Góp phần đẩy lùi hủ tục trên vùng đất Tây Nguyên

11/07/2017 07:21:02
“Những năm 80 của thế kỷ trước, bà con mình ốm đau gì cũng chỉ biết dựa vào thầy cúng. Thầy cúng bảo sao thì nghe vậy, nhiều nhà nghèo khi có người ốm đau phải cúng nhiều lần chi phí tốn kém nên đã khó lại càng thêm khó. Vậy mà bệnh không khỏi, ngày càng nặng hơn thậm chí có người đã chết…”-già làng Kpuih Dông (SN 1930, làng Pnuk, xã Ia Kriêng, huyện Đức Cơ) bắt đầu câu chuyện với những hoài niệm.

  Tin vào thầy cúng

  Hơn 80 tuổi nhưng trí óc của già Kpuih Dông vẫn còn minh mẫn lắm. Già vẫn đi xe máy đến Trạm Y tế xã khám bệnh mỗi khi đau ốm. Trong ký ức của già, ngày xưa làng Pnuk, xã Ia Kriêng, huyện Đức Cơ là nơi “rừng thiêng nước độc” nên bệnh tật luôn chực chờ, bủa vây người dân. Ngày ấy, điều kiện vật chất của người dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn trăm bề; giao thông chưa phát triển; nhận thức người dân còn hạn chế; mạng lưới y tế chưa đến. Bởi vậy khi bị đau ốm người làng vẫn dựa vào những kinh nghiệm dân gian để chữa bệnh là chính. Bệnh nặng hơn thì tìm đến thầy cúng… “Bản thân mình ngày ấy cũng tin vào thầy cúng mỗi khi ốm đau. Thầy bảo sao mình nghe vậy nhưng cúng miết mà bệnh cũng có khỏi đâu… Đó là những câu chuyện buồn, dẫu có nhớ cũng chẳng ai muốn nhắc”-già Kpuih Dông trầm ngâm.

  Những tập tục lạc hậu không chỉ đeo đẳng người dân làng Pnuk một thời mà ở nhiều làng đồng bào dân tộc thiểu số khác cũng vậy. Bà Ksor HMet (71 tuổi, buôn Tham, xã Ia Trôk, huyện Ia Pa) cũng từng một thời tin vào thầy cúng. Mỗi khi đau ốm, bà HMet lại đi tìm thầy để cúng Yàng. Bởi bà HMet cũng như bao người dân trong làng đều tin rằng, bệnh tật của con người là do những tà ma lẩn khuất trong làng gây ra. Thế rồi, mỗi lần thầy cúng về làng, nhà nhà lại bày biện con heo béo, nhà nào có lòng hơn thì sẵn sàng giết thịt một con trâu, con bò để tế Yàng, nhờ Yàng ban cho sức mạnh, xua đuổi tà ma cho con người khỏe lại bình thường.

  Bà HMet kể: “Cùng với đó, thầy cúng ban cho mình một thứ lá mà theo ông, đã phải lặn lội suốt nhiều ngày trời trên rừng mới hái được. Thầy cúng dặn mình phải đun nước uống đều đặn mới mong khỏi bệnh. Nghe lời thầy, mình sắc hết ấm nước này, đến ấm nước khác. Ngày nào mình cũng chăm chỉ uống cái thứ nước chan chát từ lá cây ấy nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Bụng vẫn đau quằn quại, cái đầu vẫn nặng tựa tảng đá đè lên, những cơn ho cứ giằng xé mình ngày này qua tháng khác”.

  Gần nhà bà HMet, ông Siu Dung (74 tuổi) cũng bị mắc khá nhiều bệnh. Trong nhiều năm trời, ông bị liệt nửa người không thể đi lại vì đau cột sống, người ông cứ gầy rộc đi, da dẻ xanh xao. Người làng nói ông bị dính “thuốc thư”. Gia đình ông hoảng sợ, âu lo liền mời thầy cúng về, nhưng tình trạng cũng không hề thuyên chuyển. Ông Siu Dung cứ thế âm thầm chịu đựng những cơn đau hành hạ và thường xuyên tìm đến rượu như một cách để giảm đau, nhiều lúc đau quá ông chỉ ước được giải thoát... “Đau quá không biết làm sao, mình toàn phải uống thật nhiều rượu để giảm đau. Nhưng hết rượu, mình không những bị đau lại mà còn đau đầu vì say nữa...”- ông Siu Dung buồn bã kể.

  Không chỉ dừng lại ở chuyện ốm đau bệnh tật, do không được tiếp cận với các dịch vụ y tế, không có người hộ sinh, nhiều phụ nữ mang thai ở các làng đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa ngày xưa phải vượt cạn theo bản năng; nhiều người chết vì sinh khó, vì mất máu. Và cũng từ đó, hủ tục cũng vận vào người những đứa trẻ sơ sinh vô tội. Theo tục lệ này, nếu người mẹ chẳng may chết khi vượt cạn thì trẻ sơ sinh cũng phải chết theo. Đã từng có nhiều cái chết đau lòng, oan uổng chỉ vì hủ tục.

  Ông Siu Mế-Bí thư Đảng ủy xã Ia Kriêng (huyện Đức Cơ) chia sẻ: “Đúng là từng có chuyện người dân nơi đây khi đau ốm không đến khám, chữa bệnh mà chỉ tin vào thầy cúng. Thầy cúng phán sao thì nghe vậy. Thầy nói con dê nuôi trong nhà mày mang xui rủi, nó làm cả họ mày đau, phải “đập” con dê mà cúng tạ mới hết. Thầy nói “đập” con dê thì người làng “đập” con dê, “đập” con heo thì “đập” con heo… Có nhà cúng nhiều lần bệnh tình không giảm mà ngày càng nặng hơn. Chỉ vì tin vào thầy cúng mà đã có những cái chết tức tưởi, đau lòng…”.

  Thẻ BHYT – phép màu

  Gia Lai có dân số trên 1,4 triệu người bao gồm 34 dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 52% dân số, còn lại chủ yếu là các dân tộc Jrai (33,5%), Bahnar (13,7%), Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Thái, Mường... Với đặc thù dân số như trên, chính quyền địa phương luôn có sự quan tâm, hỗ trợ cho người dân, đặc biệt là người dân vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong vấn đề chăm sóc sức khỏe. Ngành BHXH hàng năm chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai kịp thời việc cấp phát thẻ BHYT đến đúng đối tượng theo quy định, đồng thời tổ chức tuyên truyền đến người dân sử dụng thẻ BHYT trong việc khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, góp phần đẩy lùi hủ tục.

  Từ việc chỉ tin vào thầy cúng mỗi khi đau ốm, được cấp thẻ BHYT và khám, chữa bệnh kịp thời, bà H’Met (71 tuổi, ở buôn Tham, xã Ia Trôk, huyện Ia Pa) đã nhận ra giá trị cao của tấm thẻ BHYT. Suốt một thời gian dài, bà H’Met cứ phải sống chung với những căn bệnh âm ỷ mà không biết làm sao. Chỉ đến khi đi khám bác sĩ, bà mới biết mình bị viêm xoang khá nặng và viêm dạ dày. Tấm thẻ BHYT giờ đây đối với bà H’Met như một phép màu. Ngày đầu tiên được cầm tấm thẻ trên tay, bà lạ lẫm lắm vì không biết cái mảnh giấy ấy có tác dụng gì để cho bà khỏi bệnh. Nhưng rồi bà H’Met cũng thử cầm tấm thẻ BHYT đến Trạm Y tế xã để khám, chữa bệnh. Các bác sĩ sau khi khám bệnh tận tình đã kê đơn cho bà rồi cấp phát thuốc mà không thu tiền. Bà như không tin vào mắt mình. Bỗng dưng trong người bà thấy khỏe hẳn và bà quên đi nỗi đau bệnh tật đeo đẳng. “Tấm thẻ này hay quá, được các bác sĩ khám và cho thuốc mà không phải mất tiền. Mình sẽ về nói lại với dân làng, để ai cũng dùng thẻ này, mọi người trong làng sẽ mạnh khỏe cả”-bà H’Met hồ hởi.

  Mấy năm trời nằm ốm liệt giường vì căn bệnh thiếu máu và thoái hóa cột sống, ông Siu Dung (74 tuổi, ở buôn Tham, xã Ia Trôk, huyện Ia Pa) nay sức khỏe cũng dần dần được cải thiện. Được cấp thẻ BHYT và cán bộ đến tận nhà vận động ông đến cơ sở y tế khám bệnh thì ông mới cảm thấy như mình sống lại. Ông Siu Dung chia sẻ: “Giờ mình cũng dần khỏe lại và đã có thể giúp con cháu chăn con gà, con heo. Mình mừng lắm cứ như có phép lạ xảy ra”.

  Với già làng Kpuih Dông (làng Pnuk, xã Ia Kriêng, huyện Đức Cơ), tấm thẻ BHYT còn quý hơn cả những phép màu. Lần tìm tấm thẻ BHYT được cất kỹ trong tủ để khoe với chúng tôi, già cẩn thận bọc thêm mấy lớp ni lông để tấm thẻ khỏi bị ướt vì trời đang mưa. “Tấm thẻ này quý lắm, nhất là những khi chẳng may ốm đau bệnh tật. Mình già rồi nhiều bệnh nên tấm thẻ BHYT này giúp đỡ được mình cũng như người dân trong làng. Vì vậy mình luôn cất giữ cẩn thận…”.

  Cũng giống như già Kpuih Dông, cả nhà già làng Rơ Châm Krôl (làng Kênh Chóp, xã Ia Nhin, huyện Chư Pah) cũng giữ gìn tấm thẻ BHYT cẩn thận để mỗi khi đau ốm có cái mà mang đi. “Không chỉ vậy, mình thường xuyên tuyên truyền bà con về việc giữ gìn thẻ BHYT, vì có thẻ mới có thuốc. Mất thẻ là mất quyền lợi…”-già làng Rơ Châm Krôl cho biết.

  Nhiều người dân dù điều kiện kinh tế khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số trong diện không được cấp thẻ BHYT đã ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của mình trong việc tham gia BHYT hộ gia đình. Ông Rơ Châm Kuech (SN 1953, ở làng Krai, thị trấn Phú Hòa, huyện Chư Pah) chia sẻ: “Mình được cấp thẻ BHYT do là cựu chiến binh, còn gia đình mình không được cấp. Nhận thấy BHYT rất quan trọng trong việc giảm chi phí khi đi khám, chữa bệnh nên mình mua BHYT cho các thành viên trong gia đình để an tâm khi chẳng may ốm đau”.

   Kinh tế khó khăn và phải đi làm thuê kiếm sống nhưng bà Nguyễn Thị Khương (trọ ở đường Trần Quý Cáp, TP. Pleiku) vẫn đều đặn hàng năm dành tiền mua thẻ BHYT cho gia đình vì giá trị mà tấm thẻ này mang lại cho bản thân bà nói riêng và gia đình nói chung là rất lớn. Vốn tuổi cao lại nhiều bệnh tật như cao huyết áp, rối loạn mỡ máu, đau khớp… chi phí điều trị của bà lên đến hàng triệu đồng mỗi tháng khi chưa có thẻ BHYT. Sau khi có thẻ BHYT, chi phí khám, chữa bệnh được Quỹ BHYT chi trả phần lớn nên phần chi phí bà tự trả đã giảm đi rất nhiều. Bây giờ, tấm thẻ BHYT đối với bà Khương là vật bất ly thân. Bà chia sẻ: “Chỉ bỏ ra hơn 650.000 đồng mua thẻ BHYT mỗi năm nhưng tính ra tôi được lợi đủ đường trong việc khám, chữa bệnh. Nếu không nhờ có thẻ BHYT thì với số tiền ít ỏi từ việc làm thuê, làm mướn hàng tháng chắc tôi không thể kham nổi chi phí khám, chữa bệnh, rồi lại trở thành gánh nặng cho con cái. Cũng nhờ có thẻ BHYT mà tôi an tâm trong việc điều trị bệnh, giảm bớt gánh nặng tài chính cho gia đình”.

                                                                                              Như Nguyện-Văn Ngọc

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam