Nền tảng chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam

05/08/2014 18:51:53

Sinh ra và lớn lên khi đất nước đắm chìm trong đêm dài nô lệ, Hồ Chí Minh thấu hiểu và thấu cảm nỗi nhục mất nước, nỗi khổ đau của người Việt Nam đói nghèo, yếu thế, chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống do chính sách áp bức, nô dịch, bóc lột của bọn đế quốc, phong kiến gây ra. Chứng kiến nhiều cảnh đời ngang trái từ trong nước ra nước ngoài, ở các thuộc địa và ngay ở các nước tư bản tự coi mình là văn minh như Pháp, Mỹ, Anh, Người tự đặt ra nhiều câu hỏi nhưng chưa thể có câu trả lời. “Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi đi “khai hóa” chúng ta?” là câu hỏi đầu tiên Người tự nêu ra khi đặt chân lên đất Pháp. Khi làm trong tiệm ăn ở Anh, thấy cả phần tư con gà và những miếng bít tết to tướng thừa trên bàn, đáng lẽ vứt vào thùng rác, thì Người lại giữ gìn sạch sẽ, đưa lại cho nhà bếp. Người tâm sự với “vua bếp” Ét-cốp-phi-e “không nên vứt đi, có thể cho người nghèo những thứ ấy”. Lúc trạc 23 tuổi, còn là một thanh niên yêu nước, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới người nghèo và trăn trở với câu hỏi “chúng ta phải làm gì để cứu người nghèo?”.
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trong hành trang tìm đường cứu nước, cứu dân, Hồ Chí Minh mang theo nỗi đau của việc “đồng bào tôi đang rên xiết ở Việt Nam”. Được ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười chiếu rọi, Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển tư duy cải cách chế độ xã hội ở Việt Nam, nghĩ đến một xã hội dân chủ, công bằng, nhân đạo khác hẳn cái xã hội đầy rẫy áp bức, bất công ở Tổ quốc mình; nghĩ đến một xã hội văn minh cho dân tộc mình và các dân tộc khác. Từ “Yêu sách 8 điểm” năm 1919 đến “Bản án chế độ thực dân Pháp” năm 1925, Hồ Chí Minh đã đưa ra một bản cáo trạng, luận tội đanh thép tội ác thực dân ở Đông Dương và nhiều nước thuộc địa khác trên tất cả các phương diện của đời sống con người, đặc biệt là các tội ác tày trời về mặt tinh thần xã hội đối với con người.
Khát vọng về một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh, mang dấu ấn tư duy của chính sách an sinh xã hội như cách diễn đạt ngày nay đã được Hồ Chí Minh truyền thụ cho các học viên tại lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1925-1927. Theo Người, tổ chức công hội có nhiệm vụ lập trường học cho công nhân; lập trường cho con cháu công nhân; lập nơi xem sách báo; lập nhà thương cho công nhân; lập nhà ngủ, nhà tắm, nhà hát... Hội dân cày có nhiệm vụ mở mang giáo dục như lập trường, tổ chức nhà xem sách. Người khuyên anh em dân cày cấm rượu, a phiến, đánh bạc, đặt hội cứu tế (ngày nay gọi là cứu trợ xã hội, một trong những cơ chế của an sinh xã hội).
Khi Đảng ta ra đời ngày 03/02/1930, trong “Chánh cương vắn tắt”, văn kiện do Hồ Chí Minh khởi thảo, Người đưa phương diện xã hội lên hàng đầu trong đó nhấn mạnh 3 điểm: a) Dân chúng được tự do tổ chức; b) Nam nữ bình quyền; c) Phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam vùng lên thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cùng với việc lãnh đạo đấu tranh giành độc lập tự do, Mặt trận Việt Minh (thành lập tháng 5-1941 theo sáng kiến của Hồ Chí Minh) đã đưa ra chương trình“cứu tế thất nghiệp, xã hội bảo hiểm”. Đối với nông dân, “cứu tế nông dân trong những năm mất mùa. Đối với binh lính, “hậu đãi binh lính có công giữ gìn Tổ quốc và phụ cấp gia đình được đầy đủ. Đối với học sinh, “bỏ học phí, giúp đỡ học trò nghèo”... Chương trình Việt Minh còn nhấn mạnh “phụ nữ bình đẳng với đàn ông về các phương diện. Người già và trẻ tàn tật được Chính phủ chăm nom và cấp dưỡng. Nhi đồng được Chính phủ săn sóc đặc biệt về thể dục và trí dục”. Chính sách xã hội trong Chương trình Việt Minh ghi rõ: 1) Thi hành luật lao động, ngày làm 8 giờ. 2) Giúp đỡ các gia đình đông con. 3) Lập ấu trĩ viên để chăm nom trẻ con. 4) Lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân. 5) Lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão.
Những quan điểm của Hồ Chí Minh từ những năm hai mươi đến Chương trình Việt Minh hội tụ trong các văn kiện của Đảng và Chính phủ ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám vừa thành công. “Tuyên ngôn độc lập” do Hồ Chí Minh viết và đọc trước toàn thể quốc dân đồng bào mở đầu bằng việc nhấn mạnh quyền cơ bản của con người: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. “Tuyên ngôn độc lập” vừa là thông điệp chính trị vừa là thông điệp về những chính sách văn hóa - xã hội, trong đó ghi dấu ấn về an sinh xã hội như một quyền cơ bản của con người.
Từ sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta từng bước xây dựng hệ thống quan điểm bảo đảm cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội. Người trăn trở về cái ăn, cái mặc, đi lại, học hành, chữa bệnh, nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, ốm đau, thai sản... của các thành viên trong xã hội.
An sinh xã hội là một khái niệm mới mẻ ở Việt Nam nhưng những điều nêu trên cho thấy trong tư duy Hồ Chí Minh, từ rất sớm, đã xuất hiện cách nhìn về những chính sách, biện pháp bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình khỏi sự hẫng hụt về kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác trong cuộc sống. Đó chính là tư duy về an sinh xã hội.
Tư tưởng đó là nền móng cho nguyên tắc về quyền cơ bản của công dân về an sinh và tiếp cận hệ thống an sinh xã hội. Đó cũng là yêu cầu cơ bản hướng đến tiến bộ xã hội và công bằng trong phân phối và hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội theo hướng phân bổ ngày càng bình đẳng hơn, ít sự loại trừ, theo tinh thần “làm cho ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Tư duy “ai cũng có”, “người nào cũng có” của Hồ Chí Minh là kiểu tư duy không có sự loại trừ, chứng tỏ một xã hội hài hòa, văn minh.
Tư duy Hồ Chí Minh về an sinh xã hội là cơ sở cho nguyên tắc chia sẻ, bù đắp, gắn bó, đoàn kết, liên kết, giúp đỡ giữa các cá nhân, nhóm trong xã hội và nhà nước. Điều đó không làm triệt tiêu trách nhiệm của mọi người, ngược lại gắn trách nhiệm và quyền lợi, giữa đóng góp và hưởng lợi, bảo đảm nguyên tắc công bằng và bền vững, tính thỏa đáng và thích đáng trong từng lĩnh vực. Đúng như Hồ Chí Minh đã nói: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người khá giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ. Người nào cũng biết đoàn kết yêu nước. Cách làm là đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân. Không phải Chính phủ xuất tiền ra làm. Chính phủ chỉ giúp kế hoạch cổ động. Chính phủ chỉ giúp ý kiến”.
Trong chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020, với mục tiêu là đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại và xếp vào nhóm các nước có mức thu nhập trung bình, có chiến lược an sinh xã hội. Ngày nay, đất nước đã có nhiều thay đổi nên phải xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, trợ giúp xã hội, trợ giúp khẩn cấp, chính sách đối với người có công, BHTN..., đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là đối với các đối tượng chính sách, đối tượng nghèo. Muốn thực hiện tốt nội dung này phải nghiên cứu thấu đáo những quan điểm nêu trên của Hồ Chí Minh. Bởi vì xét đến cùng, hệ thống an sinh xã hội phải được tiếp cận trên cơ sở an sinh của người dân. Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng chính sách an sinh xã hội hiện nay thực chất là xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách, biện pháp trước mắt và lâu dài có khả năng can thiệp trước các nguy cơ, bảo vệ tất cả các thành viên xã hội khỏi rủi ro về kinh tế - xã hội, bảo đảm an toàn cuộc sống, làm cho mọi người cảm nhận sâu sắc ý nghĩa cao quý của cuộc sống trong xã hội XHCN theo tư tưởng Hồ Chí Minh./.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam