Nâng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình phù hợp với từng nhóm đối tượng

14/12/2016 11:11:07
Dự kiến, năm 2017, Bộ luật Lao động 2012 sẽ được Quốc hội xem xét sửa đổi những quy định quan trọng cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Theo đó, Dự luật sẽ sửa đổi, bổ sung những bất cập trong Bộ luật Lao động 2012 đã phát sinh hoặc dự kiến phát sinh trong thực tiễn nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của quan hệ lao động, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động. Bên cạnh đó, sẽ sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012 để đảm bảo phù hợp với nội dung các luật đã ban hành trong thời gian gần đây. Một trong các quy định được cơ quan dự thảo đưa ra liên quan đến việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động.

 Điều 187 Bộ luật Lao động quy định: “Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi”. Quy định này, theo đề xuất sẽ được xem xét điều chỉnh theo hướng nâng dần tuổi nghỉ hưu của người lao động. Lý giải vấn đề này, cơ quan soạn thảo cho rằng, với xu hướng tăng tuổi thọ, giảm nguồn cung nhân lực do chính sách giảm sinh trong những năm qua và do tuổi thọ bình quân hiện nay cao, dẫn đến thời gian chi trả lương hưu dài, ảnh hưởng đến cân đối quỹ, vì vậy, vấn đề tăng tuổi nghỉ hưu sẽ được xem xét trong lần sửa đổi luật lần này. Một trong các phương án được đề xuất là tăng tuổi nghỉ hưu của nữ giới lên 58, nam giới lên 62.

   Tuổi nghỉ hưu của người lao động đã từng một lần được điều chỉnh

Các nghiên cứu cho thấy, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động ở Việt Nam từng quy định trong các văn bản pháp luật trước đây. Giai đoạn 1945-1960, tuổi nghỉ hưu của cán bộ, công chức được quy định tại Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 54/SL ngày 01/11/1945 ấn định cho công chức về hưu, theo đó: “Từ 01/10/1945, công chức thuộc tất cả các ngạch, tại chức hay đang nghỉ việc bất cứ vào trong trường hợp nào, đều phải nghỉ hưu mỗi khi có đủ một trong hai điều kiện sau đây: Hoặc đã làm việc được 30 năm; hoặc đã đến 55 tuổi” và Sắc lệnh của Chủ tịch nước số 77/SL ngày 22/05/1950 tại Điều 42 có quy định tuổi nghỉ hưu của công nhân: “Về hưu sau khi làm việc 30 năm, hoặc đã đủ 55 tuổi, công nhân được nghỉ hưu”. Như vậy, với 02 Sắc lệnh này, tuổi nghỉ hưu của cả công chức và công nhân là 55 tuổi hoặc thấp hơn tuổi này khi có thời gian làm việc là 30 năm.

Sau 15 năm, từ 1961-1994, tuổi nghỉ hưu của nam được điều chỉnh tăng 05 năm, nữ vẫn giữ như quy định trước và được quy định tại Điều 42 Nghị định số 218/CP của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước ngày 27/12/1961: “Công nhân, viên chức nhà nước nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi được về hưu”. Ngoài điều kiện tuổi nói trên, công nhân, viên chức có đủ điều kiện sau đây được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí: Nam có thời gian công tác nói chung 25 năm, thời gian công tác liên tục 05 năm; nữ có thời gian công tác nói chung 20 năm, thời gian công tác liên tục 05 năm). Đây có thể coi là đợt điều chỉnh tuổi nghỉ hưu lần thứ nhất ở nước ta. Quy định này được duy trì cho tới hiện nay, áp dụng cho cả lao động khu vực Nhà nước và ngoài Nhà nước. Như vậy, sau 55 năm ban hành chính sách về tuổi nghỉ hưu đối với lao động nam và sau 70 năm đối với lao động nữ, tuổi nghỉ hưu chưa có sự điều chỉnh và tại thời điểm này đang được đặt ra để xem xét điều chỉnh.

   Sự cần thiết nâng dần tuổi nghỉ hưu

Đúng như sự luận giải của cơ quan soạn thảo về sự cần thiết nâng dần tuổi nghỉ hưu của người lao động trong bối cảnh hiện nay xuất phát từ một số lý do chính sau:

Tốc độ già hóa dân số của nước ta tăng nhanh so với các quốc gia khác và tuổi thọ trung bình hiện nay là 73,2 tuổi (nam 70,6 tuổi, nữ 76,0 tuổi), tăng gấp đôi so với tuổi thọ trung bình dân số năm 1945. Trong khi đó, tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân hiện là 53,4 tuổi (nam 55,3 tuổi, nữ 51,7 tuổi). Vì vậy, nếu tuổi nghỉ hưu vẫn giữ ở 60 đối với nam và 55 đối với nữ, tỷ lệ người nghỉ hưu so với người đang trong độ tuổi lao động dự đoán sẽ tăng từ 19,4% (năm 2009) lên 59,5% (2049) và tiếp tục lên 77,7% (năm 2099). Trong bối cảnh tuổi thọ trung bình đã và sẽ tiếp tục tăng nhanh, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động so với người nghỉ hưu đang ngày càng giảm đi do mức sinh giảm, tuổi thọ tăng lên. Theo tính toán của BHXH Việt Nam, Quỹ Hưu trí dự báo có thể có khả năng mất cân đối trong vòng 10, 15 năm tới. Theo đó, năm 2023, số thu BHXH bằng số chi, từ năm 2024 trở đi để đảm bảo chi các chế độ tử tuất và hưu trí cho người lao động thì chi từ số thu trong năm còn phải trích thêm từ số dư của quỹ. Và vào năm 2037, nếu không có các chính sách hoặc biện pháp cải thiện tình trạng này thì số thu BHXH trong năm và số tồn tích của quỹ bắt đầu không đảm bảo khả năng chi trả, các năm sau đó sự mất cân đối trở nên nghiệm trong khi mà số chi sẽ lớn hơn rất nhiều so với số thu trong năm.

Sự hội nhập quốc tế trong việc di chuyển lao động giữa các quốc gia trong khu vực khi hình thành Cộng đồng Kinh tế AEC đồng thời với việc hội nhập quốc tế sẽ hướng tới việc ký kết các hiệp định An sinh xã hội cũng khiến cần điều chỉnh tuổi nghỉ hưu để từng bước tương thích với các quốc gia khác trong việc tiếp nhận và cung ứng lao động.

Và việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trong thời gian tới cũng là từng bước thực hiện cam kết quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Theo đó, trách nhiệm các quốc gia phê chuẩn công ước này sẽ có lộ trình sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp quy của pháp luật bảo đảm xóa bỏ sự phân biệt với phụ nữ mà tuổi nghỉ hưu của lao động nam và nữ cần được điều chỉnh cho thích hợp.

Tuy nhiên, tùy thuộc hoàn cảnh mỗi nước, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cần được tính toán thận trọng và có một lộ trình phù hợp trong quá trình thực hiên.

   Nhận diện thực trạng Quỹ BHXH và giải pháp

Thống kê về số người đóng BHXH và số người được hưởng lương hưu trong thời gian qua cho thấy, năm 1996 cứ 217 người đóng BHXH, thì có một người hưởng lương hưu; năm 2000, số người đóng giảm xuống còn 34; năm 2009, 11 người và hiện nay, 09 người đóng BHXH thì có 01 người hưởng lương hưu. Dự báo đến năm 2040, 02 người đóng BHXH cho 01 người hưởng. Như vậy, có thể thấy Quỹ Bảo hiểm hưu trí dự báo sẽ mất cân đối - tổng số chi cho người hưởng BHXH lớn hơn tổng số thu từ người tham gia BHXH. Chỉ báo này thường để nhận diện về tình trạng Quỹ BHXH bị mất cân đối đối với hệ thống BHXH chi trả lương hưu thực hiện theo cơ chế đóng - hưởng với mức hưởng xác định và được gọi là Hệ thống BHXH theo cơ chế PAYG. Hiện có khoảng 49% số quốc gia chi trả lương hưu theo hệ thống này. Hoa Kỳ là một ví dụ. Thông điệp Liên bang của Tổng thống đọc trước Quốc hội ngày 02/02/2005 cũng sử dụng chỉ báo này khi nói về hệ thống ASXH: “Thay vì 16 người đóng góp cho 01 người hưởng phúc lợi, ngay lúc này con số đó chỉ là khoảng 03 người. Và trong vài thập kỷ tới, con số chỉ là 02 người đóng cho 01 người hưởng phúc lợi. Như vậy, đây là kết quả 13 năm kể từ nay trở đi, vào năm 2018, hệ thống ASXH sẽ chi nhiều hơn số thu được. Vào năm 2042, toàn bộ hệ thống này sẽ kiệt quệ và phá sản…”.

Với Việt Nam, các tính toán cho thấy, tổng số tiền đóng BHXH của 01 người trong suốt quá trình tham gia BHXH cùng với lãi suất có được do hoạt động đầu tư từ quỹ sẽ chi trả lương hưu cho người nghỉ hưu trong khoảng thời gian trung bình từ 08- 15 năm (tùy thuộc vào số năm đóng, tuổi người về hưu và làm việc tại khu vực kinh tế nào trước khi nghỉ hưu). Trong khi đó, tuổi thọ trung bình của dân số hiện nay là 73,2, tuổi nghỉ hưu thực tế là 53,4. Như vậy, thời gian Quỹ BHXH cần chi trả cho người hưởng lương hưu bình quân dài hơn số năm người lao động hưởng lương hưu được chi trả do số tiền mình đã đóng. Đây cũng là đặc điểm cơ chế tài chính của mọi quốc gia khi áp dụng hệ thống BHXH theo PAYG. Vì vậy, việc hưởng lương hưu của người nghỉ hưu trong hệ thống BHXH hiện nay không hoàn toàn chỉ chi từ nguồn tiền người lao động đã đóng trước đó.

Một điểm cần lưu ý, theo cơ chế này, cân đối Quỹ Hưu trí trong dài hạn chỉ có tính chất tương đối. Khi điều chỉnh chính sách hoặc thực hiện một số giải pháp để có thể lập được cân đối của quỹ thì sau thời gian vận hành, Quỹ Bảo hiểm hưu trí sẽ lại xuất hiện sự mất cân đối mới tại một thời điểm nào đó. Giải pháp thiết lập sự cân đối quỹ có thể áp dụng một hoặc đồng thời các giải pháp như tăng hiệu quả đầu tư quỹ; giảm chi phí quản lý bộ máy bằng cách áp dụng công nghệ thông tin trong mọi khâu; giảm mức hưởng của người thụ hưởng thông qua thay đổi các tham số trong công thức tính mức hưởng BHXH hoặc tăng mức đóng BHXH; mở rộng quy mô người tham gia BHXH, bổ sung một số quy định nhằm hạn chế số lượng người hưởng BHXH một lần; tăng cường công tác đốc thu, hạn chế cao nhất việc trốn đóng, chậm đóng BHXH hoặc điều chỉnh tăng dần tuổi nghỉ hưu của người lao động. Hệ thống bảo hiểm của các quốc gia phương Tây đã phát triển và tồn tại từ lâu, song vẫn liên tục phải cải cách. Khả năng cân đối về tài chính của hệ thống sẽ phụ thuộc vào nhiều tham số, ví dụ tuổi nghỉ hưu, thời gian đóng góp, tỷ lệ đóng góp, mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm và công thức tính mức hưởng. Tuy nhiên, giải pháp căn cơ và lâu dài hơn như một số quốc gia đã thực hiện là từng bước chuyển dần cơ chế đóng - hưởng với mức hưởng xác định sang hệ thống BHXH hoạt động theo cơ chế đóng - hưởng với mức đóng xác định (thường được gọi là tài khoản cá nhân danh nghĩa).

Thực tế một số giải pháp nêu trên đã từng bước được Việt Nam áp dụng trong việc xây dựng Luật BHXH năm 2006 và Luật BHXH (Sửa đổi).

   Tăng tuổi nghỉ hưu cần có lộ trình cho từng nhóm đối tượng

Các quốc gia có hệ thống BHXH vận hành như Việt Nam đều thực hiện những điều chỉnh trên khi Quỹ BHXH có dấu hiệu mất cân đối trong dài hạn. Và một trong các giải pháp luôn được tính tới là điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu. Song trong quá trình thiết kế và tổ chức thực thi ở bất kỳ thời điểm nào và ở không ít quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển, việc tăng tuổi nghỉ hưu luôn vấp phải sự phản ứng của xã hội. Vấn đề đặt ra làm thế nào việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động mà không tạo ra căng thẳng, gây phản ứng của xã hội. Do đó, mỗi quốc gia có những tính toán thận trọng và biện pháp phù hợp không chỉ thuần túy mang tính kỹ thuật. Cần làm rõ hơn việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trong giai đoạn tới đã là một đòi hỏi bức thiết chưa và cần tạo được sự đồng thuận về nhận thức trong xã hội. Mặt khác, xây dựng các phương án cụ thể và có lộ trình phù hợp thực hiện từng phương án lựa chọn.

Trong các năm qua, một số tổ chức quốc tế đề xuất với Việt Nam phương án tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi với lập luận cho rằng, nếu tuổi nghỉ hưu được nâng lên 65 đối với cả nam và nữ, thì tỷ lệ người nghỉ hưu so với người trong độ tuổi lao động sẽ tăng từ từ hơn, cụ thể từ 10,9% (2009) lên 30,7% (2049) và 47,5% vào năm 2099. Như vậy, Quỹ Hưu trí sẽ bớt bị áp lực về tài chính hơn so với nếu tuổi nghỉ hưu được giữ nguyên như hiện nay hoặc phương án nam tăng lên 62 tuổi, nữ tăng 60 tuổi đồng đều ở mọi lĩnh vực. Đề xuất trên nếu thực hiện được, Quỹ BHXH sẽ cải thiện đáng kể về mặt cân đối quỹ; tuy nhiên, phương án đặt ra còn mang nặng yếu tố kỹ thuật nên khó khả thi.

Trong điều kiện hiện tại, tuổi nghỉ hưu nên có sự điều chỉnh khác nhau giữa người lao động làm việc trong khối hành chính, sự nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp, giữa lao động nam và lao động nữ, Chẳng hạn, nếu người lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp có lộ trình điều chỉnh cứ hai năm tăng một tuổi, thì ở khu vực doanh nghiệp, trước hết đối với người lao động trực tiếp sản xuất, có thể điều chỉnh cứ ba năm tăng một tuổi. Giai đoạn đầu mức tăng tối đa có thể nam tăng từ 01 đến 02 tuổi và nữ tăng từ 02 hoặc 03 tuổi tùy từng lĩnh vực làm việc. Kết thúc giai đoạn điều chỉnh, cần có một khoảng thời gian nhất định để đánh giá một cách đầy đủ tác động tích cực, cũng như tiêu cực, để có những bước điều chỉnh hợp lý trong giai đoạn sau.

Danh mục người lao động làm việc trong các ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nên được rà soát lại tổng thể để có thể đưa ra một số công việc, lĩnh vực ra khỏi danh sách khi điều kiện làm việc sau nhiều năm đã được cải thiện tốt hơn trước và cũng cần bổ sung một số công việc, lĩnh vực vào danh sách mà trước kia chưa có khi có đủ các yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Trên cơ sở đó, có sự diều chỉnh tuổi nghỉ hưu cho các đối tượng hợp lý hơn.

Một nội dung nữa nên được cân nhắc, nghiên cứu đầy đủ hơn tuổi nghỉ hưu đối với một số trường hợp đặc biệt khác theo quy định của Khoản 3, Điều 187 Bộ luật Lao động 2012. Tại một số quốc gia, quy định này được thể hiện bằng điều khoản với tiêu đề là Các nhóm chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc đặc biệt. Chẳng hạn, tại Anh, quy định này bao gồm nhóm các công chức cao cấp thuộc Bộ, cơ quan hành pháp. Tại Tây Ban Nha, là các nhóm quân nhân chuyên nghiệp, nhân viên bảo vệ nhân dân quy định tuổi nghỉ hưu là 65 tuổi; thẩm phán, ủy viên công tố là 70 tuổi; giáo sư các trường Đại học là 65 đến 70 tuổi; công chức, viên chức Nghị viện nghỉ hưu ở độ tuổi 65. Một số quốc gia khác quy định tuổi nghỉ hưu thấp hơn 65 (được nghỉ hưu ở tuổi 60) nếu như số năm làm việc có đóng BHXH là 35 năm (có quốc gia quy định trên 35 năm).

Tham khảo quy định trên của các quốc gia trên thế giới, cơ quan soạn thảo nên rà soát một cách đầy đủ hơn các nhóm đối tượng đặc biệt có tuổi nghỉ hưu cao hơn quy định để tận dụng tốt nguồn nhân lực này. Trong đó, cũng nên lưu ý người đã có số năm làm việc đóng BHXH đủ lớn (nên tính toán thêm để quy định là 35 năm hay trên 35 năm) thì tuổi nghỉ hưu sẽ thấp hơn tuổi nghỉ hưu sẽ điều chỉnh./

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam