Nghề cốm Mễ Trì là một trong 17 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia mới

15/02/2019 08:47:51
Vừa qua, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 446/QĐ-BVHTTDL về việc Công bố Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đợt 26. Theo đó, các di sản văn hóa phi vật thể được công nhận đợt này thuộc các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian; nghề thủ công truyền thống; Lễ hội truyền thống; tập quán xã hội và tín ngưỡng; tri thức dân gian.

Nghề cốm Mễ Trì (ảnh minh họa)

Theo Quyết định số 446/QĐ-BVHTTDL, 17 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đợt 26 bao gồm:

  1. Lượn Cọi của người Tày (Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn)

Lượn Cọi là một làn điệu dân ca Tày với ngôn ngữ giàu hình ảnh, so sánh, ví von sâu sắc. Khi có khách đến làng, chủ nhà ngỏ ý mời khách hát và chủ động dẫn lượn trong đối đáp giao duyên. Tình yêu đôi lứa là nội dung dài hơi nhất của Lượn Cọi, là hạt nhân của cả pho Lượn Cọi; có thể nói, tất cả các nội dung phản ánh về phong cảnh thiên nhiên, làng bản, con người, mường Trời, âm phủ đều hướng tới tình yêu đôi lứa.

  1. Nghề rèn của người Nùng An (Xã Phúc Sen, Huyện Quảng Uyên, Tỉnh Cao Bằng)

Sau khi nhà Mạc tan rã ở Cao Bằng vào thế kỷ XVI, các thợ rèn đúc vũ khí của nhà Mạc di tản vào sống cùng với người dân bản địa. Người Nùng An từ phía Trung Quốc di cư đến sống ở xóm Phia Chang (Phúc Sen) đi tìm người rèn sắt để chế tác các dụng cụ hỗ trợ lao động và được các thợ rèn trên truyền hết kỹ nghệ nghề rèn cho dân bản, từ cách chế tạo súng kíp, đúc gang làm lưỡi cày đến rèn dao, búa, các loại nông cụ… Ban đầu, sản phẩm rèn của Phúc Sen chủ yếu phục vụ sản xuất và một phần để trao đổi hàng hóa thiết yếu khác, nhưng vì chất lượng sản phẩm tốt nên danh tiếng làng nghề dần lan xa, người dân nhiều vùng lân cận đã đến đặt hàng. Hiện nay, Phúc Sen có 6/10 xóm làm nghề rèn đúc với khoảng 160 lò rèn, giải quyết việc làm cho hơn 300 lao động, mang lại thu nhập cao cho người dân.

  1. Hò Cần Thơ (Huyện Thới Lai, Quận Ô Môn, Quận Cái Răng, TP.Cần Thơ)

Hò Cần Thơ là một trong những làn điệu dân ca độc đáo được sản sinh ra trong lao động sản xuất, chuyển tải nội dung trữ tình, phản ánh tâm tư tình cảm của người nông dân, cách đối nhân xử thế trong cuộc sống. Hò Cần Thơ bao gồm Hò mái dài, hò cấy và hò huê tình. Các điệu hò này mang những đặc trưng tiêu biểu của hò Nam bộ, đồng thời cũng có những nét riêng thể hiện trong cách lấy hơi, ngân hơi hoặc trong lời kể có ý tứ độc đáo, trữ tình, mang hơi hướng của con người Cần Thơ.

  1. Mền Loóng Phạt Ái (Tết Hoa mào gà) của người Cống (Xã Pa Thơm, Huyện Điện Biên, Xã Nậm Kè, Huyện Mường Nhé, Xã Pa Tần, Huyện Nậm Pồ, Tỉnh Điện Biên)

Mền Loóng Phạt Ái (Tết Hoa mào gà) là Tết cổ truyền của dân tộc Cống được tổ chức vào tháng 10 Âm lịch hàng năm khi mùa vụ đã thu hoạch xong. Để chuẩn bị đón Tết, nhà nào nhà nấy đều lên nương chọn hái những bông hoa mào gà (phạt ái) đẹp nhất đem về chuẩn bị lễ vật dâng cúng trời đất tổ tiên tại gia đình và trang trí cây hoa ở địa điểm tổ chức Tết hoa của bản. Để chuẩn bị cho Tết hoa, dân bản dựng tại nhà thầy cúng một cây tre hoặc nứa (hằn né hoặc hạ kha), trên có buộc bông hoa mào gà, đặt trước bàn thờ tổ tiên của gia chủ bởi hoa này tượng trưng cho cây cầu nối giữa hai thế giới âm dương, là con đường mà linh hồn tổ tiên đi từ thế giới thiêng về nơi thờ cúng ở trong nhà.

  1. Lễ Gạ Ma Thú (lễ cúng bản) của người Hà Nhì (Xã Sín Thầu, Xã Chung Chải, Xã Sen Thượng, Xã Leng Su Sìn, Huyện Mường Nhé, Tỉnh Điện Biên)

Lễ Gạ Ma Thú (lễ cúng bản) của người Hà Nhì được tổ chức vào tháng 02, khi núi rừng đang chuyển mình trong một mùa ngát hương, tràn trề nhựa sống. Lễ hội này nhằm mục đích cầu cúng thần rừng thiêng và tổ tiên phù hộ để năm mới mưa thuận, gió hòa, mọi người trong bản mạnh khỏe, làm ăn gặp nhiều may mắn. Ngày cúng thường được chọn vào các ngày con rồng, con ngựa hoặc con hổ. Theo cách tính của người Hà Nhì những ngày này là những ngày thiêng, ngày tốt, thần linh bằng lòng xuống dự lễ hội và phù hộ cho dân bản.

  1. Lễ hội Chùa Bà Đanh (Xã Ngọc Sơn, Huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam)

Lễ hội chùa Bà Đanh được tổ chức vào tháng 02 Âm lịch hàng năm nhằm tri ân Đức Thánh bà Pháp Vũ - một vị thần trong Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Đây là vị thần phù trợ cho việc sản xuất nông nghiệp được tốt tươi, đời sống nhân dân được no đủ. Đồng thời, lễ hội nhằm tôn vinh, cảm tạ ân đức của các vị thần phật được thờ ở trong chùa đã phù trợ cho cuộc sống của nhân dân. Tùy từng năm và dựa vào tình hình thời tiết, thời vụ của nhân dân trong vùng mà nhà chùa chọn ngày đẹp. Khi đã ấn định được ngày diễn ra lễ hội rồi mới thông báo rộng rãi cho toàn thể dân chúng. Lễ hội thường được diễn ra trong 03 ngày, có năm lấy ngày mồng 9-10-11 tháng 02 Âm lịch, có năm lấy ngày 20-21-22 tháng 02, có năm là ngày 15-16-17 tháng 02 tổ chức lễ hội.

  1. Hát Dậm Quyển Sơn (Xã Thi Sơn, Huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam)

Hát dậm (hay hát dặm) Quyển Sơn là loại hình ca múa nhạc độc đáo chỉ có ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đây là một loại hình ca múa nhạc dân gian vô cùng độc đáo, qua hơn 1000 năm, đến nay đã sưu tập được  38 làn điệu. Điều đặc biệt nhất của hát  dặm là không thể đơn ca hay song ca như những loại hình âm nhạc khác. Lối hát tập thể, đồng ca, tiếp sức nhau hay còn gọi là hát đối, hát kèo đan xen giữa thời gian hát nối là biểu hiện đặc trưng nhất của hát dặm, là hình thức giữ sức – giữ giọng cho người hát dặm  bởi  họ hầu như không được nghỉ trong suốt cả thời gian hát  múa hết 38 làn điệu mỗi đêm  với thời gian là trên dưới 02 tiếng đồng hồ.

  1. Lễ hội Làng Triều Khúc (Xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì, TP.Hà Nội)

Hằng năm, cứ vào mùng 09 đến 12 tháng Giêng Âm lịch, người dân làng Triều Khúc (Thanh Trì, Hà Nội) lại hồ hởi, háo hức rủ nhau đi xem lễ hội truyền thống, tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng đã mang lại cuộc sống no ấm, yên bình cho làng. Đặc sắc nhất trong lễ hội chính là điệu múa bồng hay còn gọi là “con đĩ đánh bồng” - sản phẩm văn hóa độc đáo, là niềm tự hào lớn của người dân nơi đây.

  1. Nghề cốm Mễ Trì (Phường Mễ Trì, Quận Nam Từ Liêm, TP.Hà Nội)

Ngoài làng Vòng nức tiếng xa gần, người Hà Nội còn một làng cốm cổ truyền khác ở Mễ Trì, quận Nam Từ Liêm. Người làm cốm đem thóc non về và tuốt ra lựa bỏ hạt lép, những hạt còn lại được để ráo nước rồi mang vào bếp rang từ 1,5 – 2 tiếng đồng hồ. Quá trình rang phải đảo đều thóc. Lò rang cốm phải đắp bằng xỉ than và đun bằng củi. Chảo rang bằng gang đúc mới đảm bảo khi rang thóc sẽ chín đều. Điểm khác biệt so với cốm làng Vòng là cốm Mễ Trì làm bằng lúa chiêm nên hạt cốm mỏng, dẻo và rất thơm – đây chính là yếu tố tạo nên đặc trưng của cốm Mễ Trì.

  1. Nghi lễ Mo Tham Thát của người Tày (Xã Làng Giàng, Huyện Văn Bàn, Tỉnh Lào Cai)
  2. Nghi lễ Then của người Giáy (Huyện Bát Xát, Tỉnh Lào Cai)

Lễ giải hạn cầu may cho người trưởng thành dân tộc Giáy.

  1. Lễ Cấp sắc của người Dao Quần Chẹt (Xã Xuân Thủy, Huyện Yên Lập, Tỉnh Phú Thọ)

Theo tiếng địa phương, cấp sắc được gọi là “quá tang” hay “quá tăng” có nghĩa là trải qua lễ soi đèn, soi sáng người được thụ lễ trong tiến trình cấp sắc. Lễ cấp sắc thường diễn ra vào dịp cuối năm hoặc tháng Giêng (âm lịch) gồm có nhiều bậc như 03 đèn, 07 đèn và 12 đèn. Ông thầy trong lễ cấp sắc phải là thầy cao tay, ngày tháng cấp sắc được chọn rất cẩn thận, phải là ngày hợp tuổi và đẹp. Người được cấp sắc cũng phải thuần thục các nghi lễ trong các bản sắc. Do tổ chức lễ trên phạm vi làng xã rất tốn kém nên người Dao một số nơi thường để đến khi kết hôn xong mới làm lễ cấp sắc và cho phép anh em trong nhà hoặc họ hàng thân thiết được tổ chức lễ cấp sắc cùng một lúc.

  1. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Hrê (Xã Ba Thành, Huyện Ba Tơ, Tỉnh Quảng Ngãi)

Nghề dệt và sản phẩm dệt thổ cẩm truyền thống khẳng định sắc thái văn hóa truyền thống độc đáo của tộc người Hrê ở Quảng Ngãi, thể hiện qua cách tạo hình hoa văn trên sản phẩm dệt thổ cẩm và trang phục truyền thống của người Hrê. Hoa văn trên đồ dệt thổ cẩm là những họa tiết gắn liền với thiên nhiên núi rừng, sông nước, cây cối, hoa lá và các hoa văn hình học cách điệu như những đường viền màu song song, hình tam giác cân, các hình vuông xếp cạnh nhau. Màu sắc có đen, đỏ, trắng làm chủ đạo.

  1. Nghệ thuật Rô-băm của người Khmer (Xã Tài Văn, Huyện Trần Đề, Tỉnh Sóc Trăng)

Rô-băm, hay còn gọi là Rom Rô-băm là loại kịch múa cổ điển trên sân khấu cung đình của người Khmer xưa. Trong các loại hình sân khấu của người Khmer, Rô băm được cho là đã đạt đến trình độ nghệ thuật rực rỡ. Sân khấu Rô băm dùng ngôn ngữ múa để diễn tả “chuyện xưa tích cũ”, xoay quanh các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, lịch sử. Các tích cũ khai thác từ đề tài đạo Phật, đạo giáo Bà-la-môn, quen thuộc nhất là sử thi Ramayana của Ấn Độ. Những triết lý giáo dục và đạo lý của đồng bào Khmer xưa đều gói gọn trong nội dung và  hình thức của loại hình sân khấu đặc sắc này.

  1. Lễ hội Nghinh Ông (Thị trấn Trần Đề, Huyện Trần Đề, Tỉnh Sóc Trăng)

Hàng năm, vào sáng ngày 21/03 Âm lịch, nhân dân vùng biển Kinh Ba cùng đông đảo du khách trong và ngoài huyện hội tụ về Lăng Ông để bắt đầu lễ hội. Đoàn Đào Thầy (Hầu Ông) tiến hành những nghi thức lễ truyền thống sau đó tham gia diễu hành cùng đoàn múa lân rồi lên tàu ra biển cúng Ông. Tàu chính được trang trí như thuyền rồng, chở kiệu, cờ, lọng, đồ cúng tế. Phò kiệu Ông là các học trò lễ và một số nghệ sỹ của đoàn hát bội sẽ xuất phát đầu tiên, theo sau là hàng trăm chiếc tàu đánh cá của những ngư dân cùng nhân dân địa phương và du khách đến tham quan. Trên đường ra biển, đoàn tiến hành các nghi thức cúng vái, cầu cho mưa thuận gió hòa, ngư dân có mùa bội thu. Đến bờ, đoàn nghi lễ sẽ diễu hành và hầu Ông về Lăng. Đúng 07 giờ 30, đoàn sẽ thực hiện các nghi thức rước Ông vào lăng rất trang trọng với phần nhạc lễ, múa lân và dâng lên Ông những sản vật mà ngư dân đã thu hoạch được. Đến 09 giờ 30 là Lễ cúng Tiên sư, 12 giờ 30 Lễ cúng Tiên giảng, 13 giờ 30 làm Lễ cúng Ông, kết thúc phần lễ.

  1. Nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của người Dao Đỏ (Huyện Sơn Dương, Huyện Hàm Yên, Huyện Chiêm Hóa, Huyện Na Hang, Huyện Lâm Bình, Tỉnh Tuyên Quang)

Những cô gái Dao đỏ từ bé đã được truyền dạy may vá, thêu thùa. Trước khi về nhà chồng, các cô sẽ hoàn thành bộ trang phục của riêng mình. Bộ trang phục nữ Dao đỏ gồm thường phục và lễ phục. Thường phục gồm khăn đội đầu, áo, yếm, dây lưng. Lễ phục gồm khăn, áo dài, dây lưng, quần, váy thêu được cắt, khâu, thêu thùa công phu. Khăn đội đầu cô dâu trong ngày cưới gọi là “Trùm Phả” làm bằng vải tự dệt, nhuộm chàm, trên nền thêu nhiều loại hoa văn. Để hoàn thành một bộ trang phục phụ nữ Dao đỏ phải mất gần 01 năm, người làm chậm phải mất 02 năm. Chính sự cầu kỳ, tỉ mỉ trong các công đoạn đã tạo nên bản sắc riêng biệt của trang phục dân tộc Dao đỏ không lẫn với các dân tộc khác.

  1. Xường giao duyên của người Mường (Xã Cao Ngọc, Xã Thạch Lập, Xã Minh Sơn, Huyện Ngọc Lặc, Tỉnh Thanh Hóa)

Hát Xường giao duyên của người Mường thuộc các xã Cao Ngọc, Thạch Lập, Minh Sơn, huyện Ngọc Lặc thể hiện cốt cách và tình cảm của các thế hệ người Mường kết tinh thành giá trị đặc sắc trong vốn di sản văn hoá phi vật thể của đồng bào các dân tộc tỉnh Thanh Hóa. Xường có nhiều loại như Xường chúc, Xường kể... nhưng phổ biến nhất vẫn là điệu hát Xường trai gái - giao duyên. Nét độc đáo của Xường giao duyên là lời ca được ứng khẩu ngay tại chỗ, không theo một khuôn mẫu có sẵn mà sáng tạo một cách linh hoạt, hài hòa. Xường trai gái là các bài ca trao duyên, trao tình giữa trai thanh gái lịch, để bén duyên nhau, nên chồng vợ.

Đến nay, cả nước có 288 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Chủ tịch UBND các cấp nơi có di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục - trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, thực hiện việc quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa phi vật thể theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.

Tùng Anh

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam