằng các đoàn thể văn hóa, công nhân, nông dân, phụ nữ, nhi đồng và các bộ đội hoặc đến an ủi thương binh và gia đinh tử sĩ, hoặc viết thư hỏi thăm, ai sẵn quà gì thì biếu quà ấy để tỏ lòng thương mến”.

Trong công tác thương binh - liệt sĩ, một vấn đề quan trọng đặt ra là "phải noi theo gương anh dũng, gương chí công vô tư của thương binh, liệt sĩ". Trong buổi lễ kỷ niệm ba mươi năm ngày thành lập Đảng ( 5.1.1960), Bác nói: "Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ, và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”./.

Trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giám đốc Y tế Bắc Bộ (7/1/1947), từ đáy lòng, Bác Hồ tâm sự: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên, thì hình như tôi mất một đoạn ruột”. Vì vậy, Người không chỉ kêu gọi đồng bào quan tâm tới thương binh, mà chính Người là tấm gương sáng, nói đi đôi với làm, xung phong gương mẫu thực hiện nhiệm vụ đó một cách thiết thực, để toàn dân noi theo một cách tự nguyện. Bắt đầu từ ngày thương binh toàn quốc lần thứ nhất (7/1947), Người đã “xin xung phong gửi 1 chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, 1 tháng lương của tôi, 1 bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng. Từ đó trở đi, nhiều năm tiếp theo, cùng với việc gửi thư với những lời thân ái, trân trọng thăm hỏi ân cần, Người tiếp tục gửi tiền lương và các thứ đồ dùng khác như khăn mặt, quần áo... mà đồng bào các nơi đã biếu Người để góp vào quỹ, làm quà cho anh em thương binh. Đó là những việc làm hợp với đạo lý làm người của con người Việt Nam, nên nhanh chóng trở thành phong trào sâu rộng, mang lại những kết quả tốt đẹp trong quần chúng nhân dân.

Là một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một lãnh tụ của Đảng và dân tộc, suốt đời đấu tranh không mệt mỏi cho nền độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh trước sau như một luôn luôn trân trọng tâm linh của con người, một nét văn hoá mang giá trị trường tồn trong đời sống của con dân nước Việt. Hơn một lần, Người nhắc đến bàn thờ linh thiêng của tổ tiên, đến việc thắp hương vào những tiết đầu xuân, đầu thu, đến việc mở hương án dâng hoa quả đầu mùa. Sâu thẳm tận đáy lòng, mỗi khi đứng trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ, Bác Hồ lại “kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc; kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ. Người mong mọi người lập nhiều công làm cho rạng danh và đền bồi công ơn của các bà mẹ chiến sĩ. Những việc làm đó thật hiếm hoi trong hàng ngũ các lãnh tụ cách mạng cộng sản. Chính Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho việc ghi nhận danh hiệu vẻ vang Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, công tác thương binh - liệt sĩ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Mỗi người Việt Nam yêu nước phải biết ơn, thương yêu và giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Chính điều này sẽ có tác động tích cực trở lại, làm cho mỗi thương binh“những người tàn nhưng không phế ”nhận rõ trách nhiệm, thái độ của mình đối với nhân dân, với đất nước. Bác căn dặn anh em thương binh phải biết ơn sự chăm sóc của đồng bào; "phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân; phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật. Chớ bi quan, chán nản, phải luôn luôn cố gắng. Đã là quân nhân cách mạng thì bao giờ cũng phải là chiến sĩ anh dũng. Nghĩa là mọi lúc, mọi nơi, lúc ở trại cũng như lúc ra trại, về sản xuất nông nghiệp hay làm ở công sở, nhà máy... đều phải hăng hái tham gia. Đặc biệt là phải giữ gìn kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giữa anh em thương binh với nhau, giữa thương bệnh binh với cán bộ, nhân viên ở trại, giữa thương bệnh binh với đồng bào; giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của quân đội cách mạng.

    Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, một lãnh tụ nặng lòng thương yêu con người, Bác Hồ luôn quý trọng và nâng niu lao động của con người, đặc biệt là lao động của thương binh. Người không bỏ qua bất kỳ một thành tích nào, dù nhỏ, của anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ. Người có những hình thức biểu dương, khen ngợi, động viên kịp thời những điển hình rất tốt. Bởi vì điều đó “chứng tỏ rằng anh em thương binh đã tiếp tục và phát triển truyền thống anh dũng trong thời kỳ kháng chiến vào trong công cuộc xây dựng hòa bình, và các gia đình liệt sĩ cũng cố gắng để góp phần vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, xây dựng CNXH”. Bác cũng nhắc các cơ quan, đoàn thể chấp hành chu đáo chính sách của Đảng và Chính phủ đối với thương binh và liệt sĩ để anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ được ổn định hơn nữa trong công tác và đời sống.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa gần 40 năm. Thực hiện lời dặn lại của Người trong Di chúc thiêng liêng: “Đầu tiên là công việc đối với con người”, đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình; đối với các liệt sĩ; đối với cha mẹ, vợ con của thương binh và liệt sĩ, Đảng và Chính phủ đã ra sức thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ với một tinh thần nhân văn và ý thức trách nhiệm cao trên một quy mô rộng lớn. Qua 20 năm đổi mới, chúng ta đã có nhiều việc làm thiết thực hướng về cội nguồn, về cách mạng và kháng chiến, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, quý trọng các danh nhân văn hóa, đền ơn đáp nghĩa những người có công như “chăm nuôi các Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; “xây dựng nhà tình nghĩa”; “Tặng sổ tiết kiệm”v.v.. Việc thực hiện các phong trào quần chúng như “Uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, “Xóa đói giảm nghèo”... trong sự nghiệp đổi mới là sự trở lại đích thực, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh - liệt sĩ. Làm tốt những công việc này trong tình hình mới là tỏ lòng tôn kính Bác Hồ, đồng thời thể hiện truyền thống văn hoá và thái độ nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam./.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam