Hướng về nhân dân, vì dân, do dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (Bài 01)

05/12/2019 10:48:12
Không phải đến khi được ánh sáng khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin soi rọi, Hồ Chí Minh mới có những suy nghĩ và hành động vì dân.

(Ảnh minh họa)

 

Điều này đã xuất hiện ngay khi còn là người thiếu niên mười lăm tuổi, Hồ Chí Minh đã chứng kiến cảnh áp bức, nô dịch, bóc lột của thực dân Pháp đối với đồng bào ta. Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào; có ý chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Người tham gia công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Người khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào. Lúc bấy giờ Người đã có một phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, mà hạt nhân là trên cơ sở làm quen, khám phá nền văn minh Pháp và các nước khác, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ Tự do-Bình đẳng-Bác ái. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, rồi sẽ trở về giúp đồng bào. Người không tán thành tư duy dựa vào Anh hay Mỹ để giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp.

Mạch tư duy của Hồ Chí Minh là hướng đến người dân, vì con người, vì Nhân dân, trước hết là vì người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn, ở Việt Nam và thế giới. Khi sang Pháp, Người nhận xét: “Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”. Trông thấy những gái điếm đến làm tiền trên tàu, Người đặt câu hỏi: “Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta?”. Đi “vòng quanh thế giới”, chứng kiến cảnh tượng người da đen bị sóng bể cuốn đi khi phải bơi từ bờ ra tàu lớn đậu ngoài xa, Người khóc và nhận xét: những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt, nhưng những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Nhớ lại cảnh tượng đồng bào ta bị chết đuối ở Phan Rang, Người nói rằng “đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”. Thời gian làm việc dọn bát đĩa, thức ăn thừa của khách ở tiệm ăn Cáclơtông (Luân Đôn), anh Ba (tên của Hồ Chí Minh lúc đó) đã có một ý nghĩ và hành động “cách mạng” (từ dùng của chủ tiệm ăn Cáclơtông, ông Étcốpphie, người có câu nói nổi tiếng “tôi không nấu cho kẻ thù của dân tộc tôi” khi được vua Anh mời phụ trách làm bữa tiệc cho vua Đức sang thăm Luân Đôn), đó là giữ gìn sạch sẽ những thức ăn thừa đưa lại cho nhà bếp để cho người nghèo. Một thế kỷ trước, tháng 06/1919, sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam ở Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách 08 điểm, đòi Việt Nam tự trị và các quyền con người như tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do báo chí, tự do đi lại; bãi bỏ các thứ thuế vô lý.

Cứ thế, cứ thế, tư duy về bênh vực và giải cứu các dân tộc bị áp bức, giải phóng dân tộc, giải phóng con người theo suốt cuộc hành trình đầy chông gai, thử thách của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, Người khẳng định trong “Chánh cương” dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, mở mang công nghiệp, nông nghiệp tạo điều kiện cho người nghèo... Cách mạng thành công, Hồ Chí Minh khẳng định mỗi người và tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyền hạnh phúc và quyền tự do. Đó là lẽ phải, là quyền trời cho, không ai có thể xâm phạm được. Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ (tháng 01/1946), Hồ Chí Minh đưa ra thông điệp, một tuyên ngôn có giá trị vĩnh hằng: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, câu cá trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Hồ Chí Minh nói là làm. Cho đến trước khi sang Pháp (năm 1946), Người đã tỏ cùng đồng bào: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non hay ra, vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc của Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó. Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích làm cho ích quốc lợi dân”. Người - ở tuổi 60 - vẫn “chống gậy lên non xem trận địa”, dõi theo từng bước chân, cái ăn, cái uống, cái mặc, nhịp đập của trái tim người chiến sĩ. Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, mỗi năm Người thực hiện hơn 60 lượt đi xuống cơ sở gặp gỡ đồng bào, đồng chí, đến tận công trường, hợp tác xã, đơn vị bộ đội, trường học, nhà giữ trẻ, miền núi, miền xuôi, hải đảo… Hơn 700 lượt đi trong mười năm (1955-1965) về với nhân dân, sống trong lòng dân, gần dân, để nghe tiếng dân, thấy dân.

PGS.TS Bùi Đình Phong (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam