Dân số chạm mốc 96,2 triệu người – Những vấn đề về ASXH mà Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt

11/07/2019 15:10:00
Ngày 11/07/2019, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc của Chính phủ về Công bố kết quả sơ bộ Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2019. Theo đó, tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0 giờ ngày 01/04/2019 – thời điểm bắt đầu cuộc Tổng Điều tra là trên 96,2 triệu người; trong đó, nam là 47,88 triệu, nữ là 48,32 triệu; đứng thứ 03 khu vực Đông Nam Á và thứ 15 thế giới.

(Ảnh minh họa)

Tổng Điều tra dân số và nhà ở năm 2019 là 01 trong 03 cuộc tổng điều tra lớn nhất theo quy định của pháp luật về thống kê của Việt Nam, được tiến hành 10 năm/lần, kết quả được xem là nguồn thông tin chủ yếu, tin cậy về tình hình dân số, nhân khẩu học, tình hình nhà ở, dân cư, đáp ứng mục tiêu thống kê, phục vụ nhu cầu thông tin của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các địa phương nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược, chính sách về kinh tế - xã hội, đặc biệt về dân số và nhà ở. Bắt đầu từ ngày 01/04/2019, nhờ ứng dụng CNTT trong tất cả các công đoạn, sau hơn 02 tháng triển khai, các khâu thu thập thông tin tại địa bàn, xử lý, làm sạch số liệu hoàn thành, sớm hơn 01 năm so với Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.

Sơ bộ, tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0 giờ ngày 01/04/2019 là trên 96,2 triệu người; trong đó, nam là 47,88 triệu; nữ là 48,32 triệu; đứng thứ 03 khu vực Đông Nam Á và thứ 15 thế giới. Mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2,tăng 31 người/km2 so với năm 2009; TP.Hà Nội, TP.HCM là 02 địa phương có mật độ dân số cao nhất cả nước, tương ứng là 2.398 người/km2 và 4.363 người/km2. Phân bố dân cư giữa các vùng kinh tế-xã hội có sự khác biệt đáng kể, vùng Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệu người, chiếm gần 23,4%; tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 20,2 triệu người, chiếm 21,0%. Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với tổng dân số là 5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước.

Trong 10 năm qua, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và rộng khắp tại nhiều địa phương đã tác động làm gia tăng dân số ở khu vực thành thị. Dân số khu vực thành thị ở Việt Nam năm 2019 là 33.059.735 người, chiếm 34,4%; ở khu vực nông thôn là 63.149.249 người, chiếm 65,6%. Từ năm 2009 đến nay, tỷ trọng dân số khu vực thành thị tăng 4,8 điểm phần trăm. Toàn quốc có 82.085.729 người dân tộc Kinh, chiếm 85,3% và 14.123.255 người dân tộc khác, chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước. Địa bàn sinh sống chủ yếu của nhóm dân tộc khác là vùng Trung du và miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên. Tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc, nhóm dân tộc khác chiếm 56,2%; con số này ở vùng Tây Nguyên là 37,7%; ở vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là 10,3%; ở các vùng khác, tỷ lệ này chiếm không quá 8%.

Cả nước có 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ so với thời điểm 0h ngày 01/04/ 2009. Tỷ lệ tăng số hộ  bình quân năm là 1,8%/năm trong giai đoạn 2009-2019, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999-2009 - đây là giai đoạn có tỉ lệ tăng quy mô hộ thấp nhất trong vòng 40 năm qua. Bình quân mỗi hộ dân cư có 3,5 người, thấp hơn 0,3 người/hộ so với năm 2009. Tại khu vực thành thị, trung bình mỗi hộ dân có 3,3 người/hộ, thấp hơn khu vực nông thôn 0,3 người/hộ. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có số người bình quân một hộ cao nhất cả nước (3,8 người/hộ); vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ có số người bình quân một hộ thấp nhất cả nước (3,3 người/hộ). Trong tổng số 26,9 triệu hộ dân cư, vẫn còn 4.800 hộ không có nhà ở; trung bình cứ 10.000 hộ dân cư thì có khoảng 1,8 hộ không có nhà ở. Tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được cải thiện trong hai thập kỷ qua, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn 4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009 và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.

Những vấn đề về ASXH mà Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt

Theo các chuyên gia, dân số liên quan chặt chẽ tới tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường; do đó, những vấn đề về ASXH dự báo Việt Nam sẽ phải đối mặt có kể thể đến:

- Thời kỳ quá độ dân số ở Việt Nam sẽ đi vào giai đoạn kết thúc, biến đổi mức sinh và chết trong quá khứ đã tạo nên “cơ cấu dân số vàng” trong hiện tại với dư lợi dân số mang lại nguồn lợi về mặt số lượng lao động cho phát triển song cũng chứa đựng thách thức rất lớn về chất lượng lao động.

– Khác biệt mức sinh còn lớn giữa các vùng, miền, nhóm xã hội đặt ra thách thức cho công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình bởi sự mất cân bằng đó sẽ gây thiếu nguồn nhân lực tương lai.

– Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh có nguyên nhân xuất phát từ chính sách giảm sinh, định kiến giới truyền thống hay sự phổ biến của các kỹ thuật y học công nghệ cao tuy đã và sẽ giảm do những can thiệp đang được thực hiện song vẫn chưa quay trở về mức bình thường. Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh bắt đầu phát ra những hệ quả về mặt xã hội cho thế hệ tương lai trong 10 năm tới, khi thế hệ sinh trong những năm 2000 đã bước vào độ tuổi thanh niên.

– Tuổi thọ tăng, già hóa dân số nhanh gây áp lực lên hệ thống An sinh xã hội nói chung, đặc biệt là BHXH (nhất là hưu trí), BHYT. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi, nhu cầu học tập theo tinh thần học tập suốt đời của người cao tuổi đang đặt ra những “bài toán” không dễ cho hệ thống y tế và hệ thống giáo dục của Việt Nam.

- Những nguy cơ trong sức khỏe sinh sản/tình dục như vô sinh, mang thai vị thành niên, nạo phá thai tiền hôn nhân và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong bối cảnh xã hội biến đổi nhanh, mạnh và có “độ mở” lớn và tác động rất mạnh tới đời sống sinh sản/tình dục, đời sống kinh tế - xã hội của thanh niên.

– Xu hướng di cư nông thôn ra đô thị, tích tụ dân số vào một số vùng công nghiệp hoá, đô thị hóa, với người di cư chủ yếu là lực lượng thanh niên, tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong 10 năm tới. Bên cạnh nguồn nhân lực được điều tiết lại phục vụ cho các mục tiêu phát triển, di cư cũng đi liền với những tác động tiêu cực đến xã hội như áp lực cơ sở hạ tầng xã hội, đói nghèo gia tăng ở khu vực đô thị, chất lượng cuộc sống của người di cư đến suy thoái môi trường tự nhiên.

– Di cư và dịch chuyển lao động quốc tế, đặc biệt lao động ở độ tuổi trẻ sẽ gia tăng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với quốc tế, tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN và khi các rào chắn về xuất nhập cảnh qua biên giới các quốc gia được tháo cởi. Thực tế, di cư theo quy định pháp luật và có tổ chức mang lại tác động kinh tế - xã hội rất tích cực song di cư tự do khó kiểm soát tiếp tục gây hệ luỵ, thậm chí nghiêm trọng (lao động bất hợp pháp ở nước ngoài, nạn buôn bán người…).

– Quy mô dân số gần 100 triệu dân, áp lực dân số lên tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên và môi trường tự nhiên sẽ tiếp tục gia tăng khó kiểm soát./.

Oanh Nguyễn

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam