Hợp tác quốc tế về An sinh xã hội – Yêu cầu tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa

26/03/2019 16:32:44
Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa và nhất là cách mạng công nghiệp 4.0, việc người lao động di cư từ nước này sang nước khác ngày càng trở nên phổ biến, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế về An sinh xã hội cần được tăng cường hơn trong thời gian tới.

(ảnh minh họa)

Gia tăng số lao động di cư
Theo Liên Hợp Quốc, ước tính số lượng người di cư quốc tế là hơn 250 triệu; trong số này 2/3 là công nhân và xu hướng di cư từ nước này sang nước khác để tìm việc làm đang ngày càng trở nên phổ biến hơn.
Ngay tại khu vực Đông Nam Á, thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế - ILO cho thấy, trong hai thập kỷ vừa qua, ước tính, có 20,2 triệu người di cư xuất phát từ các nước ASEAN, trong đó gần 6,9 triệu người di cư sang các nước trong khu vực.
ILO cũng đánh giá: việc di cư trong khu vực ASEAN ngày càng tăng lên; khoảng 87% người lao động di cư không có tay nghề hoặc có tay nghề thấp; Malaysia, Thái Lan và Singapore là điểm đến của 91% người lao động di cư trong khu vực ASEAN. Ngày càng có nhiều yếu tố thúc đẩy di cư, bao gồm: dân số trẻ tìm kiếm cơ hội việc làm; cần hỗ trợ sinh kế, gia hóa dân số, tăng trưởng thị trường lao động tại một số quốc gia; chênh lệch kinh tế, chênh lệch tiền lương và nhất là quá trình hội nhập của toàn khu vực.
Tại Việt Nam, số lao động nước ngoài đến làm việc chủ yếu là nhóm chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành và lao động kỹ thuật (chiếm khoảng 95%), trong đó lao động đến từ nhóm nước CLMT khoảng trên 1.1000 người, đông nhất là Thái Lan với khoảng 950 người. Ở chiều ngược lại, lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài ngày càng tăng. Số liệu từ Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội của Việt Nam cho thấy, lao động Việt Nam chủ yếu đi làm việc tại một số quốc gia như Nhật Bản (54.504 người), Đài Loan (66.296 người), Hàn Quốc (5.178 người), Malaysia (1.551 người).

Tăng cường hợp tác quốc tế về an sinh xã hội
Người lao động di cư có sự phân hóa rất lớn về độ tuổi, trình độ tay nghề… vì vậy khả năng tiếp cận, tham gia các chính sách An sinh xã hội tại các nước nhập cư cũng rất khác nhau. Bên cạnh đó, việc tham gia BHXH, BHYT của lao động di cư còn phụ thuộc vào các quy định, chính sách của nước sở tại với lao động người nước ngoài. Có những nhóm người lao động nhập cư được bảo đảm an sinh thông qua sự hợp tác song phương hoặc đa phương giữa quốc gia. Nhưng cũng có những nhóm người lao động chủ động tiếp cận, tham gia hệ thống an sinh xã hội mà không có sự thỏa thuận nào; chỉ tham gia các chế độ ngắn hạn, không được hưởng bất cứ sự ưu đãi, tham gia các chế độ mang tính dài hạn.
Thực tế này đòi hỏi các quốc gia cần tăng cường sự hợp tác nhằm đạt được các thỏa thuận song phương hoặc đa phương về tổ chức thực hiện BHXH, BHYT cho người lao động. Theo khuyến nghị của Hiệp hội An sinh xã hội quốc tế, các thỏa thuận hợp tác cần đảm bảo được xây dựng trên cơ sở một số nguyên tắc cơ bản: + Bảo đảm sự bình đẳng trong việc thụ hưởng các chế độ trên nguyên tắc đóng – hưởng, không có sự phân biệt; + Bảo đảm việc chi trả các chế độ thực hiện đúng (tránh việc nhận song trùng, thụ hưởng chế độ ở hai quốc gia trên cơ sở 01 quá trình đóng) + Các quyền lợi chính đáng của người lao động phải được bảo vệ và có sự linh hoạt; + Chính sách hỗ trợ tham gia, chi trả chế độ phải bảo đảm sự minh bạch, hiệu quả.
Thực tế hiện nay, một số quốc gia đã thực hiện ký kết thỏa thuận song phương hoặc đa phương về an sinh xã hội. Dù vậy, chưa có thống kê, nghiên cứu chính xác về số lượng, quy mô và tính chất các bản thỏa thuận đã được ký kết.
Hiệp hội An sinh xã hội quốc tế cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải mở rộng diện bao phủ BHXH với nhóm lao động nhập cư ở các quốc gia. Ngoài việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản thực hiện quyền được bảo đảm An sinh xã hội của con người, thực hiện BHXH cho lao động nhập cư đem lại các lợi ích dài lâu và thiết thực. Thực tế là lao động nhập cư đang ngày càng có vai trò lớn, giải quyết các vấn đề hạn chế về nhân khẩu, thiếu hụt lực lượng lao động ở một số nhóm ngành nghề và đóng góp tương đối cho sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, ngay cả với các nước phát triển; vì vậy đảm bảo an sinh cho nhóm này cũng rất quan trọng. Bên cạnh đó, với bản chất chia sẻ của chính sách BHXH, việc có thêm một nhóm lao động tham gia cũng sẽ tăng nguồn lực hiệu quả cho quá trình tổ chức thực hiện.
Việc hợp tác song phương, đa phương về An sinh xã hội, bắt đầu từ việc chia sẻ dữ liệu thông tin về người lao động giữa các quốc gia là nền tảng cơ bản giúp cho việc quản lý hiệu quả hơn. Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo đảm thực hiện BHXH cho người lao động nhập cư; các thông tin về đóng – hưởng, thời gian đóng, các chế độ hưởng… sẽ không có sự gián đoạn khi đã có sự tương đồng nhất định về chính sách, pháp luật, sự thỏa thuận thực hiện giữa các quốc gia.
Hội nghị Ban Chấp hành Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN lần thứ 35 được tổ chức tại Việt Nam tháng 9/2018 cũng đã dành một phần lớn nội dung tập trung thảo luận, đánh giá tổng quan về lao động di cư tại khu vực ASEAN, các vấn đề cốt lõi để bảo đảm hiệu An sinh xã hội cho lao động di cư như: kinh nghiệm đàm phán hiệp định song phương về hưu trí, BHXH, thỏa thuận bảo đảm cho người lao động làm việc tại nước ngoài, vấn đề bảo hiểm thất nghiệp trong bối cảnh dịch chuyển lao động…
Tại Việt Nam, quy định thực hiện BHXH cho lao động người nước ngoài đang được thực hiện tích cực theo quy định của Luật BHXH 2014. Cụ thể, theo quy định tại Nghị định số 143/2018/NĐ-CP (Nghị định 143), từ ngày 1/12/2018, người lao động (NLĐ) là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Theo thống kê của BHXH Việt Nam, tính đến hết tháng 2/2019, tổng số đơn vị tham gia BHXH cho người nước ngoài trên toàn quốc là 8.730 đơn vị, với số lao động là 51.524 người. Chỉ sau hơn 3 tháng triển khai Nghị định số 143, đã có trên 64% lao động thuộc đối tượng này tham gia BHXH bắt buộc. Đó là một kết quả khả quan đối với việc triển khai một chính sách mới.
Đến nay, Việt Nam cũng đã cơ bản hoàn tất việc đàm phán hiệp định song phương về BHXH với Đức, Hàn Quốc; ngoài ra, Việt Nam cũng đang trong quá trình trao đổi với Nhật Bản để chuẩn bị xúc tiến đàm phán theo Tuyên bố chung Việt Nam – Nhật Bản.
Đặc biệt, định hướng cải cách chính sách BHXH thể hiện tại Nghị quyết 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 cũng đặt ra yêu cầu: Rà soát, sửa đổi các quy định về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam tham gia BHXH bắt buộc, gắn với việc đẩy mạnh đàm phán, ký kết hiệp định song phương về BHXH./.

Minh Đức

 

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam