Đánh giá, rà soát để có căn cứ đề xuất Chính phủ việc điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng năm 2020

22/04/2019 10:14:25
Đánh giá tình hình thực hiện và rà soát địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng là đề nghị của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đối với Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại Công văn số 1418/LĐTBXH-QHLĐTL ngày 11/04/2019.

(Ảnh minh họa)

Theo đó, để có căn cứ đề xuất với Chính phủ phương án điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng và địa bàn áp dụng năm 2020, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức nắm tình hình thực hiện mức lương tối thiểu vùng thuộc địa bàn quản lý theo quy định tại Nghị định 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 về Mức lương tối thiểu vùng với người lao động tại doanh nghiệp. Trong đó, đánh giá mặt được, chưa được, nguyên nhân và cách thức điều chỉnh mức lương trong thang lương, bảng lương, mức lương trong hợp đồng lao động của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp; đồng thời, tổng hợp số liệu tình hình thực hiện mức lương tối thiểu vùng của các doanh nghiệp thuộc địa bàn quản lý. Bên cạnh đó, rà soát địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng, trường hợp có đề xuất điều chỉnh vùng thì Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Liên đoàn Lao động, Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức trao đổi với các Ban Quản lý Khu chế xuất, khu công nghiệp (nếu có), Hiệp hội nghề nghiệp, các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan, nhà đầu tư, doanh nghiệp đóng trên địa bàn, trên cơ sở đó tổng hợp báo cáo UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Theo Nghị định 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 về Mức lương tối thiểu vùng với người lao động tại doanh nghiệp, từ ngày 01/01/2019, mức lương tối thiểu mỗi tháng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp vùng I là 4.180.000 đồng; vùng II là 3.710.000 đồng; vùng III là 3.250.000 đồng; vùng IV là 2.920.000 đồng. So với mức lương tối thiểu vùng hiện nay, lương mới cao hơn 160.000-200.000 đồng mỗi tháng tùy theo khu vực. Đối tượng áp dụng là người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng của Bộ luật Lao động; làm việc trong doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê lao động.

Nghị định nêu rõ, doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn nào thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng đối với địa bàn đó. Trường hợp có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu vùng khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó. Lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp, người lao động thỏa thuận và trả lương. Mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động phải không thấp hơn lương tối thiểu vùng đối với người làm công việc giản đơn nhất; cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề. Khi thực hiện mức lương tối thiểu, doanh nghiệp không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại. Các khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền thưởng do doanh nghiệp quy định thì thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc trong quy chế của doanh nghiệp.

Oanh Nguyễn

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam