Đôi điều về văn hóa tâm linh trong tâm tưởng Hồ Chí Minh

11/02/2014 23:59:45

Từ xa xưa, mọi người Việt Nam đều cúng ông bà, tổ tiên; làng thì thờ cúng thành hoàng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ ngành nghề, các danh nhân văn hóa. Từ góc độ văn hóa, đây là một nét đẹp của văn hóa tâm linh, đáng trân trọng của người Việt. Bởi vì, tưởng nhớ ông bà, tổ tiên và người có công sẽ làm cho cuộc sống ngày hôm nay của mỗi người, mỗi gia đình và xã hội đẹp hơn, tốt hơn.

Là Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, nhà văn hóa lớn, Hồ Chí Minh rất quan tâm tới các loại hình văn hóa, như văn hóa văn nghệ, văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa đạo đức... Nhưng có một điều hết sức đặc biệt mà không phải bất cứ một lãnh tụ cộng sản chân chính nào cũng có được, đó là, với tư cách là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhưng Hồ Chí Minh lại rất quan tâm tới văn hóa tâm linh.

Là lãnh tụ của một đất nước đa dân tộc, Hồ Chí Minh nghiên cứu rất kỹ truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc. Người thường khuyên nhủ: "Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Người am tường văn hóa dân tộc và trân trọng những gì thuộc về tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt.

Còn nhớ, tháng 6/1922, khi Quốc vương nước Nam là Vua Khải Định sắp làm "khách của nước Pháp", Nguyễn ái Quốc đã có bài viết "Lời than vãn của bà Trưng Trắc". Dưới cách thể hiện qua giấc mộng của Vua Khải Định phải đối thoại với một trong những người khai sáng nước Nam là Trưng Trắc, bài viết cho thấy Nguyễn ái Quốc am tường phong tục tập quán và tâm linh của người Việt. Người viết: "Trước đây, mi đã từng phạm tội báng bổ là bệ lên bàn thờ linh thiêng của ông vải hình ảnh ghê tởm của thằng da trắng ngái ngủ và bụng phệ nọ, nó sặc lên mùi tỏi, ớn mùi thây ma... Nay mi lại sắp lẩn xa tôn miếu. Tay mi sẽ không thắp hương vào những tiết đầu xuân, đầu thu nữa. Mi sẽ không tự tay mở hương án dâng hoa quả đầu mùa và cúng cơm mới nữa".

Những ngày hoạt động trong Câu lạc Phô-bua (Faubourg) ở Pháp (1921 - 1922), Hồ Chí Minh đã tranh luận với nhiều hạng người về các vấn đề "có linh hồn không?"; "cái chết và việc thờ cúng người chết"... Khi ở trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch (1942 - 1943), Hồ Chí Minh đã có nhiều trăn trở về xây dựng nền văn hóa Việt Nam, trong đó Người coi tôn giáo là một yếu tố của văn hóa. Là một chiến sĩ cộng sản chân chính, Người không quên nhắc đến "ngày giỗ tổ tiên" cùng những phong tục trong ngày đó với một tấm lòng thành kính. Cuối năm 1923, tâm sự với nhà báo Liên Xô Ôxip Manđenxtam, Người nói: "Việc cúng bái tổ tiên (của người dân An Nam) hoàn toàn là một hiện tượng xã hội... Những người già trong gia đình hay các già bản là người thực hiện các nghi lễ tưởng niệm. Chúng tôi không biết uy tín của người thầy cúng, của linh mục là gì". Những ngày sống tên đất khách quê người - thời kỳ ở Xiêm 1928 - 1929, thấy kiều bào hay lễ Đức Thánh Trần, Bác (với bí danh Thầu Chín) đã viết ra Bài ca Trần Hưng Đạo theo thể song thất lục bát, kể rõ sự tích đánh giặc cứu nước của vị anh hùng dân tộc để giáo dục lòng yêu nước cho đồng bào. Bài ca có những câu: "Diên Hồng thề trước thánh minh / Lòng dân đã quyết hy sinh rành rành". Tết Nguyên Đán Nhâm Ngọ (giữa tháng 2/1942), trong khi "ăn Tết" ở Khuổi Nậm, Nguyễn ái quốc đã cho những đồng xu vào phong giấy hồng điều gửi mừng tuổi các em nhỏ theo phong tục ngày tết. Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, khi bàn về những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong vấn đề thứ sáu, Hồ Chí Minh chỉ rõ, "thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết". Chưa đầy 3 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh về nhiệm vụ của Đông Phương Bác Cổ học Viện là bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, các cổ vật, thành, quách, lăng, mộ, chiếu, sắc, văn bằng..., có ích cho lịch sử. Tết đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (tháng 2-1946), trong thời khắc giao thừa, Người đã vào lễ ở Đền Ngọc Sơn và cùng bà con Hà Nội đón giao thừa...

Trong khi chống mọi hủ tục, mê tín dị đoan, Hồ Chí Minh càng trân trọng tín ngưỡng và phong tục tập quán của đồng bào. Nhân dân ta có câu: "Dù ai đi ngược về xuôi. Nhớ ngày giỗ Tổ Mùng 10 tháng 3", để ghi nhớ công lao to lớn của những người sáng lập ra nước Văn Lang, Âu Lạc. Còn Hồ Chí Minh thì dạy: "Hồng Bàng là tổ nước ta. Nước ta khi đó gọi là Văn Lang". Và "các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đối với những người đã không tiếc máu xương của mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, Hồ Chí Minh vẫn giữ trọn đạo lý "ăn quả nhớ người trồng cây", kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ với "một nén hương thanh, vài lời an ủi". Từ sau ngày miền Bắc được giải phóng đến khi qua đời, Hồ Chí Minh đã nhiều lần đến đài liệt sĩ ở Hà Nội "kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Trong Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Ngày Quốc tế phụ nữ 8 tháng ba 1952, Hồ Chí Minh viết: "Nhân dịp 8/3, tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội, và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ". Từ sâu thẳm tâm linh, suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh là sự kế tục và nâng cao đạo lý tri ân của dân tộc. Với Hồ Chí Minh, thế hệ hôm nay không chỉ có tấm lòng tôn thờ tổ tiên, ông bà, các anh hùng dân tộc có công với nước với dân; không chỉ đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ, mà phải làm nhiều việc có ích để không phụ lòng các bậc tiên liệt. Thực hành văn hóa tâm linh là bổn phận thiêng liêng của con người Việt Nam; là việc làm thấm nhuần tinh thần yêu nước, một truyền thống cực kỳ quý báu của dân ta. Đó cũng là một khía cạnh quan trọng trong đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà suốt cuộc đời cách mạng Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp, rèn luyện. Đây là một trong những trăn trở lớn của Hồ Chí Minh trước lúc đi xa được dặn lại trong Di chúc.

Văn hóa tâm linh trong tâm tưởng Hồ Chí Minh là trí tuệ, tầm nhìn và thái độ nhân văn của lãnh tụ, tạo nên cội nguồn sức mạnh to lớn. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh coi Mác, Ăngghen, Lênin, khi còn sống là thầy; khi đã mất là sang "thế giới người hiền". Người muốn "đi gặp Cụ Các Mác, Cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác" - đó là một cách tri ân và tôn kính "thế giới người hiền" và điều quan trọng hơn - như Người dặn - "càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác- Lênin bao nhiêu, càng phải biết quý trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu"./.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam