Những bước tiến trong đổi mới tư duy về thực hiện BHYT toàn dân

09/03/2017 16:59:39
Cùng với quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức chăm lo đến công tác khám, chữa bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho mọi tầng lớp nhân dân. Chủ trương của Đảng về thực hiện BHYT toàn dân trong thời kỳ đổi mới được khẳng định và phát triển qua các kỳ đại hội dựa trên cơ sở nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách BHYT, phù hợp với nhu cầu tất yếu khách quan của con người và trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Đây là chủ trương có ý nghĩa hết sức quan trọng, khẳng định sự đúng đắn và kịp thời trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ta. Những định hướng của Đảng về mô hình BHYT, đổi mới đồng bộ cơ chế, chính sách, bảo vệ quyền khám, chữa bệnh của người tham gia BHYT… là điều kiện vững chắc để thực hiện BHYT toàn dân.

    Thực hiện BHYT toàn dân là quan điểm nhất quán của Đảng trong thời kỳ đổi mới

  Văn kiện Nghị quyết Đại hội Đảng nhất quán quan điểm thực hiện BHYT toàn dân. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “… tiến tới BHYT toàn dân”. Tiếp đó, Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới khẳng định: “Phát triển BHYT toàn dân nhằm từng bước đạt tới sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe với người ốm, người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với người già, trẻ em”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Có lộ trình thực hiện BHYT toàn dân”. Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, trên cơ sở nhận thức: “BHYT là chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống An sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội”, khẳng định mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân, phấn đấu đến năm 2020, trên 80% dân số tham gia BHYT. Tháng 01/2016, Đại hội lần thứ XII của Đảng diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới đất nước diễn ra tròn 30 năm đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, bảo đảm An sinh xã hội cho các tầng lớp nhân dân cũng được thực hiện ngày một tốt hơn. Yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được Đảng hết sức quan tâm, bên cạnh nhiều chủ trương quan trọng khác, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII một lần nữa khẳng định: “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách BHYT cho toàn dân”, “Đẩy nhanh tiến độ thực hiện BHYT toàn dân”. Như vậy, có thể thấy, chủ trương thực hiện BHYT toàn dân luôn được Đảng ta khẳng định và phát triển qua các kỳ đại hội.

  Trong thực tế cuộc sống, con người luôn có nhu cầu chính đáng được bảo vệ, chăm lo sức khỏe những lúc ốm đau. Một cơ chế chia sẻ rủi ro mang tính xã hội được thực hiện trên diện rộng với sự đảm bảo chắc chắn từ phía Nhà nước trở thành một nhu cầu tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Trước khi chủ trương về BHYT ra đời, Việt Nam áp dụng mô hình tài chính y tế thông qua ngân sách nhà nước. Cho đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, ngân sách nhà nước vẫn bao cấp toàn bộ cho y tế, người dân không phân biệt giàu nghèo, địa vị, dân tộc, khi khám, chữa bệnh đều được miễn phí. Chế độ bao cấp về chăm sóc y tế có ý nghĩa đối với thời điểm lúc đó khi mà nước ta vừa ra khỏi chiến tranh, đời sống nhân dân còn hết sức khó khăn. Tuy nhiên, trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, cùng với tác động của khủng hoảng kinh tế, viện trợ nước ngoài giảm dần, ngân sách không có để cấp đủ cho y tế. Các cơ sở khám, chữa bệnh lâm vào tình trạng thiếu kinh phí hoạt động trầm trọng trong khi chi phí khám, chữa bệnh ngày một tăng cao. Trong bối cảnh khó khăn về tài chính y tế, khắc phục hạn chế của hệ thống chăm sóc sức khoẻ miễn phí, việc thực hiện đổi mới về y tế với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo tinh thần của Đại hội VI đã được tiến hành. Ngày 24/04/1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 45/HĐBT cho phép các cơ sở khám, chữa bệnh thu một phần viện phí bao gồm tiền giường nằm điều trị, điều dưỡng, thuốc… ưu điểm của chính sách này là tạo ra nguồn thu cho chăm sóc sức khỏe trong điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn chế, khuyến khích người dân có trách nhiệm tự bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên, giải pháp thu viện phí chưa thực sự hiệu quả và phát sinh thực tế là không phải mọi đối tượng đều có khả năng nộp viện phí (như người thu nhập thấp, người nghèo, cán bộ hưu trí…). Nếu không có giải pháp khác, vô hình chung, chính sách thu viện phí đã đẩy một bộ phận nhân dân cần được chăm sóc y tế ra khỏi phạm vi bảo vệ của các dịch vụ y tế. Nhận thức sâu sắc hiện thực khách quan, dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, tại Đại hội lần thứ VII (1991), chủ trương về: “Phát triển bảo hiểm khám, chữa bệnh…” đã được Đảng xác định cùng với những định hướng “Thiết lập một hệ thống đồng bộ và đa dạng về bảo hiểm và trợ cấp xã hội” , “Phát triển các dịch vụ bảo hiểm sản xuất và đời sống dựa trên đóng góp tự nguyện, hoạt động theo phương thức hạch toán kinh doanh, được Nhà nước bảo hộ”... Đây là chủ trương có ý nghĩa hết sức quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới, chỉ ra yêu cầu xây dựng hệ thống đồng bộ, đa dạng về bảo hiểm, huy động sự đóng góp của nhân dân, sự bảo hộ của Nhà nước, phương thức hạch toán kinh doanh, bảo đảm cân đối thu - chi.

  Chủ trương của Đảng xuất phát từ nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách BHYT và BHYT toàn dân - con đường chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân tốt nhất trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của chính sách BHYT, BHYT toàn dân ngày càng được Đảng nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn. Ngày 07/09/2009, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 38-CT/TW về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới chỉ ra yêu cầu phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa của BHYT. Theo đó, BHYT vừa là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức, nhằm huy động sự đóng góp tài chính của cộng đồng để tạo Quỹ BHYT không vì mục đích lợi nhuận, giúp cho người tham gia có nguồn tài chính để chăm sóc sức khỏe, bảo vệ quyền lợi của mình theo Luật định. BHYT là một bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính y tế quốc gia và là một trong những phương thức tạo nguồn tài chính cho hoạt động chăm sóc sức khỏe thông qua huy động đóng góp của người dân, được thực hiện có tổ chức, mang tính chia sẻ trong cộng đồng và nhằm mục đích thực hiện công bằng, nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. BHYT là một trong các hoạt động nhân đạo nhất, thể hiện sự hỗ trợ tương thân tương ái trong chăm sóc sức khỏe giữa người giàu với người nghèo, giữa người thuận lợi về sức khỏe với người ốm đau và rủi ro về sức khỏe, giữa người đang độ tuổi lao động với người già và trẻ em. Đồng thời, BHYT mang tính dự phòng rủi ro do chi phí cao cho chăm sóc sức khỏe gây nên khi ốm đau, bệnh tật. Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 tiếp tục khẳng định: “BHYT là chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống An sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế xã hội”. Từ chủ trương phát triển bảo hiểm khám, chữa bệnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, BHYT ra đời, ngày càng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống An sinh xã hội. Nhận thức sâu sắc tính tất yếu khách quan và tầm quan trọng của BHYT, Đảng nhất quán thực hiện chủ trương BHYT toàn dân.

   Chủ trương của Đảng về xây dựng BHYT toàn dân ở Việt Nam

  Về lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, theo quan điểm của Đảng, Việt Nam xây dựng mô hình BHYT toàn dân bắt buộc và được thực hiện theo lộ trình phù hợp, thống nhất, đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Điều này đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn và luôn luôn đúng trong giai đoạn tiếp theo, khi cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, thu nhập của người dân được tăng lên, cuộc sống được cải thiện, sẽ có điều kiện để mở rộng các chế độ, chính sách BHYT với mức đóng, hưởng được điều chỉnh phù hợp hơn. Chỉ thị 38-CT/TW ngày 07/09/2009 của Ban Bí thư nêu rõ: “Có nhiều hình thức BHYT nhưng hình thức mang tính ưu việt nhất mà nước ta phải hướng tới trong chính sách BHYT là BHYT bắt buộc toàn dân với nguyên tắc mọi người dân đóng góp BHYT theo thu nhập cá nhân, người nghèo và người trong diện chính sách xã hội được Nhà nước hỗ trợ, nhưng khi khám bệnh, chữa bệnh hưởng theo quyền lợi đã được quy định dựa trên nhu cầu chữa bệnh”, “Phát động cuộc vận động toàn dân tham gia BHYT theo lộ trình quy định của Luật BHYT để thực hiện mục tiêu BHYT bắt buộc đối với toàn dân”, “Song song với cuộc vận động toàn dân tham gia BHYT, Chính phủ cần xây dựng lộ trình thích hợp để tiến đến BHYT bắt buộc toàn dân trong những năm tiếp theo”. Mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đạt 80% dân số tham gia BHYT đã được xác định bởi Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/06/2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 và Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020.

  Về đối tượng tham gia, để thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân, các Văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: “Có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia BHYT. Nâng cao hiệu quả sử dụng BHYT đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo… Mở rộng chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người tham gia BHYT, nhất là BHYT cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, nông dân, học sinh, sinh viên, đồng bào ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng núi. Có chính sách khuyến khích người tham gia BHYT tự nguyện thường xuyên dài hạn, hạn chế tình trạng người bị ốm đau mới mua BHYT”. Đặc biệt quan tâm đến nhóm yếu thế là một nét đặc trưng nổi bật trong quan điểm của Đảng về thực hiện BHYT toàn dân. Đảm bảo người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 06 tuổi, đối tượng chính sách, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và nhóm người dễ bị tổn thương được tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản có chất lượng, hướng đến nâng cao tính công bằng, hiệu quả trong tiếp cận, sử dụng các dịch vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khẳng định “thực hiện tốt chế độ BHYT; ban hành chính sách miễn giảm viện phí cho các đối tượng chính sách và cho người nghèo”. Chủ trương về “giải quyết viện phí cho người nghèo và nhân dân các vùng xa xôi, hẻo lánh” cũng đã được Đại hội lần thứ VIII của Đảng chỉ ra. Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng khẳng định, “thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe;… có chính sách trợ cấp và BHYT cho người nghèo”. Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư về củng cố và hoàn thiện y tế cơ sở đã định hướng: “Phát triển BHYT ở nông thôn, đặc biệt là BHYT cho người nghèo, những người thuộc diện chính sách trợ cấp xã hội và nông dân”. Chú trọng xây dựng nền y tế phục vụ cho toàn dân, trong đó, quan tâm đặc biệt tới người được hưởng chính sách xã hội, người nghèo “xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ cấp và BHYT cho người hưởng chính sách xã hội và người nghèo trong khám, chữa bệnh”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT, BHTN, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương”. Sự phát triển quan điểm của Đảng về chính sách BHYT thể hiện rõ nét, từ yêu cầu hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh cho đối tượng chính sách, người nghèo, người ở vùng sâu, vùng xa… đến bảo đảm về BHYT cho họ, đảm bảo tính chủ động và quyền được khám, chữa bệnh BHYT.

  Cùng với đó, vấn đề bảo đảm quyền khám, chữa bệnh và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT cũng được Đảng hết sức chú trọng để thu hút ngày càng đông người dân tham gia BHYT, tạo đà thực hiện BHYT toàn dân một cách bền vững. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, định hướng phát triển trên lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể chất của nhân dân, Đảng đưa ra chủ trương: “Xóa bỏ sự phân biệt giữa khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT và theo chế độ thu phí dịch vụ”. Ban Bí thư cũng yêu cầu: “Ban Cán sự Đảng Bộ Y tế tập trung chỉ đạo việc nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại các cơ sở y tế”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Bảo đảm cho người có BHYT được khám, chữa bệnh thuận lợi”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII một lần nữa khẳng định: “… đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ y tế” .

  Như vậy, thực hiện BHYT và quyết tâm hoàn thành mục tiêu BHYT toàn dân là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng. Trong suốt gần 30 năm qua, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chính sách BHYT. Những quan điểm, chủ trương lãnh đạo của Đảng chỉ ra định hướng cho sự phát triển của chính sách BHYT, lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, góp phần bảo đảm An sinh xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, BHYT đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước, góp phần đảm bảo sự công bằng trong khám, chữa bệnh, người lao động, người sử dụng lao động và người dân nói chung ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về sự cần thiết của BHYT, cũng như trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội. Đông đảo người lao động, người nghỉ hưu, mất sức, đối tượng chính sách xã hội và một bộ phận người nghèo yên tâm hơn khi ốm đau đã có chỗ dựa tin cậy là BHYT. Yêu cầu xây dựng hệ thống BHYT toàn dân luôn được Đảng xác định là một trong những phương pháp quan trọng góp phần bảo đảm thực hiện An sinh xã hội bền vững.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam