Những năm Tý trong lịch sử và dấu ấn An sinh xã hội

28/01/2020 22:21:06
Ngay từ khi thành lập (03/02/1930), Đảng ta đã có nhiều định hướng phát triển An sinh xã hội. Có thể nói, qua các giai đoạn phát triển, An sinh xã hội cho Nhân dân luôn là mục tiêu tối thượng mà Đảng ta hướng tới. Xuân Canh Tý 2020, dấu mốc Ngành BHXH kỷ niệm 25 năm ngày thành lập, nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển các chính sách trụ cột an sinh xã hội của nước ta, thật thú vị khi thấy những năm Tý trong lịch sử từ khi có Đảng mang nhiều dấu ấn an sinh...

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp năm 1959

NĂM BÍNH TÝ 1936 

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 7/1936 do đồng chí Lê Hồng Phong chủ trì ở Thượng Hải (Trung Quốc), dựa trên Nghị quyết Đại hội 7 của Quốc tế cộng sản, đề ra đường lối và phương pháp đấu tranh. Hội nghị xác định:

+ Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương là chống đế quốc và
phong kiến.

+ Nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát
xít, chống nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình.

+ Buộc thực dân Pháp phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ. Hưởng ứng chủ trương trên, các “Uỷ ban hành động” nối tiếp nhau ra đời ở nhiều địa phương trong cả nước. Quần chúng khắp nơi sôi nổi tổ chức các cuộc mít tinh, hội họp, diễn thuyết để thu thập “dân nguyện”, đưa yêu sách đòi Chính quyền thực dân Pháp phải trả tự do cho tù chính trị, thi hành luật lao động ngày làm 8 giờ và đảm bảo số ngày nghỉ có lương trong năm cho công nhân, cải thiện đời sống của Nhân dân. Dưới sự đấu tranh của giai cấp công nhân, những người làm việc trong bộ máy cai trị của Pháp, đặc biệt là những người công nhân lao động trong các hầm mỏ, nhà máy của Pháp bắt đầu được hưởng một số chế độ BHXH như hưu bổng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mặc dù còn hết sức hạn chế.

NĂM MẬU TÝ 1948

Năm 1948, xét thấy sự cần thiết phải lập một chế độ mới cho công chức Việt Nam thích hợp với nền Dân chủ Cộng hòa và công cuộc kháng chiến kiến quốc, nhằm cải thiện đời sống, đơn giản hóa chế độ công chức theo những nguyên tắc cơ bản như ấn định được mức sinh hoạt tối thiểu, trọng dụng thành tích, phát huy tài năng, chú ý đến tình trạng gia đình, nâng đỡ phụ nữ, đồng bào miền núi làm công chức và thống nhất ngạch, cấp bậc công chức, làm cơ sở tính mức đóng góp vào quỹ hưu bổng, ngày 29/05/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 188-SL quy định về phụ cấp gia đình, phụ cấp khu vực khí hậu xấu, phụ cấp khu vực tiền tuyến; chế độ thai sản cho công chức nữ. Theo đó, kể từ ngày 01/05/1948, các công chức chính ngạch ở mỗi ngành làm việc trong các cơ quan của Chính phủ, sẽ theo một thang lương chung gồm 25 bậc. Trong đó, sẽ có một số lương chính ngạch, làm căn cứ để tính 10% đóng góp vào Quỹ hưu bổng, một số lương phụ tạm thời quy định bằng 40% lương chính, được Chính phủ định theo thời gian sinh hoạt và có sự điều chỉnh cho phù hợp ở từng thời điểm.

Về chế độ thai sản với công chức nữ, Sắc lệnh quy định, công chức phụ nữ sinh con được nghỉ 02 tháng hưởng nguyên lương và các phụ cấp. Nếu chồng của nữ công chức không là công chức thì nữ công chức được hưởng các chế độ phụ cấp gia đình để nuôi con như công chức nam giới và cả cho chồng nếu chồng tàn tật không thể làm việc được. Đối với những công chức đã nghỉ hưu, được Chính phủ trưng tập, sẽ được hưởng lương tương ứng với công việc phụ trách nhưng phải trừ đi số hưu bổng vẫn lĩnh.

NĂM CANH TÝ 1960 

Ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp 1959 đã được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959. Trong đó, Hiến pháp tiếp tục khẳng định quan điểm lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta về phát triển chính sách BHXH, như tại Điều 32: “Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức BHXH, cứu tế và y tế để đảm bảo cho người lao động được hưởng điều đó” và tại Điều 24: “…cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương...”. Đây là những định hướng nền
tảng cho việc cải tiến, thống nhất các chế độ có tính chất BHXH, nhằm cải thiện đời sống của công nhân, viên chức nhà nước trong thời kỳ cả đất nước thực hiện cuộc kháng chiến kiến quốc.

NĂM NHÂM TÝ 1972

Với đặc điểm lịch sử của một chính quyền Nhân dân non trẻ, vừa giành được độc lập đã liên tục thực hiện các cuộc kháng chiến kiến quốc, chống thù trong, giặc ngoài, việc bảo đảm quyền lợi về BHXH, an sinh xã hội cho người lao động và Nhân dân cũng có nhiều đặc điểm riêng mang tính lịch sử. Đặc biệt là việc tính thời gian công tác để hưởng chế độ của người lao động. Ngày 04/9/1972, thực hiện chỉ đạo của Hội đồng Chính phủ, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 13/NV hướng dẫn và quy định cụ thể về việc tính thời gian công tác của công nhân viên chức nhà nước. Tại văn bản này, hướng dẫn các tính thời gian công tác liên tục cho nhiều đối tượng như người hoạt động cách mạng trước Tháng 8 năm 1945; người hoạt động ở vùng địch hậu trong thời kỳ kháng chiến; thời gian công tác của công nhân, viên chức có tham gia kháng chiến chống Pháp; thời gian làm việc theo chế độ tạm tuyển từ sau ngày hòa bình ập lại (20/7/1954)... Đặc biệt, văn bản này còn hướng dẫn cách tính thời gian công tác để hưởng chế độ với những công nhân, viên chức có thời gian làm công ăn lương dưới chế độ cũ, nếu công việc họ làm không có tính chất chống phá cách mạng hoặc đàn áp Nhân dân thì thời gian đó cũng được tính là thời gian công tác để được hưởng chế độ hưu trí - Điều này càng khẳng định tính nhân văn, nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa.

NĂM GIÁP TÝ 1984

Sơ kết 01 năm thực hiện Quyết định số 15/HĐBT ngày 14/12/1983 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thí điểm thực hiện BHXH cho xã viên hợp tác xã, cả nước đã có 3.982 hợp tác xã với
360.483 xã viên tham gia BHXH. Ngoài ra, còn có gần 21.000 lao động làm việc trong các tổ hợp hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp tham gia BHXH. Tại nhiều địa phương đã thực hiện một số chế độ BHXH đối với xã viên hợp tác xã ở mức độ khác nhau. Việc thực hiện BHXH trong các đơn vị kinh tế tập thể này, đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định
 đời sống cho xã viên hợp tác xã khi ốm đau, tai nạn lao động, mất sức lao động hoặc khi tuổi già; đồng thời, tạo được niềm tin, phấn khởi cho người lao động làm việc ở khu vực hợp tác xã. Từ kết quả thực hiện BHXH cho người lao động tại các hợp tác xã đã khẳng định, việc thực hiện chính sách BHXH đối với người lao động trong khu vực kinh tế tập thể nói riêng và người lao động thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung đã trở thành một đòi hỏi khách quan. Bởi chính sách BHXH không chỉ đảm bảo đời sống của người lao động khi gặp rủi ro, mà còn tạo thêm động lực phát triển sản xuất, thiết lập sự công bằng về quyền lợi - nghĩa vụ của họ đối với các chính sách kinh tế - xã hội. Đây là những tiền đề thực tiễn quan trọng để hoàn thiện chính sách BHXH trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

NĂM BÍNH TÝ 1996

Định hướng đổi mới chính sách xã hội, đặc biệt là đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được khẳng định tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996: “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế, áp dụng bắt buộc đối với các cơ quan, các doanh nghiệp. Tổ chức quản lý và sử dụng tốt các quỹ bảo hiểm; bảo đảm đời sống của người nghỉ hưu”. Cũng tại kỳ Đại hội này, chủ trương đổi mới cơ chế tài chính y tế thông qua thực hiện BHYT từng bước được khẳng định: “... Tăng đầu tư của Nhà nước, kết hợp với tạo thêm nguồn kinh phí khác cho y tế như phát triển bảo hiểm”. Ngày 20/06/1996, Chính phủ ra Nghị quyết số 37/CP về Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân trong giai đoạn 1996 - 2000 và Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam. Chủ trương xem xét, sửa đổi Điều lệ BHYT, phát triển BHYT được Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục thực hiện tốt việc thu một phần viện phí và phát triển BHYT để tăng thêm nguồn tài chính phục vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân... Tổ chức lại và chuyển đổi phương thức hoạt động của BHYT, thực hiện cho được BHYT tự nguyện để đến năm 2020, viện phí phần lớn được thực hiện qua BHYT”.

Năm Bính Tý 1996 cũng là năm đầu tiên BHXH Việt Nam đi vào hoạt động với bộ máy tổ chức được kiện toàn (vì trên thực tế, hoạt động nghiệp vụ của năm 1995 chỉ diễn ra trong 03
tháng cuối năm). Với những nỗ lực và quyết tâm cao, BHXH Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc, toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao. Số thu BHXH đạt trên 2.500 tỷ đồng, bằng 150,71% kế hoạch, tăng gấp 3,59 lần so với số thu năm 1995; hoàn thành việc cấp sổ BHXH cho gần 03 triệu người lao động đang tham gia BHXH, làm cơ sở pháp lý quan trọng để Ngành BHXH giải quyết chế độ đối với người lao động. Cũng trong năm 1996, việc chi trả các chế độ BHXH được BHXH các tỉnh, thành phố đảm bảo chi trả đủ số, kịp thời và đến tận tay đối tượng với tổng số tiền là trên 4.791 tỷ đồng, được đông đảo người lao động tin tưởng, hoan nghênh, ủng hộ. Hầu hết BHXH các tỉnh đã áp dụng mô hình chi trả trực tiếp tại các địa bàn mà điều kiện cho phép, qua đó quản lý chặt chẽ được số tăng, giảm đối tượng và phát hiện nhiều tiêu cực như khai man hồ sơ hoặc hưởng quá thời gian quy định, đã xử lý, thu hồi và giảm chi
 cho ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Chỉ trong năm 1996, toàn Ngành đã thẩm định trên 75.000 hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH thường xuyên và một lần, bảo đảm tính chính xác và đầy đủ của hồ sơ. Bên cạnh việc hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu thu, tổ chức chi trả an toàn và từng bước thực hiện đầu tư tăng trưởng Quỹ theo chỉ đạo của Chính phủ, các mặt công tác khác như kiểm tra, giải quyết chính sách, tuyên truyền cũng được chú trọng. Từ tháng 01/1996, BHXH Việt Nam đã cho ra mắt ấn phẩm Bản tin BHXH (tiền thân của Tạp chí BHXH), phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách BHXH và các hoạt động của hệ thống BHXH trong cả nước. Tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 1996 của BHXH Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã khẳng định: “Chỉ trong chưa đầy 02 năm hoạt động, BHXH Việt Nam đã nhanh chóng ổn định tổ chức, bộ máy và cán bộ; thực hiện đúng các chế độ chính sách đối với những người tham gia và thụ hưởng BHXH; tổ chức thu BHXH đạt kết quả cao, đầy đủ cho các đối tượng hưởng BHXH và bước đầu đã hạch toán và hình thành được Quỹ BHXH tập trung, độc lập với ngân sách nhà nước, từng bước khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng của Đảng và Nhà nước”.


NĂM MẬU TÝ 2008

- Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thực hiện các chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH, BHYT nói riêng ngày càng trở thành mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày 30/01/2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X xác định: “Xây dựng hệ thống BHXH đa dạng và linh hoạt phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mở rộng các hình thức bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện; bổ sung, sửa đổi các chế độ BHXH còn bất hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH; tách BHXH đối với khu vực hành chính nhà nước ra khỏi khu vực doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các lĩnh vực khác. Ðiều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH
theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với chính sách tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ
ngân sách nhà nước; từng bước cải thiện đời sống của người về hưu theo trình độ phát triển của nền kinh tế”.

- Thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong việc thực hiện chính sách BHYT; tạo cơ sở pháp lý cao nhất trong thực hiện chính sách BHYT, ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 04, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật BHYT (có hiệu lực từ ngày 01/7/2009). Luật gồm 10 Chương, 52 điều, điều chỉnh các mối quan hệ liên quan tới các chủ thể tham gia BHYT, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan quản lý đối với chính sách xã hội quan trọng này. Luật BHYT được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hệ thống pháp luật về BHYT, là cơ sở pháp lý cao nhất để thể chế hoá quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển BHYT toàn dân. Luật BHYT quy định rõ: “BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”.


NĂM CANH TÝ 2020

Dấu ấn 1/4 thế kỷ Ngành BHXH Việt Nam xây dựng và trưởng thành, đóng góp quan trọng vào những thành tựu an sinh xã hội của đất nước.

Nhìn lại những dấu ấn an sinh xã hội của những năm Tý trong lịch sử, chúng ta càng tự hào và tin tưởng: Năm Canh Tý 2020 sẽ là năm đánh dấu những đột phá mới về an sinh xã hội, BHXH, BHYT./.

ThS.Dương Ngọc Ánh

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam