Năm 2030, cải thiện bền vững các chỉ số về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch

23/11/2018 15:38:25
Góp phần nâng cao nhận thức, cải thiện về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch đối người dân sinh sống tại nông thôn, những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, nhóm đối tượng yếu thế như người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, đảm bảo công bằng trong công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân – Đây là một trong những mục tiêu hướng tới của Đề án Truyền thông về Cải thiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn giai đoạn 2018-2025 và tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành Quyết định số 6847/QĐ-BYT ngày 13/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế).

(Ảnh minh họa)

Thực trạng công tác vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch

Trong những năm vừa qua, việc thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã mang lại hiệu quả đáng kể, góp phần cải thiện đời sống của người dân. Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh đã tăng lên gần 24,2% trong vòng 10 năm (2006: 59,1% và 2017: 83,3%). Đến hết năm 2016, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh trong toàn quốc khoảng 83,3%, trong đó tỷ lệ hộ gia đình thành thị có nhà tiêu hợp vệ sinh 96,2%, và tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 77%. Tuy nhiên, tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh phân bố không đồng đều giữa các vùng sinh thái. Khu vực Đồng bằng sông Hồng 97,8%, Đông Nam Bộ 97,1%, tiếp theo là các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung 84%, các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc 67,6%, Đồng bằng sông Cửu Long 67,3%, và các tỉnh Tây Nguyên 63,3%9, trong đó nhiều tỉnh có tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình đạt dưới 50%.

Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh tăng hơn 8% từ năm 2011 đến năm 2015. Đến đầu năm 2017, tỷ lệ hộ gia đình nông thôn của cả nước được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 85,7%, trong đó chỉ có 49% được sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế.

Về cấp nước và vệ sinh đối với trường học (Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở) và trạm y tế: Đến nay có khoảng 93% trạm y tế có nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh được quản lý và sử dụng tốt. Tuy nhiên một số vùng có tỷ lệ trạm y tế có nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp thuộc miền núi phía Bắc (80%) và Tây Nguyên (84%). Đến cuối năm 2015, tỷ lệ các trường học có nguồn nước sạch và nhà tiêu HVS là 78,6%, vẫn còn nhiều trường học, nhà trẻ, mẫu giáo thiếu nguồn nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh.

Việc thực hiện hành vi rửa tay với xà phòng của người dân vào các thời điểm quan trọng như trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh còn thấp và chưa duy trì được thành thói quen thường xuyên. Tỷ lệ rửa tay với xà phòng của người dân trước khi ăn là 54%, rửa tay với xà phòng sau khi đi đại tiện là 63,8% và rửa tay với xà phòng sau khi đi tiểu tiện là 11,8%.

Tại khu vực nông thôn, chất thải rắn sinh hoạt trong cả nước khoảng 31.500 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom trung bình chỉ đạt 40-50%. Tại các thị trấn, thị tứ, các vùng ven đô tỷ lệ thu gom vận chuyển đạt khoảng 60-80%.

Mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và các chỉ tiêu

Đề án Truyền thông về Cải thiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn giai đoạn 2018-2025 và tầm nhìn đến năm 2030 đặt mục tiêu tăng cường triển khai có hiệu quả các hoạt động thông tin, truyền thông về cải thiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn góp phần củng cố, nâng cao nhận thức và trách nhiệm thực hiện của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các bộ, ban ngành, đoàn thể, các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn nhằm phòng chống dịch, bệnh và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Trong đó, đến năm 2025:

Nâng cao nhận thức và trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các bộ, ban ngành, địa phương và đoàn thể trong việc thực hiện công tác truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn. Chỉ tiêu cụ thể:

- 100% lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, các bộ, ban ngành, địa phương, và đoàn thể được tuyên truyền, phổ biến về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn.

- 80% các tỉnh, thành phố có kế hoạch triển khai hoặc đưa nội dung truyền thông về cải thiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và bố trí kinh phí thực hiện.

- 100% các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội đưa nội dung truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn vào kế hoạch hoạt động hàng năm, trung hạn và dài hạn.

Nâng cao nhận thức và năng lực truyền thông của cán bộ làm công tác truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn. Chỉ tiêu cụ thể:

- 100% các tỉnh, thành phố có tổ chức tập huấn về phương pháp và kỹ năng truyền thông thay đổi hành vi về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn cho các cán bộ y tế và cán bộ các bộ, ban ngành, đoàn thể có liên quan tại tất cả các cấp.

- 70% cơ quan báo chí và cán bộ làm công tác thông tin cơ sở được cập nhật kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn.

- 100% nhân viên y tế thôn bản được tập huấn về phương pháp và kỹ năng truyền thông và được cung cấp tài liệu truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn.

- 70% cộng tác viên truyền thông từ các ban ngành, đoàn thể được tập huấn về phương pháp truyền thông và được cung cấp tài liệu truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn.

Nâng cao nhận thức và thực hành của người dân nông thôn về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn. Chỉ tiêu cụ thể:

- 80% các tỉnh, thành phố hàng năm có tổ chức các hoạt động hưởng ứng các sự kiện về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn.

- 100% các tỉnh, thành phố xây dựng và phổ biến các loại tài liệu truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn trên các kênh truyền thông cho các đối tượng khác nhau.

- 70% các tỉnh, thành phố triển khai mô hình truyền thông về vệ sinh dựa vào cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

- 100% trạm y tế xã, trường học tổ chức truyền thông và có góc truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn.

Tầm nhìn đến năm 2030:

Phấn đấu các chỉ tiêu đã đặt ra trong giai đoạn năm 2018 - 2025 đạt 100%; Đảm bảo công tác truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn được duy trì bền vững.

Nội dung chính của Đề án

Đề án Truyền thông về Cải thiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn giai đoạn 2018-2025 và tầm nhìn đến năm 2030 được xây dựng là cơ sở để các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai công tác truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn. Qua đó, góp phần tăng cường nhận thức về trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo bộ, ban ngành, địa phương và đoàn thể thực hiện công tác truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn; góp phần nâng cao nhận thức và năng lực truyền thông của cán bộ làm công tác truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn; góp phần nâng cao nhận thức, cải thiện về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch đối người dân sinh sống tại nông thôn, những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, nhóm đối tượng yếu thế như người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, đảm bảo công bằng trong công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Đề án có ý nghĩa thực tiễn bởi thông qua dự phòng cấp một bằng giải pháp truyền thông sẽ tạo những thói quen cho người dân về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, sử dụng nước sạch đem lại hiệu quả phòng chống dịch, bệnh không chỉ của từng cá nhân mỗi người mà với cả cộng đồng dân cư. Thực hiện có hiệu quả truyền thông thay đổi hành vi để mọi người dân, mọi cộng đồng quan tâm thực hiện tốt và duy trì bền vững các hành vi có lợi cho sức khỏe chính là giải pháp hiệu quả nhất và rẻ tiền của công tác vệ sinh phòng chống dịch, bệnh. Vì vậy, nội dung của Đề án bao gồm:

- Đánh giá thực trạng công tác truyền thông về cải thiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn trên toàn quốc.

- Xây dựng kế hoạch truyền thông tại Trung ương và địa phương; lồng ghép các hoạt động truyền thông về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và nước sạch nông thôn vào các chương trình, dự án có liên quan như Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới, dinh dưỡng, phòng chống dịch và các phong trào của các Bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị xã hội.

- Xây dựng chính sách và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ban, ngành và các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan thông tin báo chí.

- Xây dựng, phát triển các tài liệu và thông điệp truyền thông gắn với hoạt động truyền thông tổng thể của các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương và phù hợp với đối tượng truyền thông từng vùng miền.

- Tổ chức, phối hợp với các Ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội triển khai các hoạt động truyền thông vận động chính sách, nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác truyền thông, nâng cao nhận thức và thực hành của người dân nông thôn về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch nông thôn.

- Nghiên cứu xây dựng các sáng kiến, mô hình và tổ chức đánh giá, triển khai áp dụng các sáng kiến, mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng.

- Huy động nguồn lực, hợp tác quốc tế và xã hội hóa cho công tác truyền thông thay đổi hành vi về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và nước sạch nông thôn.

BS.Phan Kim

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam