Điều ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

27/01/2016 07:41:03

Từ trong đêm dài nô lệ…
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi lại, ngay khi còn là người thiếu niên mười lăm tuổi, Người đã sớm thấu hiểu, đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào và nuôi chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đất nước. Người tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc, bày tỏ lòng khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh… và nung nấu tìm ra con đường của mình.
Tâm sự với một người bạn ở Sài Gòn vào khoảng đầu năm 1911, Người nói: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Và chỉ với hai bàn tay trắng, Người bắt đầu một cuộc hành trình dài ngày trên biển với công việc phụ bếp trên tàu, nhặt rau, rửa chảo, đun lò. Thời kỳ ở Anh, làm ở một tiệm ăn với công việc lau chùi thìa, nĩa… tiếp đó, nhận việc cào tuyết trong một trường học, rồi đốt than. Thời gian này có một câu chuyện về Người hết sức cảm động, đó là khi làm việc dọn dẹp ở tiệm ăn Các-lơ-tông, đáng lẽ phải vứt thức ăn thừa vào một cái thùng, đôi khi cả phần tư con gà hay những miếng bít-tết to, Người lại giữ gìn sạch sẽ và đưa lại cho nhà bếp với suy nghĩ “không nên vứt đi, mà có thể để lại cho người nghèo”.
Cuối năm 1920, Người bỏ phiếu việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Điều thú vị, đáng nói ở đây là lý do bỏ phiếu cho Đệ tam Quốc tế được Người giải thích với người tốc ký của Đại hội là Quốc tế thứ ba rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa; và Người kết luận: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Tháng 06/1923, chia tay những người bạn cùng hoạt động trong Hội Liên hiệp thuộc địa, Người khẳng định: “Tất cả chúng ta có một lý tưởng chung là giải phóng đồng bào”; còn đối với riêng mình, thì Người rút ra: “Câu trả lời đã rõ ràng: Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”. Khi ở thiên đường nước Nga những năm 1923-1924, Người vẫn luôn nhớ tới Tổ quốc Việt Nam và muốn trở về nước để thực hiện sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Người viết trong Chánh cương vắn tắt của Đảng mục đích: “Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập”. Tháng 01/1941, sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Người về nước. Mấy tháng sau, trong một bức thư Kính cáo đồng bào, sau khi kêu gọi: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”, Người nói rõ: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dù phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”.

… ở đỉnh cao của quyền lực
Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khẳng định: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Một ngày sau, với tư cách người đứng đầu Chính phủ, Người bắt tay vào giải quyết ngay nạn đói, chống nạn mù chữ, tổ chức Tổng Tuyển cử, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, bỏ các loại thuế vô lý, tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết… Hơn một tháng sau, Người đưa ra một tuyên ngôn khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Ở đỉnh cao quyền lực, đứng đầu Chính phủ và là Chủ tịch Đảng, 04 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, trong một bài trả lời các nhà báo nước ngoài; đồng thời, công bố cho đồng bào trong nước, Người khẳng định: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”. Tự phê bình trước đồng bào, Người nói: “Phận sự của tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bến bờ hạnh phúc của nhân dân. Tôi lo lắng đêm ngày để làm tròn nhiệm vụ của mình, sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào”.
Trước khi sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, ngày 30/05/1946, Người có buổi nói chuyện với nhân dân Hà Nội: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó. Ngày nay vâng mệnh lệnh Chính phủ, theo ý quốc dân, tôi phải xa xôi ngàn dặm, tạm biệt đồng bào, cùng với đoàn đại biểu qua Pháp - cũng vì mục đích đó. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào rằng: tôi cùng anh em đại biểu sẽ gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của quốc dân”. Cũng với tinh thần đó, biết đồng bào Nam Bộ bâng khuâng vì chưa biết tương lai của Nam Bộ sẽ ra thế nào, Người có thư gửi đồng bào: “Xin đồng bào cứ bình tĩnh… Tôi xin hứa với đồng bào rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”. Tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, ngày 31/10/1946, sau khi được Quốc hội nhất trí thành lập Chính phủ mới, Người đã đọc Lời tuyên bố trước Quốc hội, khẳng định: “Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết; phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà; là một Chính phủ chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc, để tranh thủ quyền độc lập và thống nhất lãnh thổ cùng xây dựng một nước Việt Nam mới”.
Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng ta bất đắc dĩ phải cầm súng đánh trả lại thực dân Pháp để giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc và bảo vệ hòa bình. Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người kêu gọi: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Người ra trận địa như một người lính thực thụ, đi ngựa, vượt đèo, trèo non, lội suối… Tại Mặt trận Đông Khê (Cao Bằng) trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, trước cảnh hùng vĩ của thiên nhiên hòa quyện với con người trong một chiến dịch lớn, trực tiếp theo dõi các chiến sĩ ta đánh giặc, nhà thơ - chiến sĩ Hồ Chí Minh đã viết bài thơ Đăng sơn (Lên núi):
“Chống gậy lên non xem trận địa,
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây,
Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu,
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.
Xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn
Năm 1960, trên cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài phát biểu tại Lễ Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, chia sẻ với khó khăn, thiếu thốn của nhân dân, Người động viên: “Thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều… Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”. Nói đến Đảng, Người khẳng định:
“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.
Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no.
Công ơn Đảng thật là to,
Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”
Bước vào những năm 60, đất nước phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược và từ năm 1965 trở đi, cả nước có chiến tranh. Người một mặt, hết sức quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân miền Bắc; mặt khác, đau nỗi đau của nhân dân miền Nam. Ngày 14/07/1969, trả lời nữ đồng chí Mác-ta Rô-hát, phóng viên Báo Granma (Cu Ba), Người nói: “Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi… Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng, và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở đỉnh cao trên cả hai miền Nam - Bắc, Người có lời kêu gọi: “Không có gì quý hơn độc lập tự do!” và khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 05 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. Đúng 08 ngày trước lúc đi xa, Người viết thư trả lời Tổng thống Mỹ Ri-sớt Ních-xơn, trong thư có đoạn: “Nhân dân chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”.
Ngày 02/09/1969, Người đi về cõi vĩnh hằng; trước lúc đi xa, Người để lại cho chúng ta những lời dặn dò tâm huyết, thể hiện trách nhiệm của một con người cả một đời vì nước, vì dân. Người không coi đó là di chúc, vì theo Người, ai mà đoán biết được Người còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa? Tuy “điều ham muốn tột bậc” chưa thực hiện được nhưng Người “không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” và dặn lại: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”, bởi:
“Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.
Thực hiện điều mong muốn cuối cùng của Người: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Bốn mươi năm sau giải phóng miền Nam; đặc biệt, qua gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong Lễ Truy điệu Người ngày 09/09/1969 có những đoạn đi vào lòng người và cho đến giờ vẫn giữ nguyên giá trị:
“Hơn 60 năm qua, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”.
“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.
“Hồ Chủ tịch đã qua đời! Nhưng Người để lại cho dân tộc chúng ta một di sản vô cùng quý báu. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Toàn thể dân tộc Việt Nam ta, mỗi người Việt Nam ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người”.
“Hồ Chủ tịch đã qua đời! Nhưng Người luôn luôn dẫn dắt chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy có Người luôn luôn bên cạnh. Bởi vì chúng ta vẫn đi theo con đường của Người, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người. Bởi vì Người vẫn sống với non sông đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu trong trái tim, khối óc của mỗi chúng ta”./.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam