Nghiên cứu xây dựng, khai thác nguồn dữ liệu về người lao động trong các doanh nghiệp giữa Ngành BHXH và Ngành thuế

11/04/2017 04:32:14

  Những vấn đề chung về BHXH và thuế thu nhập cá nhân của người lao động nhìn từ góc độ học thuyết kinh tế quốc dân 

  Theo học thuyết kinh tế quốc dân, khi tính toán tổng thu nhập nền kinh tế quốc dân, khoản thuế từ tiền lương, tiền công và khoản đóng góp BHXH của người lao động (người làm công, hưởng lương) sẽ tạo nên sự khác biệt giữa tiền lương danh nghĩa (Brutto – hay còn gọi là tiền lương, tiền công trước thuế và BHXH) và tiền lương, tiền công thực lĩnh (Netto – tiền lương sau khi đã đóng thuế thu nhập cá nhân – thu nhập cá nhân và đóng góp BHXH). Nếu nhìn trên tổng thể nền kinh tế quốc dân, xét về phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô, BHXH và thu nhập cá nhân là hai công cụ được thực hiện trong quá trình phân phối lại nhằm góp phần bảo đảm sự bình đẳng, công bằng xã hội. Và cả 02 khoản thu này theo lý thuyết phân phối đều được nhà nước sử dụng vào mục đích bảo đảm xã hội hay An sinh xã hội.

  Ở đây, chúng ta đề cập đến người lao động làm công hưởng lương (có thể hiểu là người lao động không có tư liệu lao động phải lao động làm thuê hay người lao động phụ thuộc) trong doanh nghiệp và phần thu nhập từ tiền lương, tiền công từ hoạt động lao động của họ.

  Trên thị trường lao động, “tiền lương là giá cả sức lao động” được hình thành căn cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động, cũng như các điều kiện khung, mà trong đó Nhà nước đóng vai trò quản lý, giám sát quá trình thị trường thông qua việc tuân thủ những quy định về mức lương tối thiểu, điều kiện lao động theo Luật Lao động và các luật pháp khác có liên quan. Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động - người lao động là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng người lao động. Tiếp đến sẽ là quá trình phân phối lại đối với người lao động. Ở quốc gia nào cũng vậy, chính sách thuế - mà cụ thể là thuế thu nhập cá nhân - luôn là công cụ quan trọng để phân phối lại trong nền kinh tế quốc dân. Nguồn thuế từ tiền công, tiền lương của người lao động sẽ được thu trực tiếp và bổ sung cho nguồn thu của ngân sách sách nhà nước, do Nhà nước quản lý, sử dụng vào những mục đích khác nhau, trong đó có việc xây dựng công trình phúc lợi công cộng nhằm cải thiện, nâng cao đời sống người lao động. Đồng thời, Nhà nước tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH và hoạt động này được điều tiết trong nội bộ cộng đồng những người lao động tham gia BHXH (ở Việt Nam thì thuế thu nhập cá nhân sẽ được tính sau khi đã đóng góp BHXH). Về cơ bản, người lao động tham gia đóng góp BHXH sẽ được hưởng quyền lợi trực tiếp từ những đóng góp của bản thân họ.

  Như vậy, việc nộp thuế thu nhập cá nhân và đóng góp BHXH từ tiền lương, tiền công của người lao động trong doanh nghiệp là nghĩa vụ của người lao động. Chủ sử dụng lao động cũng có nghĩa vụ kê khai thuế thu nhập, khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của người lao động nộp cho cơ quan thuế. Đồng thời, chủ sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng góp phần BHXH cho người lao động và nộp phần BHXH của người lao động cho cơ quan BHXH. Mọi hoạt động này đều được quy định trong hệ thống chính sách pháp luật của mỗi quốc gia, Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện. BHXH và thuế thu nhập cá nhân cho người lao động và các thành viên trong gia đình chọ là những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết xã hội. Đây là quá trình phân phối lại tiếp nối với quá trình sản xuất, kinh doanh. Việc phân phối lại một cách hợp lý thu nhập của người lao động trong nền kinh tế quốc dân có ý nghĩa rất lớn. Một mặt, khuyến khích người lao động tích cực làm việc, lao động, sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao thu nhập cho cá nhân. Mặt khác, thuế thu nhập cá nhân sẽ tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước để đầu tư vào công trình công cộng, cũng như góp phần tạo ra sự công bằng xã hội. Hoạt động BHXH sẽ tạo ra tính cộng đồng, gắn kết giữa các thành viên trong xã hội trong sự đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già, chết) của mọi người lao động và thành viên của gia đình họ. Đương nhiên, mỗi công cụ điều tiết xã hội này lại có phạm vi, đối tượng, phương pháp, mức độ điều tiết khác nhau và được thực hiện khác nhau giữa các quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể khác nhau. Vì vậy, chính sách BHXH và thuế thu nhập sẽ mang nét đặc trưng riêng của mỗi quốc gia trong những giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội nhất định 

  Phân biệt sự giống nhau - khác nhau giữa nộp thuế thu nhập cá nhân và đóng BHXH, BHTN, BHYT của người lao động trong các doanh nghiệp

  Với tiêu thức so sánh Mục đích đóng góp, thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp vào ngân sách nhà nước, người đóng góp thực hiện nghĩa vụ công dân; đóng BHXH, BHYT, BHTN là khoản đóng góp vào các Quỹ BHXH, BHYT, BHTN, người đóng góp vừa thực hiện nghĩa vụ vì chính bản thân mình, vừa có sự chia sẻ cộng đồng. Với tiêu thức so sánh Quyền lợi, người đóng hưởng quyền lợi gián tiếp thông qua các hình thức phúc lợi công cộng và mức quyền lợi nhận được không liên quan trực tiếp đến khoản thuế đã nộp; còn đóng BHXH, BHYT, người đóng được hưởng quyền lợi trực tiếp khi bị ốm đau, khám, chữa bệnh, thai sản, TNLĐ-BNN, thất nghiệp, già, chết. Mức quyền lợi nhận được có quan hệ chặt chẽ với mức đóng góp và thời gian đóng BHXH.

  Về ý nghĩa: người nộp thuế góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước và làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, về gia cảnh của từng người lao động, góp phần thực hiện công bằng xã hội; người đóng góp BHXH, BHYT được trợ giúp bằng tiền hoặc bằng hiện vật (khám, chữa bệnh BHYT) khi gặp phải rủi ro về BHXH, góp phần ổn định cuộc sống bản thân và gia đình, xã hội. Ngoài ra, việc huy động được đông đảo người đóng góp BHXH, BHYT còn góp phần điều tiết thu nhập trong cộng đồng những người tham gia BHXH, BHYT, BHTN.

  Về đối tượng, người đóng thuế thu nhập cá nhân là người lao động trong các doanh nghiệp có thu nhập đến mức phải chịu thuế. Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam, nhưng định cư không thời hạn tại Việt Nam; người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam. Người lao động trong các doanh nghiệp phải kê khai thuế thu nhập cá nhân. Trong số đó chỉ có những người có mức thu nhập đến mức chịu thuế (bao gồm cả mức miễn trừ gia cảnh) mới phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Người tham gia BHXH, BHYT là người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 03 tháng trở lên. Từ 01/01/2018 bổ sung thêm: Người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng; Người lao động nước ngoài được phép làm việc tại Việt Nam. Người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc phải kê khai và đóng góp BHXH.

  Về mức thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế sau khi đã trừ các khoản đóng BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc đối với một số ngành, nghề, các khoản giảm trừ gia cảnh quy định. Mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH trong khoảng thu nhập từ 01 đến 20 lần mức lương tối thiểu chung.

  Về nội dung thu nhập làm căn cứ nộp thuế là các khoản thu nhập dưới các hình thức tiền lương, tiền công, tiền thù lao; các khoản thưởng mang tính chất tiền lương, tiền công bằng tiền, bằng hiện vật; các khoản thu nhập do tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị; Các khoản thu nhập do tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH được quy định khác nhau với những nhóm đối tượng khác nhau, cụ thể: Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung; Đối với người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động; Tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH từ 01/01/2016 đến hết năm 2017 sẽ gồm tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự. Từ ngày 01/01/2018 trở đi, người lao động đóng BHXH dựa trên mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác ghi trong hợp đồng. Tiền đóng BHXH không bao gồm các chế độ phúc lợi như tiền thưởng, thưởng sáng kiến, tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác trong hợp đồng lao động.

  Về phương pháp khấu trừ thuế và thu BHXH, thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng số thu nhập mà đối tượng nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế (thường là 01 năm). Thuế thu nhập đối với thu nhập thường xuyên được tính bình quân tháng trong năm. Kê khai và tạm nộp hàng tháng. Cuối năm phải tổng hợp mọi khoản thu nhập chịu thuế, thực hiện thanh quyết toán với cơ quan thuế chậm nhất không quá ngày 28/02 năm sau. Cá nhân ở trong nước có thu nhập ở nhiều nơi thì thuế thu nhập hàng tháng được khấu trừ tại từng nơi chi trả thu nhập, hết năm phải kê khai, quyết toán tại nơi làm việc cuối cùng của năm. Trường hợp cá nhân trong cùng thời gian của năm đồng thời làm việc và có thu nhập ở nhiều nơi, thì phải tổng hợp kê khai, quyết toán thuế thu nhập tại nơi có thu nhập cao nhất hoặc có thuận lợi nhất. Mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH được xác định hàng tháng và đóng góp hàng tháng. Người lao động mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì chỉ đóng BHXH đối với hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.                                        

  So sánh các tiêu thức quản lý doanh nghiệp - người lao động trong doanh nghiệp giữa Ngành BHXH và ngành Thuế

  * Đối với doanh nghiệp: Cả Ngành BHXH và Ngành Thuế đều có chung phương thức quản lý thông qua việc mã hóa đơn vị.

  Mã số thuế gồm có 02 nhóm mã: Nhóm mã số thuế 13 chữ số: 02 chữ số đầu là phân khoảng tỉnh cấp mã số thuế; 07 chữ số tiếp theo được đánh theo số thứ tự từ 0000001 đến 9999999 số; chữ số thứ 10 là chữ số kiểm tra; 03 chữ số cuối là các số thứ tự từ 001 đến 999. Mã số 13 chữ số để cấp cho đơn vị trực thuộc, chi nhánh của người nộp thuế độc lập và đơn vị chính. Nhóm mã số thuế 10 chữ số (có ý nghĩa như 10 chữ số đầu của dãy 13 số) cấp cho Tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ hàng hóa. Mã số thuế được dùng trên toàn hệ thống trong cả nước và do Tổng cục Thuế cung cấp. Một đối tượng nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt tồn tại. Mã số thuế được dùng để kê khai nộp thuế cho tất cả các loại thuế mà đối tượng đó phải nộp. Mã số thuế gắn với sự tồn tại của đối tượng nộp thuế. Mã số thuế đã được cấp sẽ không được sử dụng lại để cấp cho đối tượng nộp thuế khác. Mã số thuế đã cấp cho một cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ kinh doanh hoặc một cá nhân sẽ không thay đổi trong suốt cuộc đời của cá nhân đó, kể cả trường hợp cá nhân đã ngừng hoạt động kinh doanh sau đó hoạt động kinh doanh trở lại thì vẫn phải sử dụng lại mã số thuế đã được cấp trước đó. Cơ quan Thuế chỉ cấp mã số thuế duy nhất một lần cho một cá nhân đăng ký thuế.

  Mã số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH gồm 09 ký tự, đầu tiên là 02 ký tự (bằng chữ) để phân khoảng tỉnh cấp mã đơn vị. Tiếp theo gồm 07 ký tự: 02 ký tự đầu (bằng chữ) phân định theo loại hình doanh nghiệp; 04 ký tự tiếp theo (bằng chữ) là số thứ tự đơn vị; ký tự cuối (bằng chữ) quy định theo nơi trực tiếp thu BHXH. Khi doanh nghiệp mới thành lập và tham gia BHXH lần đầu sẽ được cung cấp 01 mã đơn vị theo đúng khối loại hình đơn vị và nơi tham gia BHXH. Khi đơn vị giảm do giải thể, phá sản, di chuyển đi nơi khác thì mã đơn vị đó vẫn được giữ lại mà không được thay thế cho đơn vị khác. Khi đơn vị di chuyển nơi tham gia BHXH thì đơn vị cũng sẽ được thay đổi mã đơn vị mới do thay đổi nơi tham gia BHXH.

  * Đối với người lao động

  Cơ quan thuế quản lý người nộp thuế bằng các thông tin cơ bản như họ tên; Ngày sinh; Giới tính; Số, ngày cấp CMTND; Địa chỉ cư trú. Mỗi người dân sẽ được cấp 01 mã số thuế có 10 chữ số (ý nghĩa của từng chữ số tương tự như 10 chữ số đầu của mã số thuế đối với doanh nghiệp). Việc cấp mã số thuế cho cá nhân cũng tuân thủ các nguyên tắc quản lý như việc cấp mã số thuế cho doanh nghiệp.

  Cơ quan BHXH quản lý người tham gia BHXH, BHYT bằng các thông tin cơ bản như Họ tên; Ngày sinh; Nơi sinh; Số, ngày cấp, Nơi cấp CMTND; Địa chỉ nơi thường trú, nơi tạm trú. Người lao động tham gia BHXH sẽ được cấp mã số sổ BHXH: Gồm 10 chữ số, trong đó 02 ký tự đầu là mã số tỉnh (quy định thống nhất trong cả nước) cấp sổ BHXH lần đầu tiên cho người lao động, các ký tự còn lại là số thứ tự của người tham gia BHXH. Mỗi người khi tham gia BHXH được cấp 01 sổ BHXH và 01 mã số BHXH. Sổ BHXH theo suốt quá trình tham gia BHXH, kể cả chuyển nơi công tác hoặc nơi đóng BHXH.

  Người tham gia BHYT được cấp mã thẻ BHYT gồm 15 ký tự, được chia thành 06 ô: 02 ký tự đầu bằng chữ là mã đối tượng tham gia BHYT; 01 ký tự tiếp theo bằng số là quy định mức hưởng; 02 ký tự tiếp theo bằng số là mã tỉnh; 02 ký tự tiếp theo bằng số là mã huyện; 03 ký tự tiếp theo bằng số là mã đơn vị và 05 chữ số cuối là số thứ tự người tham gia BHYT của đơn vị. Mã số thẻ BHYT cấp cho mỗi người đang tham gia BHYT tại một đơn vị. Khi thay đổi một đơn vị mới, người lao động được cấp một mã thẻ BHYT mới. Mã số thẻ BHYT chỉ được giữ lại khi người lao động quay lại làm việc tại đơn vị cũ.

  Qua việc so sánh nêu trên cho thấy:

  - Việc quản lý mã doanh nghiệp đối với ngành thuế là mã số thuế của doanh nghiệp được cấp thống nhất trong toàn quốc. Còn mã số doanh nghiệp của Ngành BHXH được cấp theo phạm vi từng tỉnh, quận, huyện, vì vậy khả năng sử dụng mã doanh nghiệp để sử dụng trong toàn Ngành BHXH là rất hạn chế.

  - Việc cấp mã số thuế cho người lao động được cấp thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Còn mã số sổ BHXH của người lao động được cấp theo từng tỉnh, huyện. Người lao động còn được cấp mã số thẻ BHYT nhưng cấp theo đơn vị quản lý sử dụng người lao động. Như vậy, tương tự như mã số doanh nghiệp, việc cấp mã số sổ BHXH, mã số thẻ BHYT cho người lao động chưa được thực hiện cấp thống nhất trong cả nước.

  - Các tiêu thức dùng chung đối với người lao động trong doanh nghiệp có thể sử dụng được là Họ và tên; Ngày tháng năm sinh; Số chứng minh thư nhân dân (CMTND), ngày cấp, nơi cấp; Địa chỉ cư trú.

  Trong thực tế hiện nay, việc cấp số CMND vẫn còn bất cập, tình trạng cấp trùng số vẫn còn diễn ra. Vì vậy, khả năng tìm kiếm từ nguồn dữ liệu riêng của Ngành BHXH - ngành Thuế về một người lao động trong doanh nghiệp nếu chỉ căn cứ vào 02 tiêu thức Họ và tên, Số CMND là khó khả thi.

  Khả năng xây dựng nguồn dữ liệu dùng chung về người lao động trong doanh nghiệp để có thể cùng khai thác, sử dụng.

  Trên thực tế, đối tượng quản lý thuế thu nhập cá nhân rất rộng, bao gồm các cơ sở sản xuất, kinh doanh, đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân có thu nhập thuộc diện chịu thuế. Còn đối tượng quản lý của BHXH, bên cạnh việc quản lý các đơn vị, tổ chức quản lý, sử dụng và chi trả thu nhập cho người lao động còn phải quản lý đến từng người lao động và đi theo họ suốt từ khi bắt đầu tham gia BHXH, cùng với số tiền đã đóng góp của họ, cho đến khi họ hưởng lương hưu, thậm chí cho đến chết để chi trả mai táng phí và chế độ tử tuất cho thân nhân của họ. Việc quản lý đến từng người lao động tham gia BHXH kéo dài suốt cuộc đời người lao động, tới nhiều chục năm liên tục. Điểm chung nhất dễ dàng nhận thấy, cả hai ngành đều có chung một nhóm đối tượng quản lý là các tổ chức chi trả tiền lương, tiền công và cá nhân làm công ăn lương. Hơn thế, thu nhập làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân và căn cứ đóng BHXH đều là tiền công, tiền lương và phụ cấp lương của người lao động. Theo đó, cơ quan thuế căn cứ vào khoản tiền lương, tiền công và phụ cấp được chi trả để tính thuế thu nhập cá nhân, còn BHXH căn cứ vào khoản tiền lương, tiền công và phụ cấp để tính các khoản đóng góp BHXH. Tuy nhiên, trong cùng một doanh nghiệp thì số người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc luôn thấp hơn số người thuộc diện kê khai thuế thu nhập cá nhân bởi trong doanh nghiệp có thể sử dụng cả người lao động đã nghỉ hưu, người lao động làm theo vụ việc…

  Bên cạnh đó, hiện nay, ngành thuế đang sử dụng hệ thống tờ khai thuế thu nhập cá nhân ban đầu theo Luật Thuế thu nhập cá nhân. Hệ thống BHXH sử dụng hệ thống tờ khai theo Luật BHXH, BHYT. Việc sử dụng chung một mã số quản lý đặt ra vấn đề phải thống nhất các nội dung kê khai vào một mẫu tờ khai để giảm thiểu thủ tục cho người lao động và tiết kiệm thời gian cho đơn vị chi trả. Qua thực hiện, có thể thống nhất sử dụng một loại tờ khai chung để kê khai cả thuế thu nhập cá nhân và các khoản BHXH. Tờ khai sẽ được nộp cho một cơ quan để nhập và xử lý dữ liệu; sau đó, mỗi cơ quan chuyên ngành sẽ khai thác và sử dụng theo yêu cầu quản lý riêng.

  Việc tiến tới xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu chung để cùng khai thác và việc thống nhất một cơ chế quản lý đối với người kê khai thuế thu nhập cá nhân và tham gia BHXH dựa trên cùng một căn cứ cơ bản là những khoản tiền lương, tiền công được chi trả cho người lao động là hết sức khoa học và hợp lý. Hơn nữa việc quản lý nguồn dữ liệu dung chung sẽ làm minh bạch hóa thông tin về người lao động, việc làm và thu nhập của họ, tránh tình trạng không đồng nhất về thông tin cho cùng một người lao động cụ thể trong cùng một doanh nghiệp đã xảy ra hiện nay. Trên cơ sở này, hai bên cũng đi đến thống nhất một cơ chế thanh tra, kiểm tra dùng chung để xác định chính xác, đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế TNCN và các khoản đóng góp BHXH.

  Thực trạng công tác kết nối nhằm trao đổi thông tin giữa Ngành BHXH và Ngành thuế

  Theo quy chế phối hợp công tác giữa BHXH Việt Nam và Tổng cục Thuế số về công nghệ thông tin, đến nay, Ngành BHXH đã thực hiện được các công việc sau:

  Về hạ tầng

  - Đã thống nhất mô hình hệ thống, chuẩn nối trao đổi thông tin giữa hai cơ quan.

  - Đã sẵn sàng máy chủ phục vụ cho kết nối do Trung tâm Công nghệ thông tin quản lý và duy trì hoạt động.

  - Đã chuẩn bị hệ thống cơ sở dữ liệu tại BHXH Việt Nam để chứa thông tin đơn vị và cá nhân tham gia BHXH gửi sang Tổng cục Thuế.

  - Đã kiểm thử thành công hệ thống kết nối, trao đổi thông tin giữa hệ thống Công nghệ thông tin của Tổng cục Thuế và BHXH Việt Nam.

  - Đã có hệ thống đường truyền WAN kết nối từ quận/huyện lên Trung ương sẽ tạo thuận lợi cho việc tổng hợp dữ liệu của 63 BHXH tỉnh, thành phố.

  Về trao đổi khai thác dữ liệu

  - Thống nhất về dữ liệu trao đổi giữa hai bên sẽ được chuyển sang định kỳ (tháng/quỹ/năm) theo chuẩn dữ liệu bao gồm thông tin về đơn vị tham gia BHXH, thông tin cá nhân tham gia BHXH, thông tin danh mục cơ quan BHXH, danh mục tổ chức hành chính.

  - Đã có phần mềm và hướng dẫn tra cứu giúp BHXH các tỉnh, thành phố có thể tra cứu dữ liệu của Tổng cục Thuế gửi sang.

  Tuy nhiên, về phía BHXH Việt Nam cũng cần xử lý điều chỉnh tiếp phần mềm SMS nhằm xuất đủ thông tin dữ liệu theo đề nghị của ngành thuế, cũng như có chức năng chuyển tự động nguồn dữ liệu này về BHXH Việt Nam.

 Như vậy, trong điều kiện hai hệ thống nguồn dữ liệu của Ngành BHXH - Ngành thuế tồn tại độc lập như hiện nay, việc chia sẻ thông tin nhằm quản lý người lao động trước hết được rà soát nguồn dữ liệu theo từng địa phương (quận, huyện, thành phố); rồi đến tên doanh nghiệp, địa chỉ liên lạc của đơn vị; sau đó đến dữ liệu về họ và tên, ngày tháng năm sinh, số CMND.

  Theo kết quả khảo sát điều tra thống kê cho thấy, danh sách người lao động tham gia BHXH và danh sách người lao động kê khai thuế thu nhập cá nhân còn chênh lệch nhau khá lớn trong từng doanh nghiệp. Vì vậy việc chia sẻ thông tin, phân tích sự khác biệt giữa danh sách người lao động tham gia BHXH và danh sách người lao động đã kê khai thuế thu nhập cá nhân để tìm ra những người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa được tham gia BHXH để giải trình lý do là một trong các giải pháp cần thiết để vận động, nhắc nhở doanh nghiệp tham gia BHXH cho những người lao động đó. Việc phối hợp nguồn dữ liệu và cùng chia sẻ thông tin về người lao động trong các doanh nghiệp cần được thực hiện theo giải pháp trước mắt và giải pháp lâu dài.

  Giải pháp trước mắt

  Theo phương pháp thủ công

  Khi Ngành BHXH - Ngành thuế chưa trao đổi nguồn dữ liệu về người lao động và doanh nghiệp trên hệ thống mạng:

  Bước 01. Phòng thu BHXH tỉnh và tổ thu BHXH các quận huyện rà soát doanh nghiệp trên địa bàn quản lý, lựa chọn ra những doanh nghiệp có khả năng trốn đóng BHXH cho người lao động nhiều nhất.

  Bước 02. Hàng tháng, theo cấp quan hệ quản lý trực tiếp, BHXH tỉnh và BHXH cấp quận huyện gửi công văn đề nghị đến cục thuế, chi cục thuế cùng địa bàn quản lý về danh sách người lao động kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân của một số đơn vị lựa chọn.

  Bước 03. Rà soát thủ công giữa 02 danh sách cụ thể về họ và tên từng người đã tham gia BHXH với danh sách họ và tên từng người đã kê khai thuế thu nhập cá nhân có hợp đồng lao động từ 03 tháng (vào cùng thời điểm nhất định, cụ thể là vào cùng 01 tháng trong năm). Từ đó, liệt kê danh sách người đã kê khai thuế thu nhập cá nhân nhưng không có tên trong danh sách người đã tham gia BHXH.

  Bước 04. Gửi công văn đến đơn vị yêu cầu giải trình danh sách những người đã kê khai thuế thu nhập cá nhân nhưng chưa được tham gia BHXH; trong đó, nêu rõ người đã nghỉ hưởng lương hưu còn tham gia làm việc, người đã tham gia BHXH ở doanh nghiệp khác, người lao động chỉ làm việc theo hợp đồng vụ việc, làm bán thời gian..., mức thu nhập (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp) từ hoạt động lao động tại doanh nghiệp làm cơ sở tính thuế thu nhập cá nhân. Việc thông báo này có ý nghĩa báo động cho doanh nghiệp biết đã có sự liên thông dữ liệu giữa Ngành BHXH và ngành thuế; từ đó, có ý thức hơn về nghĩa vụ tham gia BHXH cho người lao động.

  Bước 05. Tiếp nhận bản giải trình của doanh nghiệp, rà soát thông tin về người lao động chưa được tham gia BHXH, mức thu nhập (tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp) tại doanh nghiệp, từ đó gửi công văn nhắc nhở doanh nghiệp đóng BHXH cho người lao động.

  Bước 06. Sau 03 lần nhắc nhở (trước mỗi lần nhắc nhở cần rà soát lại danh sách những người thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa được tham gia BHXH, sau khi đã trừ đi những người mới được tham gia BHXH) sẽ yêu cầu được kiểm tra hoặc thanh tra tình trạng trốn đóng BHXH cho người lao động.

  Tra cứu thông tin về danh sách người lao động trong các doanh nghiệp bằng hệ thống kết nối thông tin giữa Ngành BHXH - Ngành thuế

Khi hệ thống thông tin dữ liệu đã được kết nối liên thông giữa BHXH Việt Nam - Tổng cục Thuế, Phòng Thu BHXH tỉnh, bộ phận thu BHXH các quận, huyện chủ động thực hiện khai thác dữ liệu, không phải gửi công văn yêu cầu cục thuế hoặc Chi cục Thuế cung cấp danh sách người lao động. Đồng thời, cùng với việc sử dụng nguồn dữ liệu giữa 02 ngành, có thể xây dựng phần mềm rà soát việc trùng tên trong từng doanh nghiệp để giảm bớt thời gian rà soát thủ công.

  Giải pháp lâu dài - Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung dựa trên hệ thống công nghệ thông tin trong cả nước

  Hiện nay, nhiều Bộ, ngành, địa phương đã và đang triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước. Chính vì vậy, việc xây dựng và triển khai cơ sở dữ liệu chung về doanh nghiệp và người lao động là yêu cầu cần thiết và khi hoàn thiện sẽ có cở sở dữ liệu mà tất cả các ngành liên quan có thể chia sẻ, sử dụng thông tin được. Từ đó, cũng góp phần cải cách thủ tục hành chính, hạn chế tới mức thấp nhất thông tin quản lý mà doanh nghiệp và người lao động cần đăng ký tại nhiều cơ quan khác nhau, giảm bớt sự phiền hà, tốn kém chi phí, thời gian đi lại. Cơ sở dữ liệu về lao động là một phần của cơ sở dữ liệu nền của cơ sở dữ liệu dân cư và do ngành Công an quản lý – gọi tắt là cơ quan quản lý nguồn dữ liệu. Việc xây dựng và sử dụng cơ sở dữ liệu về lao động cần thực hiện các bước sau:  

  Bước 01. Tại đơn vị sử dụng lao động, người lao động, đơn vị sử dụng lao động sẽ tiến hành kê khai qua bản kê khai điện tử, kê khai trên giấy, kê khai qua email (mẫu kê khai được thiết kế trên sự thống nhất chung) gửi đến cổng thông tin của cơ quan quản lý nguồn dữ liệu.

  Bước 02. Sau khi nhận được bản kê khai, cơ quan quản lý nguồn dữ liệu sẽ số hóa toàn bộ bản kê khai theo các trường dữ liệu. Thông tin chứa trong cơ sở dữ liệu:

  - Đối với người lao động:

Thông tin cá nhân (số định danh, ảnh, họ và tên, họ tên thường gọi, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi sinh, quê quán, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch, số CMDN, nơi cư trú, nơi ở hiện tại, nhóm máu, số hộ chiếu, số thẻ BHYT, họ tên cha, họ tên mẹ, tình trạng hôn nhân, họ tên vợ hoặc chồng, họ tên con, ngày thàng năm mất); thông tin về thu nhập; thông tin về chi tiêu; thông tin về tài sản; thông tin khác.

- Đối với đơn vị sử dụng lao động:

 Các thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; bảng kê khai thông tin đăng ký thuế; bảng kê khai thông tin đăng ký BHXH, BHYT, BHTN; bảng kê khai thang lương, bảng lương doanh nghiêp; thông tin khác.

  Bước 03. Hệ thống cơ sở dữ liệu sẽ cung cấp:

  - Đối với đơn vị sử dụng lao động: Mã số doanh nghiệp đồng thời là mã số thuế của đơn vị dùng để kê khai nộp thuế cho tất cả các loại thuế đơn vị phải nộp; mã đơn vị tại cơ quan BHXH; mã số doanh nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư… Khi đơn vị không còn tồn tại, mã số doanh nghiệp này chấm dứt hiệu lực và không sử dụng lại.

  - Đối với người lao động: Xây dựng mã số định danh cho người lao động, gắn kết với mã số thuế thu nhập cá nhân, số sổ BHXH. Mã số này sẽ gắn với người lao động suốt cuộc đời kể từ khi sinh ra cho đến khi mất đi. Mã số định danh của từng người lao động sẽ khắc phục được sự khác biệt về mã số thuế thu nhập cá nhân và số sổ BHXH của người lao động. Và khi đó, hệ thống mã số quản lý riêng biệt của hai ngành vẫn tồn tại song song.

 - Cơ quan quản lý nguồn dữ liệu sẽ cung cấp cho các đơn vị liên quan để truy cập cơ sở dữ liệu, sử dụng các mã số doanh nghiệp, mã số người lao động để khai thác thông tin người lao động, đơn vị sử dụng lao động phục vụ các nghiệp vụ của ngành mình. Đồng thời, thực hiện kết nối dữ liệu từ các ngành trở lại dữ liệu của cơ quan quản lý nguồn dữ liệu.

 - Các đối tượng được tiếp cận thông tin tại cơ sở dữ liệu trên nguyên tắc phân quyền cụ thể của hệ thống.

  Các vấn đề cần quan tâm khác là xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho hệ thống thông tin dữ liệu được cập nhật, lưu dữ và khai thác; chú trọng đến các biện pháp an ninh, an toàn và bảo mật hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu.

  Có thể chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc xây dựng và cùng khai thác, sử dụng nguồn dữ liệu về người lao động giữa các cơ quan công quyền. Chính phủ rất nỗ lực trong việc xây dựng Chính phủ điện tử, rất quan tâm đến hệ thống mạng điện tử để tổ chức triển khai các chính sách BHXH nhằm chia sẻ thông tin giữa các cơ quan BHXH với nhau và chia sẻ thông tin với cơ quan Thuế, Hải quan, Y tế, Lao động, Giao thông, Xây dựng... Trong thời gian hơn 06 năm, COMWEL đã đầu tư hơn 50 tỷ Won (khoảng gần 50 triệu USD) để cùng các tập đoàn lớn về công nghệ của Hàn Quốc (như tập đoàn SAMSUNG) xây dựng một hệ thống mạng thông tin điện tử, dữ liệu thông minh bao gồm hệ thống hạ tầng thiết bị máy chủ, thiết bị mạng, bảo mật, thiết bị lưu trữ dữ liệu mạnh và hiện đại; hệ thống phần mềm ứng dụng tiến tiến và các dịch vụ web, portal; hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất toàn quốc có liên kết thông tin với các cơ quan hữu quan. Chính thức kể từ năm 2014 đến nay, hệ thống mạng thông tin này một mặt cung cấp dịch vụ cho các nhân viên BHXH có thể làm việc di động (tại văn phòng, tại nhà hay tại bệnh viện, các đơn vị sử dụng lao động) bằng cách tích hợp vào máy tính xách tay (laptop), điện thoại thông minh (smartphone) để nhân viên có thể sử dụng bất kỳ lúc nào và ở đâu. Mặt khác, với mạng thông tin này, người lao động hoặc đơn vị sử dụng lao động khi giao dịch với cơ quan BHXH chỉ cần đăng nhập trên mạng trực tuyến (online) và thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống giao dịch điện tử. Việc sử dụng mạng thông tin điện tử giúp cho nhân viên BHXH có thể tiết kiệm thời gian trong việc lưu trữ, tìm kiếm tài liệu nghiệp vụ cũng như xử lý các thông tin tức thời và người tham gia BHXH cũng giảm bớt được rất nhiều công việc liên quan đến thủ tục hành chính, cũng như giảm đi rất nhiều thời gian giao dịch với cơ quan BHXH.

 Việc triển khai hệ thống công nghệ thông tin được tổ chức khoa học, chặt chẽ, đảm bảo ứng dụng, xử lý mọi nghiệp vụ bảo hiểm nhanh chóng, kịp thời, thuận tiện với độ chính xác cao. Bên cạnh việc phát triển hệ thống hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin, cần rất quan tâm đến hệ thống bảo mật thông tin để phòng chống hành vi lợi dụng, chiếm đoạt thông tin từ chính nhân viên BHXH hoặc tổ chức, cá nhân khác khi liên kết hệ thống với các mạng thông tin khác bằng cách phân quyền truy cập, cấm sao chép các thông tin, dữ liệu. Mỗi khi đăng nhập vào hệ thống phải cấp một mã số bí mật tự động (OTP) hoặc xác thực bằng mã bảo mật thông tin cá nhân (chữ ký số).

 Tài liệu tham khảo:

- Luật BHXH số 71/2006/QH11, ban hành ngày 29/06/2006.

- Luật BHXH số 58/2014/QH13, ban hành ngày 20/11/2014.

- Luật BHYT số 25/2008/QH12, ban hành ngày 14/11/2008.

- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13, ban hành ngày 13/06/2014.

- Luật Thuế Thu nhập cá nhân, số 04/2007/QH12 ban hành ngày 21/11/2007.

- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13, ban hành ngày 22 /11/2012.

- Nghị định số 90/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ban hành ngày 18/08/2010.

Tài liệu học tập tại Hàn Quốc của đoàn cán bộ BHXH Việt Nam tháng 04/2015.

TS.Phạm Đình Thành

Viện Khoa học BHXH, BHXH Việt Nam

 

Viết bình luận