Nguồn lực quan trọng bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân

28/06/2018 09:49:12
Hướng tới thực hiện bao phủ chăm sóc sức khoẻ và BHYT toàn dân - là một trong những quan điểm định hướng phát triển y tế nước ta và từng bước được cụ thể hóa trong thực tiễn hiện nay. Để có góc nhìn đánh giá, bình luận đa chiều về nội dung này, Phóng viên Tạp chí BHXH có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Kidong Park - Trưởng Đại diện Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới - WHO tại Việt Nam.

 


Năm 2018, Tổ chức Y tế thế giới - WHO đưa ra Hồ sơ quốc gia về Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân (Universal Health Coverage hay UHC), tổng hợp dữ liệu phát triển y tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Cụ thể hơn, xin ông cho biết những đánh giá trong UHC về quá trình phát triển bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của Việt Nam.
    
TS. Kidong Park: Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là đảm bảo tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng ở bất kỳ đâu, bất cứ khi nào họ cần họ mà không gặp khó khăn về tài chính. Nó bao gồm toàn bộ các dịch vụ thiết yếu trong suốt cuộc đời - từ nâng cao sức khoẻ đến phòng ngừa, điều trị, phục hồi chức năng và chăm sóc giảm nhẹ.
Năm 2018, WHO đã làm một nghiên cứu lớn để đưa ra Hồ sơ sức khỏe cho mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đánh giá chung tổng thể của chúng tôi là Việt Nam đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho 73% dân số - đây là một con số khá cao so với các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, người Việt cũng gặp phải khá nhiều khó khăn về mặt tài chính do chi phí y tế.
Hệ thống y tế Việt Nam có một số nổi trội ở một vài lĩnh vực nhưng cần được định hướng lại để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sức khỏe liên tục thay đổi và các thách thức mới. Ở Việt Nam, việc tiêm chủng và chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em đã có những bước tiến đáng kể và góp phần vào việc giảm tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em. Tuy nhiên, Việt Nam cần đẩy mạnh và duy trì những nỗ lực trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị các bệnh truyền nhiễm quan trọng trong y tế công cộng (như lao và HIV), cũng như trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim, đột quỵ, đái tháo đường và ung thư.
Các bệnh không lây nhiễm vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam. Nếu tình hình không cải thiện, cứ 1 trong 5 người độ tuổi 30 ở Việt Nam sẽ chết vì bệnh không lây nhiễm trước sinh nhật thứ 70 của mình. Ở Việt Nam, tỷ lệ hút thuốc ở nam, cũng như mức độ tiêu thụ rượu bia, và tỷ lệ tử vong do ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời đều khá cao so với các quốc gia trong khu vực.
Ở Việt Nam, khoảng 19% các hộ gia đình phải dành hơn 10% thu nhập để chi trả cho dịch vụ y tế. Đây là mức độ được cho là khá cao và gây ra khó khăn đáng kể về mặt tài chính cho hộ gia đình.
Năm 2014, tổng chi y tế theo đầu người ở Việt Nam là 142 đô-la Mỹ, tương đương 7,1% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Trong đó phần chi công (từ ngân sách và từ BHYT) chiếm 54%, còn lại là chi tư mà phần lớn là chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình. Nếu như không có giải pháp bảo vệ tài chính thích đáng, việc chi từ tiền túi cao của hộ gia đình có thể đẩy nhiều gia đình vào tình trạng đói nghèo. Bởi vậy, Việt Nam cần phải tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính, đặc biệt là BHYT, tăng dần tỉ lệ chi cho y tế từ các nguồn tài chính công.
Hồ sơ quốc gia nêu rõ những thách thức trong việc đạt được bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân ở Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tại còn thiếu nhiều số liệu chi tiết. Các phiên bản hồ sơ sức khỏe quốc gia trong tương lai cần có thông tin về tiếp cận các dịch vụ y tế theo các nhóm thu nhập khác nhau, vùng thành thị và nông thôn để Chính phủ có thể tập trung đến các nhóm yếu thế. Bước này sẽ giúp đảm bảo rằng người nghèo ít nhất đạt được mức ngang bằng với các nhóm khá giả hơn trong quá trình dẫn tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Để đạt được bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân thì nguồn tài chính y tế đóng vai trò quan trọng. Việt Nam cũng đã xác định rõ định hướng phát triển BHYT toàn dân là một giải pháp nhằm bảo đảm nguồn lực tài chính phát triển y tế trong thời gian tới; từng bước chuyển chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cấp trực tiếp cho cơ sở y tế sang hỗ trợ người tham gia BHYT, giảm chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho chăm sóc y tế. Từ góc nhìn của WHO, ông bình luận như thế nào về định hướng phát triển này ?
    
TS. Kidong Park: Có nhiều con đường để tiến tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân –mỗi quốc gia sẽ lựa chọn những con đường phù hợp với mình. Dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ người dân, đặc biệt là nhóm thu nhập thấp, tham gia BHYT; và dùng cơ chế BHYT để thay thế cho chi trả từ tiền túi; … là những giải pháp nhiều quốc gia đang nỗ lực theo đuổi. Đó là những định hướng tốt, những định hướng lớn và chung, tuy nhiên để theo đuổi những định hướng lớn đó, những cơ quan thực hiện sẽ phải ra nhiều quyết sách tiếp theo, nhằm hiện thực hóa một cách thành công những định hướng này, nếu không, chúng ta cũng chỉ chuyển từ khó khăn kiểu này sang khó khăn kiểu khác, từ thách thức dạng này sang dạng khác mà thôi.
Việc giảm cấp ngân sách trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ, và dùng tiền này đầu tư cho người tham gia BHYT là một giải pháp nâng cao tính minh bạch và giải trình, đối với cả bên chi trả (cơ quan BHXH) và bên nhận chi trả (đơn vị cung ứng dịch vụ/bệnh viện). Đồng thời các đơn vị cung ứng dịch vụ được hoạt động, hạch toán như những doanh nghiệp, và có nhiều tự chủ hơn trong sắp xếp, tổ chức hoạt động khám, chữa bệnh của họ, nâng cao hiệu suất hoạt động. Đó là điều đúng và là điều chúng ta mong muốn. Tuy nhiên, nhân viên y tế không nhận lương từ ngân sách nữa nhưng điều đó không có nghĩa là các đơn vị cung ứng dịch vụ có thể cung ứng bất cứ dịch vụ gì, với bất cứ số lượng nào, và cạnh tranh, lôi kéo bệnh nhân/khách hàng đến với mình, bởi những điều này sẽ đi ngược lại mục tiêu UHC, làm cho mỗi lần khám chữa bệnh có thể đắt đỏ hơn và xu hướng cung ứng nhiều hơn mức cần thiết. Tự chủ bệnh viện đòi hỏi cả bên BHXH và bên quản lý nhà nước về y tế (Bộ Y tế) phải nâng cao năng lực kiểm soát và có những kỹ năng mới. Trong khi khả năng chi trả của cơ quan BHXH tăng lên (vì số người tham gia BHYT tăng lên), cần nâng cao năng lực giám định dịch vụ BHYT, mà quan trọng hơn đó là phải nắm bắt được thông tin về thị trường, về giá thuốc/vật tư/thiết bị tốt hơn, và có chiến lược hơn trong phương thức chi trả. Cơ quan BHXH sẽ phải quyết định là quỹ BHYT sẽ được ưu tiên tập trung vào đâu, vào các dịch vụ y tế thiết yếu, hay vào bất cứ dịch vụ gì, bất kể chi phí bao nhiêu và kết quả điều trị thế nào… Trong tình huống khác,  gánh nặng tài chính được chuyển sang bệnh nhân, dẫn đến là bệnh nhân có BHYT nhưng vẫn phải chi cao từ tiền túi. Cả 2 trường hợp này đều không đưa đến mục tiêu UHC.
Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần nâng cao năng lực quản lý và kiểm soát chất lượng, đặc biệt trong bối cảnh tự chủ bệnh viện. Hệ thống quy chuẩn, kỹ thuật, từ chẩn đoán đến điều trị, cần được hoàn thiện, và phải được tuân thủ nghiêm ngặt, bắt buộc ở các cơ sở y tế. Vấn đề về an toàn và bảo vệ bệnh nhân, trong cơ chế tự chủ và thị trường, sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nói tóm lại, chúng ta thay đổi để hướng tới một môi trường minh bạch và chuyên nghiệp hơn, điều đó cũng có nghĩa là vai trò và nhiệm vụ của các cơ quan chính trong thực hiện BHYT cũng cần thay đổi, và là vấn đề tiên quyết để cuộc cải cách thành công.

Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, hiện tỷ lệ bao phủ đạt gần 87% dân số. Mục tiêu phát triển giai đoạn tới cũng đã được xác định trong định hướng chỉ đạo của Chính phủ. Tiến sĩ đánh giá như thế nào về những kết quả BHYT của Việt Nam hiện nay, định hướng thời gian tới? Đâu sẽ là những khó khăn thách thức và khuyến nghị cho Việt Nam?
    
TS. Kidong Park: Tỷ lệ bao phủ BHYT đã đạt gần 87% dân số - một kết quả ấn tượng mặc dù thách thức vẫn còn phía trước vì mục tiêu của Chính phủ là bao phủ toàn dân. Ngoài việc Việt Nam cần tiếp tục duy trì và mở rộng bao phủ BHYT, một việc khác cần thực hiện song song đó là làm sao để BHYT thực sự là cơ chế bảo vệ tài chính, giúp giảm đáng kể chi trả từ tiền túi, khi ốm đau.
Để làm được điều đó, hệ thống BHYT cần được thiết kế tốt và được thực hiện hiệu quả. Quỹ BHYT là có hạn, và do đó cần được sử dụng một cách hiệu quả nhất, để làm sao nhu cầu của bệnh nhân được thỏa mãn, bên cung ứng được trả tiền xứng đáng, trong khi quỹ thì không bị thiếu hụt. Điều này nói thì đơn giản nhưng thực hiện thì khó hơn rất nhiều.
Thực hiện BHYT không chỉ đơn giản là thu phí BHYT (từ doanh nghiệp, người dân) hay nhận các khoản chuyển từ ngân sách, và dùng quỹ đó chi trả cho bên cung ứng dịch vụ khi bệnh nhân sử dụng dịch vụ. Trước hết hệ thống cần được thiết kế tốt - thu phí thế nào; chi trả cho những dịch vụ gì/thuốc gì; trả với cái giá bao nhiêu và trả như thế nào để tránh lãng phí; sau đó là thực hiện, giám sát đánh giá và liên tục cải thiện hệ thống. Nhưng đó không phải là tất cả. Để chính sách BHYT được thực hiện thành công, ngoài việc thiết kế và thực hiện tốt BHYT, còn phải có các chính sách y tế đồng bộ khác như chính sách về nguồn nhân lực, về quản lý và đảm bảo chất lượng và an toàn dịch vụ y tế; về mô hình tổ chức và cung ứng dịch vụ hợp lý; v.v. Các chính sách này, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện BHYT dù không liên quan trực tiếp đến BHYT, cần được thiết kế và thực hiện đồng bộ và nhất quán với các chính sách về BHYT, để BHYT được thực hiện hiệu quả. Nói cách khác, hệ thống BHYT và hệ thống y tế bổ trợ nhau và cùng hướng tới một mục tiêu chung là bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân./.


Trân trọng cảm ơn ông!
Minh Đức (thực hiện)

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam