Mức giới hạn trên của tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH: Từ góc nhìn lý luận & Thực tiễn

26/03/2018 10:42:56
Trong quá trình nghiên cứu về cải cách BHXH ở nước ta hiện nay đang có nhiều ý kiến đề nghị khác nhau về giới hạn trên (mức trần) của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH như: nâng mức giới hạn trên của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH lên 30 lần mức lương cơ sở hoặc giảm xuống bằng 10 lần mức lương cơ sở. Trong bài viết này chúng tôi bàn về cơ sở lý luận về giới hạn trên của mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH (Beitragsbemessungsgrenze) và khả năng vận dụng vào thực tế ở Việt Nam.

Ảnh minh họa

Mức giới hạn trên của tiền lương tháng là gì?
Điều 89 Luật BHXH năm 2014, khoản 3 nêu rõ: “Trường hợp tiền lương tháng cao hơn 20 lần mức lương cơ sở thì tiền lương tháng đóng BHXH bằng 20 lần mức lương cơ sở”. Như vậy, ở nước ta mức giới hạn trên về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là 20 lần lương cơ sở.
Mức lương cơ sở là mức lương dùng làm căn cứ tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác, tính các mức hoạt động phí, tính các khoản trích và chế độ được hưởng theo mức lương này. Mức lương cơ sở là mức lương làm căn cứ tính đóng, hưởng BHXH, BHYT, BHTN cho cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang…Đồng thời, đây cũng là mức lương làm cơ sở để tính thang lương, bảng lương và các khoản phụ cấp. Không có chu kỳ thay đổi mức lương cơ sở nhất định, tuy nhiên, hàng năm Nhà nước vẫn xem xét đến các yếu tố tác động đến việc tăng lương cơ sở và nhiều năm đã thực hiện tăng lương cơ sở mỗi năm 1 lần. Mức lương cơ sở được điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Giới hạn trên của tiền lương tháng (theo tháng hoặc theo năm) đóng BHXH được hiểu là giới hạn được phép tiếp cận về tiền lương (theo tháng hoặc theo năm) của người lao động làm căn cứ thu đóng góp BHXH theo quy định của Luật BHXH. Giới hạn trên của tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH (gọi tắt là “trần đóng góp BHXH”) về nguyên tắc được xác định trong khoảng kể từ mức thu nhập thấp đối với những việc làm có nghĩa vụ BHXH đến mức tiền lương cao từ hoạt động lao động (việc làm) có nghĩa vụ BHXH. Người tham gia BHXH nếu có mức thu nhập tháng (hoặc năm) từ lao động có nghĩa vụ BHXH thì chỉ phải đóng tới mức giới hạn trần (trên) về tiền lương, thu nhập làm căn cứ đóng BHXH. Trên cơ sở đó, người lao động cũng chỉ được phép yêu cầu về mức hưởng BHXH căn cứ vào cơ sở mức trần đóng BHXH trước đó.
Theo quy định của Luật BHXH 2014 từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động. Vì vậy, để đồng nhất về khái niệm “tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH” chúng ta có thể hiểu đó là những khoản tiền lương, tiền công và các loại phụ cấp khác mang tính chất lương do kết quả hoạt động lao động mang lại bằng tiền cho người lao động hay có thể hiểu là thu nhập từ hoạt động lao động (được Luật pháp cho phép) mà có.
Mức trần đóng BHXH là một tiêu thức rất quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán đóng góp và hưởng thụ BHXH. Nhìn dưới góc độ phân phối lại trong nền kinh tế quốc dân, cùng với công cụ thuế thu nhập cá nhân thì hoạt động BHXH là hoạt động điều tiết thu nhập của những người lao động trong những khoản tiền lương, thu nhập nhất định. Đối với những người có thu nhập cao và rất cao so với khoảng thu nhập làm căn cứ BHXH thì họ sẽ được giải phóng khỏi nghĩa vụ BHXH, điều đó có nghĩa là với thu nhập rất cao của mình, họ có thể tự chủ động lo toan được những rủi ro trong khuôn khổ phạm vi các rủi ro của BHXH. Đối với những người lao động mà thu nhập của họ vượt mức trần đóng BHXH thì phần vượt trội đó được giành cho sự chủ động, tự do của người lao động để họ tự lo toan bổ sung khi thất nghiệp và đặc biệt là sự tích lũy cho tuổi già. Nhà nước sẽ không can thiệp vào phần thu nhập vượt trội khỏi mức trần đóng BHXH đó. Về mức tiền lương, thu nhập dưới làm căn cứ đóng BHXH (gọi là mức sàn đóng BHXH) thì tùy theo từng nước có quy định hoặc không quy định căn cứ vào điều kiện thị trường lao động, việc làm cũng như các chính sách trợ cấp xã hội khác khi người lao động nhận mức lương hưu hoặc trợ cấp BHXH thấp hơn mức sống cơ bản.
Cần phải có khoản tiền lương, thu nhập làm căn cứ đóng BHXH (trần và sàn đóng BHXH) của mọi người lao động thì mới có ý nghĩa trong việc điều tiết của BHXH. Những người có tiền lương, thu nhập nằm ngoài khoản tiền lương, thu nhập làm căn cứ đóng BHXH sẽ làm cho hoạt động điều tiết thu nhập của BHXH mất hết ý nghĩa. Những người có mức thu nhập cao hơn mức trần được coi là có thể tự bảo vệ được bản thân trước rủi ro thuộc phạm vi của BHXH, không phù hợp giữa khả năng kinh tế cá nhân với mức đóng góp và mức hưởng theo nhu cầu riêng; họ không phải tương trợ, chia sẻ bởi lẽ sự điều tiết xã hội quá lớn đối với họ vô hình lại tạo ra sự bất bình đẳng mới và không khuyến khích người lao động tích cực nâng cao thu nhập. Nhóm người có khả năng kinh tế đặc biệt này sẽ tách ra khỏi nhóm điều tiết xã hội và được giải phóng khỏi nghĩa vụ BHXH. Sự phân phối điều tiết lại của xã hội chỉ giới hạn trong phạm vi tương đối những người có nhu cầu tham gia bảo hiểm và trong một khoảng thu nhập nhất định do xã hội quy định trong từng thời kỳ. Những người có mức thu nhập thấp hơn hoặc cao hơn “khoảng thu nhập nằm trong giới hạn điều tiết xã hội” sẽ tham gia bảo hiểm theo hình thức khác.
Thậm chí mức giới hạn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH còn được nhìn nhận dưới góc độ luật pháp cũng như quyền tự do cá nhân của mỗi người. Như ở CHLB Đức, quốc gia có lịch sử phát triển BHXH hơn 100 năm nay, Tòa án Hiến pháp Liên Bang Đức đã quy định rằng mức giới hạn tiền lương làm căn cứ theo nghĩa vụ đóng góp BHXH ngay từ đầu đã thuộc về nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm hưu trí theo Luật. Thông qua giới hạn mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH sẽ giới hạn không chỉ gánh nặng đóng góp của những người tham gia bảo hiểm hưu trí có mức thu nhập cao mà còn giảm đi mức độ quan trọng giữa một bên là tự do hành động chung với một bên là bắt buộc phải tham gia BHXH. Khi đó, người lao động chỉ phải bắt buộc tham gia đóng BHXH tới mức giới hạn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH quy định. Phần tiền lương vượt trên mức giới hạn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH sẽ do người lao động tự do hành động theo mục đích riêng của họ. Giới hạn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH theo góc độ của Tòa án thì đây cũng là một chức năng “giới hạn mức quyền lợi hưởng” nhằm giữ được chức năng đảm bảo sự tồn tại mức sống của những người hưởng lương hưu và đồng thời đảm bảo khả năng chi trả về tài chính của chế độ BHXH hưu trí theo Luật. Dựa vào đó mà Tòa án Hiến pháp Liên Bang Đức đã nhấn mạnh quan điểm tương đồng giữa mức đóng góp và mức quyền lợi hưởng. Từ những quy định trong Luật BHXH hưu trí về việc tự do hành động chung gắn với bắt buộc về BHXH, tiếp đến là nghĩa vụ của người ban hành luật pháp phải có những điều Luật quy định nghĩa vụ phải đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời những quyền lợi BHXH thích đáng trong trường hợp được bảo hiểm khi rủi ro tương ứng xảy ra đối với sự đóng góp BHXH đầy đủ.
Đối với Việt Nam thì việc quy định mức trần tiền lương làm căn cứ đóng BHXH đã được thể hiện rất rõ trong thực tiễn. Trước năm 2007, khi chưa thực hiện chính sách BHXH theo Luật BHXH năm 2006, lúc đó chưa có quy định mức giới hạn trần về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH không quá 20 lần lương cơ sở nên đã có một số người có mức tiền lương đóng BHXH cao gấp nhiều lần mức tiền lương bình quân chung của những người tham gia đóng góp BHXH trong cùng năm nên đến năm 2015 có người về hưu đã hưởng lương hưu tới 87.000 000 đ/tháng tức là bằng 75,65 (87.000.000: 1.150.000) lần tiền lương cơ sở năm 2015 và bằng 15 lần (87.000.000: 5.720.000) mức thu nhập bình quân của người lao động năm 2015 tức là hơn cả bình quân lương, thu nhập 1 năm của 1 người lao động bình thường. Mức thu nhập từ lương hưu cao này quá mức so với mức thu nhập bình quân chung của mọi người lao động trong xã hội. Trong khi đó, những người nông dân tham gia BHXH tại Nghệ An được chuyển sang BHXH quản lý nhưng do mức đóng trước đó rất thấp, chỉ từ 10.000đ/ tháng tới 50.000đ/tháng nên có người đến nay chỉ hưởng 250.000đ/tháng. Mức hưởng này chỉ bằng 19,23% tiền lương cơ sở năm 2017 và mức hưởng này không có ý nghĩa đối với cuộc sống người già.
Ở các nước công nghiệp phát triển, còn quy định mức trần đóng góp cho chế độ BHYT luôn thấp hơn mức trần làm căn cứ đóng BHXH hưu trí và thất nghiệp (ví dụ năm 2017 mức trần đóng BHYT ở Đức là 4.350 Euro/tháng nhưng mức trần làm căn cứ đóng BH hưu trí và BH thất nghiệp lại là 6.530 Euro/tháng (vùng Tây Đức) và 5.700 Euro (Vùng Đông Đức) tức là mức trần đóng BHYT chỉ bằng từ 66,63% đến 76% mức trần đóng BH hưu trí và BHTN. Sở dĩ có sự khác biệt này vì chế độ BHYT là chế độ dựa vào cộng đồng đoàn kết tương trợ, chia sẻ rủi ro, nên sự chia sẻ rủi ro ở mức thu nhập cao như BH hưu trí và BHTN sẽ làm cho một bộ phận những người lao động có mức thu nhập cao hơn mức thu nhập làm căn cứ đóng BHYT không đồng tình, từ đó sẽ làm giảm động lực nâng cao năng suất lao động và trình độ chuyên môn nhằm đạt thu nhập cao của người lao động. Đồng thời, việc giảm đi sự tích cực nâng cao năng suất của những người lao động có chất lượng cao cũng ngăn cản sự tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, chế độ BH hưu trí hoặc chế độ BHTN có mức hưởng định hướng theo mức đóng (quan hệ tương đồng giữa đóng và hưởng) nên có sự khuyến khích đóng ở mức cao hơn để được hưởng cao hơn lại phù hợp. Đương nhiên trần đóng BHXH ở mức nào là hợp lý thì phải tính toán dựa vào các yếu tố tác động trực tiếp trong từng thời kỳ cụ thể.
Vì vậy việc xác định mức trần đóng BHXH luôn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực BHXH nói riêng và trong hoạt động điều tiết xã hội của nhà nước nói chung. Cho nên, cũng như ở nhiều nước, mức trần đóng BHXH phải do Chính phủ quyết định và thực hiện từng năm. Mức trần này sẽ được điều chỉnh tăng dần theo mức tăng trưởng của tiền lương, thu nhập của người lao động. Ở nước ta quy định mức trần đóng BHXH là 20 lần lương cơ sở. Khi tiền lương cơ sở tăng thì mức trần làm căn cứ đóng BHXH cũng tăng lên về số tiền tuyệt đối. Điều này phù hợp với lý thuyết chung về trần đóng BHXH trên thế giới.

Những căn cứ để xác định mức trần đóng BHXH
Việc xác định mức trần đóng BHXH có ý nghĩa và tác dụng rất lớn đến hoạt động điều tiết giữa kinh tế và xã hội của cả nước cũng như điều tiết thu nhập của người lao động để vừa một mặt đảm bảo cuộc sống khi người lao động hưởng các chế độ BHXH, những mặt khác vẫn phải khuyến khích được người lao động nâng cao năng suất lao động, nâng cao trình độ chuyên môn để đạt được thu nhập cao hơn, khuyến khích tăng trưởng kinh tế. Vì vậy mức trần đóng BHXH phải dựa vào nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố này lại có những tác động ràng buộc lẫn nhau nên cần phải cân nhắc để lựa chọn một mức trần đóng BHXH cho hợp lý nhất theo từng năm.
Các căn cứ để xác định mức trần về tiền lương, thu nhập làm căn cứ đóng BHXH gồm:
- Tiền lương, thu nhập từ lao động và mức tiền lương bình quân chung (tháng, năm) của người lao động trong phạm vi cả nước. Việc xác định mức tiền lương, thu nhập bình quân chung của người lao động trong cả nước nhằm đảm bảo được mức phổ quát chung về tiền lương, thu nhập của người lao động (ít nhất phải đảm bảo mức thu nhập bình quân chung của khoảng 80% người lao động – phân bố tập trung và loại bỏ những người có thu nhập cao hơn nhưng chỉ chiếm với tỷ lệ thấp – phân tán xa).
- Quy định về tỷ lệ đóng góp của Luật BHXH, Luật BHYT, Luật việc làm và Luật An toàn vệ sinh lao động. Tỷ lệ đóng góp vào BHXH đối với từng chế độ ở các quốc gia sẽ rất khác biệt nhau. Điều mà người ta quan tâm là tỷ lệ đóng góp BHXH sẽ dẫn đến số tiền tuyệt đối phải khấu trừ để đóng góp hàng tháng so với phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đóng góp BHXH, kể cả đóng góp thuế thu nhập cá nhân (nếu có). Mức tiền còn lại sau khi đã trừ các khoản đóng góp xã hội sẽ được tiêu dùng cá nhân hoặc tiết kiệm thêm. Số tiền tiêu dùng cá nhân và gia đình hàng tháng không chỉ nhằm đáp ứng cho nhu cầu sống, học tập, làm việc và nghỉ ngơi mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cung hàng hóa cho tiêu dùng.
- Các khoản đóng góp xã hội khác (nếu có) cũng được xem xét đến nhằm tính được số tiền lương thực sự được lĩnh (Netto) hàng tháng, hàng năm để xem xét đến khả năng thu nhập thực sự có được cho tiêu dùng của người lao động.
 - Mức độ đảm bảo đời sống cho tuổi già (người nghỉ hưu và lương hưu). Số tiền đóng góp bảo hiểm hưu trí (có liên quan đến mức giới hạn trần làm căn cứ đóng và tỷ lệ đóng góp) sẽ tác động trực tiếp đến mức lương hưu sau này cũng như mức độ đảm bảo cuộc sống cho người nghỉ hưu khi nhận lương hưu. Trong đó nếu mức trần làm căn cứ đóng BHXH cao sẽ tạo điều kiện cho người lao động đóng cao và nhận được mức lương hưu cao sau này.
- Các cơ sở kinh tế xã hội khác để xác định mức trần đóng BHXH:
+ Thuế thu nhập cá nhân. Có nhiều nước luôn xem xét cả khoản đóng thuế thu nhập cá nhân và đóng BHXH hàng tháng để tính toán mức trần đóng BHXH cho phù hợp. Thậm chí với mức thu nhập cao hơn trần đóng BHXH thì phần thu nhập vượt trội đó bị đánh thuế thu nhập cá nhân với tỷ lệ tăng cao hơn (ví dụ ở Đức, nếu mức thu nhập vượt qua mức không phải đóng thuế thu nhập cá nhân nhưng chưa tới mức trần đóng BHXH thì tỷ lệ thuế là 14%. Nhưng nếu mức thu nhập vượt qua mức trần đóng BHXH thì mỗi đồng Euro vượt trội sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân tới 42%).
+ Thu nhập chung của gia đình. Việc xác định trần đóng BHXH cũng cần phải xem xét đến việc phân phối thu nhập gia đình, nhằm làm giảm bớt sự đóng góp BHXH đối với thu nhập gia đình. Ví dụ một gia đình mà người chồng có thu nhập cao, khoảng 30 lần lương cơ sở, người vợ có mức lương thấp chỉ 3 lần lương cơ sở thì mức đóng BHXH tính chung của cả vợ và chồng chỉ ở mức trần là 23 lần lương cơ sở. Trong khi đó ở một cặp vợ, chồng khác, mức lương hàng tháng là 18 lần lương cơ sở, mức lương của người vợ là 15 lần lương cơ sở. Tổng cộng lương tháng của cả vợ và chồng cũng là 33 lần lương cơ sở nhưng cặp vợ chồng này phải đóng BHXH tổng cộng cả vợ và chồng là 33 lần lương cơ sở. Từ đó dẫn đến gánh nặng khác nhau về thu nhập gia đình nên cần phải xác định trần đóng góp BHXH cho hợp lý.
+ Mức sống cơ bản chung. Ở đây cần phân biệt rõ sự khác biệt giữ mức sống cơ bản (hay mức sống tối thiểu) với mức lương cơ sở hay mức lương tối thiểu. Mức sống cơ bản là chỉ tiêu tổng hợp để Chính phủ và người dân cùng phấn đấu cũng như là căn cứ để xác định các khoản đóng góp xã hội. Cho nên mọi sự đóng góp xã hội như đóng góp BHXH, đóng thuế thu nhập cá nhân và các khoản đóng góp xã hội khác (nếu có) sau khi đã được khấu trừ, thì phần tiền lương, thu nhập thực lĩnh ít nhất phải đảm bảo đủ mức sống cơ bản cho người lao động và gia đình họ.
+ Theo từng thời kỳ kinh tế - xã hội, dân số và lao động. Những yếu tố tác động này cũng rất linh hoạt, ví dụ giai đoạn kinh tế phát triển nhanh, ổn định với giai đoạn kinh tế phát triển chậm và không ổn định; dân số già hóa hay trẻ hóa hoặc nguồn lao động dồi dào hay thiếu hụt sẽ tác động trực tiếp đến mức trần đóng BHXH.
Ở nhiều nước, người ta cần phải xem xét một cách thường xuyên đến “gánh nặng” đóng góp chung của người lao động về thuế thu nhập cá nhân, đóng góp BHXH và những đóng góp xã hội khác để từ đó quyết định về trần đóng BHXH cho phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.
Ví dụ như ở Thụy Sỹ không có giới hạn trần đóng góp BHXH. Ở đó mọi người phải đóng góp BHXH ở mức lương đầy đủ (Brutto) bởi ở nước này quy định mức thuế thu nhập cá nhân thấp nên người ta khuyến khích đóng góp BHXH dựa trên thu nhập thực tế từ lao động. Ở Đức thì mức trần đóng BHXH được xây dựng bằng 2 lần thu nhập bình quân năm của toàn bộ người lao (thu nhập bình quân khoảng 36000 Euro/năm, mức trần làm căn cứ đóng BHXH là khoảng 72.000 Euro/năm) và mỗi năm sẽ tăng lên theo tốc độ tăng lương. Ví dụ tỷ lệ tăng lương là 2%/năm thì mức giới hạn trên làm căn cứ đóng BHXH cũng tăng 2%./.

 

TS. Phạm Đình Thành
Viện khoa học BHXH, BHXH Việt Nam

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam