Cơ sở thực tiễn đề xuất cải cách chính sách BHXH

09/02/2018 09:06:46
Chính sách BHXH được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm từ khi thành lập nước. Trải qua từng thời kỳ, chính sách BHXH liên tục được bổ sung, sửa đổi cho hoàn thiện phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Quá trình phát triển BHXH từ năm 1995 đến nay được đánh giá khái quát thành 03 giai đoạn:

Ảnh minh họa

Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2006 (trước khi có Luật BHXH)
Chính sách BHXH thời kỳ này được xây dựng và tổ chức thực hiện theo đường lối đổi mới của Đảng. Theo đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những đổi mới căn bản toàn diện cả về mặt xây dựng thể chế chính sách và tổ chức thực hiện. Các chế độ BHXH thời kỳ này theo quy định tại các Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ BHXH áp dụng đối với công chức, công nhân viên chức nhà nước và người lao động theo loại hình BHXH bắt buộc, Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ kèm theo Điều lệ BHXH áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 sửa đổi, bổ sung Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995; Nghị định số 89/2003/NĐ-CP ngày 05/8/2003 sửa đổi, bổ sung Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995. Về cơ quan tổ chức thực hiện BHXH được tách ra khỏi cơ quan nhà nước thành lập BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chế độ BHXH, quản lý quỹ BHXH theo quy định
Kết quả đạt được
- Phạm vi, đối tượng tham gia được mở rộng đến người lao động trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; từ năm 1998 mở rộng đến người lao động hoạt động chuyên trách ở cấp xã; năm 2003 mở rộng đến người lao động có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, người lao động trong hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác. Kết quả là năm 1995, số người tham gia BHXH mới chỉ đạt 2,276 triệu người; đến năm 2003, số người tham gia đã đạt gần 5,4 triệu người, tăng 2,37 lần so với năm 1995; đến năm 2006, số người tham gia đạt gần 6,3 triệu người;
- Các chế độ BHXH được quy định cụ thể hơn trên cơ sở kế thừa và phát triển chính sách BHXH của giai đoạn trước. Bắt đầu thiết lập nguyên tắc đóng, hưởng; điều kiện về thời gian tối thiểu đóng BHXH để hưởng chế độ hưu trí giảm xuống (từ đủ 15 năm). Giảm tỷ lệ mức hưởng lương hưu tối đa từ 95% xuống 75% và quy định tỷ lệ tích lũy cho mỗi năm đóng BHXH từ năm thứ 16 trở đi đối với cả nam và nữ bình đẳng đều là 2%. Trong giai đoạn này đã có 775.268 người hưởng các chế độ BHXH hàng tháng, trong đó có 552.988 người hưởng lương hưu; 1.884.500 lượt người hưởng các chế độ trợ cấp BHXH một lần; có trên 20 triệu lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe;
- Quỹ BHXH được hình thành độc lập với ngân sách nhà nước, hạch toán tập trung, thống nhất, từng bước xóa bỏ bao cấp trong chính sách BHXH, từng bước tách dần chính sách BHXH ra khỏi chính sách ưu đãi, chính sách bảo trợ xã hội và các chính sách khác. Quy định người lao động, người sử dụng lao động phải đóng vào quỹ BHXH, quyền lợi về BHXH bắt đầu gắn với nghĩa vụ đóng BHXH theo nguyên tắc có đóng, có hưởng. BHXH Việt Nam được thành lập là cơ quan thuộc Chính phủ được tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện để thống nhất thực hiện việc thu, chi, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật; tách chức năng quản lý nhà nước về BHXH với hoạt động sự nghiệp BHXH. Từ ngày 01/01/1998 đến nay, BHXH Việt Nam đã xây dựng triển khai áp dụng trong toàn quốc phần mềm tính toán và quản lý mức hưởng, theo dõi biến động tăng, giảm đối với toàn bộ người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng, phục vụ kịp thời việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng theo quy định của Chính phủ, phần mềm này cũng giúp cho việc thống kê phục vụ kịp thời yêu cầu quản lý và hoạch định chính sách BHXH.
Những hạn chế, bất cập
- Số người tham gia BHXH tăng chậm chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng trốn đóng, nợ đọng tiền BHXH diễn ra ở nhiều địa phương; số người rời khỏi hệ thống do nhận BHXH một lần có xu hướng gia tăng.
- Thiết kế mức đóng, hưởng chế độ hưu trí nhưng chưa triệt để theo đúng nguyên tắc đóng, hưởng nhất là giai đoạn từ 2003 đến 2006 quy định mức hưởng chưa tương ứng với mức đóng cụ thể: tỷ lệ giảm trừ cho mỗi năm nghỉ hưu sớm từ 2% xuống 1%, tăng tỷ lệ tích luỹ cho một năm đóng BHXH từ năm thứ 16 trở đi đối với lao động nữ từ 2% lên 3%, lao động nam 2%, không có quy định trần mức đóng BHXH tối thiểu và tối đa nên một số người có mức tiền lương rất cao đóng BHXH theo mức lương đó và khi tính hưởng dựa trên mức đóng nên lương hưu rất cao (có trường hợp trên 100 triệu) ngược lại có người tiền lương làm căn cứ đóng rất thấp nên lương hưu rất thấp, khoảng cách giữa người có mức lương hưu thấp nhất và cao nhất rất xa, không có sự chia sẻ trong chế độ hưu trí, các hạn chế nêu trên dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối quỹ hưu trí và tử tuất trong dài hạn.
- Công tác cải cách hành chính tiến hành còn chậm, các hoạt động nghiệp vụ BHXH hầu hết làm bằng thủ công, sự hỗ trợ của công nghệ thông tin chưa nhiều và chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu tập trung tại trung ương (kể cả dữ liệu đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng vẫn chỉ theo dõi ở từng địa phương) nên khó khăn trong công tác quản lý.

Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015
Chính sách BHXH thời kỳ này thực hiện theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) xác định “Cải cách cơ chế bảo hiểm xã hội và bảo đảm xã hội, cải cách và tăng cường chất lượng hệ thống bảo hiểm xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho nhân dân, nhất là cho người nghèo, vùng nghèo. Ban hành Luật Bảo hiểm xã hội”. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng, ngày 29/6/2006, Quốc hội thông qua Luật BHXH và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ ngày 01/01/2008 đối với BHXH tự nguyện và từ ngày 01/01/2009 đối với BHTN.
Việc xây dựng ban hành Luật BHXH là hành lang pháp lý tạo thuận lợi trong tổ chức thực hiện các chế độ BHXH và quản lý quỹ BHXH theo quy định của pháp luật.
Kết quả thực hiện
Nhận thức chung về BHXH của toàn xã hội đã được nâng lên thông qua việc tổng kết việc thực hiện Chỉ thị 15-CT/TW ngày 26/5/1997, Bộ Chính trị đã xây dựng, ban hành và triển khai Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 đã tạo bước chuyển biến tích cực trong nhận thức về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của BHXH, công tác tổ chức thực hiện BHXH nhận được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân.
Mở rộng diện bao phủ về BHXH đến người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và mở rộng đối tượng đến tổ chức, cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động; đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc áp dụng cho chế độ hưu trí và tử tuất; đối tượng tham gia BHTN là người làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng. Kết quả cụ thể:
- BHXH bắt buộc: Số người tham gia cũng như số thu hàng năm tăng trưởng tương đối nhanh. Năm 2007 (là năm đầu thực hiện Luật BHXH), số người tham gia là 6,96 triệu người với số thu là 20.054 tỷ đồng, tăng gần 670.000 người và số thu tăng 3.964 tỷ đồng so với năm 2006; đến năm 2015, số người tham gia đã là 12,072 triệu người với số thu là 147.549 tỷ đồng tăng 5,7 triệu người, số thu tăng 131.460 tỷ đồng so với năm 2006 (trước khi có Luật);
 - BHXH tự nguyện: Số người tham gia BHXH tự nguyện năm 2008 (năm đầu tiên thực hiện chính sách này) là 6.110 người với số thu 10,75 tỷ đồng; đến năm 2015 đã có 217.669 người tham gia với số thu là 825,7 tỷ đồng, tăng 211.559 người, số thu tăng 815 tỷ đồng so với năm 2008;
 - Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): Năm 2009 (năm đầu thực hiện BHTN theo Luật BHXH), số người tham gia BHTN mới chỉ có 5,99 triệu người với số thu là 3.510,6 tỷ đồng; đến năm 2015 (năm đầu thực hiện theo Luật Việc làm) số người tham gia đạt 10,31 triệu người (tăng 4,3 triệu so với năm 2009 tương ứng với mức tăng 72%) với số thu là 9.710,3 tỷ đồng (tăng 6.199,7 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 176%).
- Đảm bảo nguồn kinh phí chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH đối với người hưởng chế độ trước năm 1995 được bố trí đầy đủ, chủ động trong công tác chi trả khắc phục tình trạng nợ lương hưu giai đoạn trước 01/01/1995; quy định điều chỉnh tiền lương đóng BHXH của người lao động trong khu vực ngoài quốc doanh theo chỉ số giá tiêu dùng, đã bảo toàn được giá trị tiền lương đóng BHXH, tạo niềm tin cho người lao động. Điều chỉnh mức lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng được ưu tiên hơn đối với người đang làm việc;
- Việc bổ sung loại hình BHXH tự nguyện và có quy định liên thông với BHXH bắt buộc đã đáp ứng được sự mong mỏi của nhiều người có thời gian tham gia BHXH bắt buộc nhưng chưa đủ điều kiện hưởng hưu trí, mở rộng lưới an sinh xã hội để người dân tham gia và thụ hưởng chế độ hưu trí khi về già;
 - Chính sách BHTN ra đời đã bảo vệ được người lao động trong trường hợp bị mất thu nhập do mất việc làm, có tác động tích cực đến người lao động, người sử dụng lao động;
 - Các hoạt động nghiệp vụ BHXH bước đầu có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin. Cải cách hành chính trong tiếp nhận giải quyết chế độ chính sách được chú trọng, quy trình nghiệp vụ đóng, hưởng BHXH được cải cách, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân. Công tác giải quyết và chi trả các chế độ BHXH đã đi vào nề nếp, tạo được niềm tin đối với người hưởng.
Kết quả giải quyết hưởng các chế độ
+ Về BHXH: Đã giải quyết cho 1.199.328 người hưởng các chế độ BHXH hàng tháng, trong đó có 977.120 người hưởng lương hưu; 5.271.454 lượt người hưởng các khoản trợ cấp BHXH một lần, trong đó hưởng BHXH một lần là 4.291.543 người; trên 46.754.550 lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe;
+ Về BHTN: Năm 2010 (là năm đầu chi trả chế độ BHTN), tổ chức chi trả các chế độ BHTN cho 145.281 lượt người; đến năm 2015 đã có 569.818 lượt người hưởng các chế độ BHTN, tăng 392,21% so với năm 2010.
Quỹ BHXH được tách theo quỹ thành phần tương ứng với loại hình BHXH gồm: Quỹ BHXH bắt buộc, quỹ BHXH tự nguyện và quỹ BHTN. Trong đó, quỹ BHXH bắt buộc, gồm: Quỹ ốm đau, thai sản; quỹ TNLĐ, BNN; quỹ hưu trí, tử tuất. Đã xây dựng và thực hiện xong lộ trình tăng mức đóng BHXH vào quỹ hưu trí, tử tuất, góp phần cải thiện một bước tình hình quỹ hưu trí, tử tuất.

Giai đoạn từ năm 2016 đến nay
Kết quả thực hiện
Số người tham gia và số thu BHXH: Năm 2016 (là năm đầu thực hiện Luật BHXH sửa đổi bổ sung), số người tham gia là 12.851.833 người với số thu là 174.503,4 tỷ đồng, tăng 778.973 người và số thu tăng 26.954 tỷ đồng so với năm 2015; số người tham gia BHXH tự nguyện là 203.871 người, giảm gần 13.798 người so với năm 2015. Tính đến hết tháng 9/2017, số người tham gia BHXH là 14.663.000 người. Trong đó: Số người đang đóng BHXH là 13.369.000 người (gồm: BHXH bắt buộc là 13.150.000 người, BHXH tự nguyện là 219.000 người); số người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH là 1.294.000 người.
 - Tham gia BHTN: Năm 2016, số người tham gia BHTN là 10.994.650 người (tăng 6,63% so với năm 2015); tính đến hết tháng 9/2017, đã có 11.262.273 người tham gia BHTN.
Năm 2016, toàn Ngành đã giải quyết và chi trả cho:
- 8.398.519 lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, với số chi là 19.976 tỷ đồng, bằng 99,46% số thu trong năm; 9 tháng đầu năm 2017, có 6.524.744 lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe với số tiền là 15.688,7 tỷ đồng, bằng 96,24% số thu vào quỹ.
- 6.462 người hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN, trong đó có 2.604 người hưởng trợ cấp hàng tháng; 9 tháng đầu năm 2017, đã giải quyết cho 5.027 người hưởng trợ cấp, trong đó có 1.907 người hưởng trợ cấp hàng tháng. Năm 2016, quỹ TNLĐ, BNN đang chi trả cho 40.009 người hưởng trợ cấp hàng tháng; chi cho 5.092 người hưởng trợ cấp một lần.
- 142.574 người hưởng lương hưu, trợ cấp tuất hàng tháng, trong đó có 120.901 người hưởng lương hưu; giải quyết 663.639 người hưởng BHXH một lần và trợ cấp tuất một lần, trong đó có 624.603 người hưởng BHXH một lần. Năm 2016, quỹ chi trả cho 1.615.332 người hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng với số tiền là 78.292 tỷ đồng.
- Đã tổ chức chi trả cho 545.000 người hưởng các chế độ BHTN, với số tiền là 4.883 tỷ đồng; 9 tháng đầu năm 2017, 520.941 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp với số tiền là 5.745 tỷ đồng.
Đánh giá chung
 Thực tế hơn 20 năm tổ chức thực hiện BHXH theo đường lối đổi mới cho thấy chủ trương tách chức năng quản lý nhà nước về BHXH với hoạt động sự nghiệp BHXH, lập quỹ BHXH độc lập với Ngân sách Nhà nước là một chủ trương đúng đắn. Quỹ BHXH hình thành dựa trên sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, quyền lợi về BHXH được bảo đảm thực hiện theo nguyên tắc đóng, hưởng, quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, hiệu quả, quỹ được Nhà nước bảo hộ, Nhà nước có chính sách đầu tư, bảo toàn tăng trưởng quỹ để đảm bảo khả năng chi trả các chế độ BHXH một cách bền vững. Cơ quan BHXH được giao quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ BHXH đã phát triển không ngừng, đã có bước đột phá trong ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý BHXH, nâng cao tính chuyên nghiệp, cải cách, đổi mới, tái cấu trúc các quy trình nghiệp vụ, thực hiện giao dịch điện tử giúp tổ chức, cá nhân khi giao dịch với BHXH được thuận tiện, rút ngắn thời gian thực hiện, nâng cao chất lượng dịch vụ công về BHXH. Thông qua công tác tổ chức thực hiện, cơ quan BHXH đã phát huy vai trò là cầu nối đưa chính sách vào cuộc sống, đồng thời phản ánh những vấn đề cuộc sống cần đưa vào để hoàn thiện chính sách pháp luật về BHXH cũng như các chính sách pháp luật khác.
Hạn chế, khó khăn, thách thức
 - Tỷ lệ bao phủ về BHXH còn thấp cùng với tốc độ già hóa dân số diễn ra rất nhanh sẽ là gánh nặng đối với thế hệ tương lai vì số người đóng góp vào quỹ BHXH sẽ ngày càng ít hơn so với số người hưởng lương hưu. (Tỷ lệ số người đóng cho một người hưởng lương hưu giảm đi rất nhanh (năm 1996 là 217 người đóng cho một người hưởng; năm 2006 là 12,6 người đóng cho một người hưởng; năm 2007 là 14 người đóng cho một người hưởng; năm 2015 là 12,1 người đóng cho một người hưởng; năm 2016 là 8,5 người đóng cho một người hưởng);
- Việc thực hiện mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW hết sức khó khăn. Nếu không có sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị tạo bước đột phá thì mục tiêu này rất khó khả thi;
 - Còn một số nhóm đối tượng có mức lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở, khoảng cách giữa người có mức lương hưu thấp nhất và cao nhất quá xa. Việc điều chỉnh tăng mức lương hưu các năm qua còn mang tính cào bằng phát sinh những bất cập mới cần được nghiên cứu xử lý sớm;
 - Thiết kế mức đóng, hưởng đối với chế độ hưu trí chưa phù hợp; nguyên tắc đóng, hưởng tuy đã có quy định trong Luật BHXH nhưng chưa triệt để, chưa có sự chia sẻ giữa những người tham gia;
- Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp mới chỉ chiếm khoảng 60% số tiền người lao động nhận được khi đang làm việc, tạo ra sự hẫng hụt về thu nhập khi nghỉ hưu;
 - Luật chưa có quy định lộ trình tăng thời gian đóng BHXH để đạt tỷ lệ hưởng lương hưu ở mức tối đa đối với lao động nữ nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018 trở đi như quy định có lộ trình đối với lao động nam đang là mối quan tâm của xã hội;
 - Khi ban hành một số chính sách như chính sách tinh giản biên chế, giải quyết lao động dôi dư, chính sách đối với người không đủ điều kiện tái cử, tái bổ nhiệm được nghỉ hưu trước tuổi mà không bị trừ tỷ lệ % lương hưu nhưng không bố trí kinh phí chuyển vào quỹ BHXH để đóng bù và chi trả cho nhóm đối tượng nghỉ hưu trước tuổi này;
 - Số người nhận BHXH 1 lần vẫn gia tăng hàng năm dẫn tới mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội cho mọi người lao động bị ảnh hưởng;
 - Tính tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động, người lao động còn hạn chế. Tình trạng trốn đóng, nợ BHXH, gian lận về BHXH diễn ra ở nhiều tỉnh, thành phố với nhiều thủ đoạn tinh vi gây thất thu, thất thoát quỹ BHXH chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả.
 Nguyên nhân
- Nền kinh tế tuy có phát triển nhưng thiếu tính bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường, chậm chính thức hóa khu vực phi chính thức, khả năng thu hút lao động của nền kinh tế còn hạn chế.
- Luật BHXH chưa bao phủ hết đối tượng có khả năng tham gia BHXH bắt buộc như: Chủ hộ kinh doanh cá thể; người quản lý, điều hành doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng tiền lương; người có việc làm, có thu nhập nhưng không ký giao kết hợp đồng lao động.
- Chính sách BHXH với các chính sách khác chưa có sự liên kết, ràng buộc, thống nhất trong hệ thống an sinh xã hội. Trợ cấp hàng tháng đối với người cao tuổi (từ 80 tuổi trở lên) chưa được công nhận là “lương hưu xã hội” đồng nghĩa với việc chưa công nhận BHXH không đóng góp hay là phúc lợi xã hội do Ngân sách Nhà nước chi trả.
 - Cho đến hết năm 2017, Nhà nước vẫn không có chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHXH tự nguyện; từ năm 2018 mới bắt đầu thực hiện chính sách hỗ trợ, tuy nhiên mức hỗ trợ còn thấp. Chưa có chính sách hỗ trợ đặc thù cho nông dân, người làm trong khu vực phi chính thức ở thành thị;
 - Quy định thời gian tối thiểu đóng BHXH để hưởng lương hưu (20 năm) còn khá dài cộng với những thay đổi về chính sách BHXH đã làm cho một bộ phận người lao động không đủ kiên trì theo đuổi đến khi đủ tuổi nghỉ hưu, trong khi điều kiện hưởng BHXH một lần được quy định khá rộng rãi, dẫn đến tâm lý muốn nhận BHXH một lần và số người nhận BHXH có xu hướng ngày càng gia tăng làm giảm diện bao phủ BHXH mục tiêu an sinh xã hội bị ảnh hưởng;
 - Mức điều chỉnh tăng lương hưu theo mức tăng lương của người đang làm việc luôn cao hơn chỉ số giá tiêu dùng, mức tăng không phù hợp giữa các nhóm đối tượng còn mang tính cào bằng, chưa quan tâm đúng mức đến nhóm có mức lương hưu thấp làm phát sinh bất cập mới.
 - Các quy định về lao động, tiền lương, BHXH chưa tiệm cận với quy chuẩn quốc tế, chưa đồng bộ.
- Chưa giao trách nhiệm đối với cơ quan làm đầu mối quản lý số lượng đơn vị, người lao động cũng như diễn biến tăng giảm lao động; việc nắm bắt, quản lý, theo dõi biến động đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc còn hạn chế do công tác phối hợp, chia sẻ thông tin giữa cơ quan BHXH với các cơ quan liên quan về quản lý doanh nghiệp, lao động, thuế tuy đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; chưa quản lý được công tác khai trình lao động của các doanh nghiệp;
 - Luật BHXH quy định người lao động đi làm việc ở nước ngoài được lựa chọn đóng BHXH bắt buộc thông qua doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài hoặc đóng trực tiếp cho cơ quan BHXH dẫn đến việc cơ quan BHXH không thể quản lý được đối tượng này mà chỉ trông chờ vào sự tự giác người lao động;
 - Để thu hút đầu tư một số địa phương chưa chú trọng đến lĩnh vực BHXH;
- Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện xử lý vi phạm còn ít; công tác khởi kiện doanh nghiệp nợ BHXH còn gặp khó khăn, thiếu tính khả thi;
 - Công tác truyền thông còn hạn chế dẫn đến một bộ phận người lao động chưa hiểu đầy đủ quyền lợi nghĩa vụ về BHXH của mình hoặc vì mưu sinh trước mắt mà không dám đấu tranh đòi hỏi quyền lợi về BHXH./.

ThS. Điều Bá Được
Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHXH, BHXH Việt Nam
(Kỳ tới: Đề xuất cải cách chính sách BHXH trong thời gian tới)

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam