Những thành công cải cách BHXH trong quá trình đổi mới

26/02/2018 12:53:34

Ảnh minh họa

Công cuộc cải cách kinh tế ở nước ta diễn ra từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước đến nay đã hơn 30 năm tạo ra sự thay đổi lớn về kinh tế và xã hội, tạo ra một diện mạo mới mẻ, tươi sáng cho đất nước, hoàn toàn khác biệt với trước đây. Từ nền kinh tế kế hoạch hóa hành chính tập trung, chuyển dần từng bước với lộ trình phù hợp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã phát triển sức sản xuất xã hội, huy động mọi tiềm năng vào phát triển kinh tế hàng hóa, tăng trưởng nền kinh tế quốc dân, tạo nhiều việc làm và không ngừng cải thiện đời sống người dân, người lao động trong cả nước. Đi cùng với sự cải cách về kinh tế là sự cải cách đồng bộ về hệ thống chính sách xã hội, trong đó có chính sách BHXH.
Chính sách và cơ chế quản lý BHXH cải cách từ năm 1995 đến nay, trước hết đã giữ vững và đảm bảo đầy đủ quyền lợi BHXH cho hàng triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ giai đoạn trước chuyển sang, sau đó cùng với sự phát triển về kinh tế là sự mở rộng diện đối tượng tham gia, mở rộng tiếp các chế độ BHXH và không ngừng nâng cao quyền lợi hưởng cho người tham gia BHXH. Có thể tổng kết lại những điểm chính và cũng là những thành công của công cuộc cải cách BHXH năm 1995 như sau:


Thứ nhất, thực hiện đúng nguyên tắc đóng – hưởng của BHXH
Thực hiện đúng nguyên tắc BHXH là có đóng góp BHXH thì mới được hưởng thụ các quyền lợi BHXH, trong đó người sử dụng lao động và người lao động cùng có trách nhiệm đóng góp BHXH bắt buộc. Trước đó những người thuộc biên chế nhà nước, về cơ bản được nhà nước “bao cấp” về BHXH, nhất là ở chế độ hưu trí, tử tuất.
Cần phân biệt rõ chính sách BHXH khác biệt về phương thức hưởng đối với các chính sách khác trong hệ thống an sinh xã hội ở nước ta. Chính sách ưu đãi xã hội hoàn toàn dựa vào các chế độ phúc lợi từ ngân sách Nhà nước. Người nhận được các quyền lợi này do Nhà nước quy định mà không đòi hỏi sự đóng góp hay điều kiện vật chất trước đó phải có mà dựa vào sự cống hiến của họ đối với đất nước. Ở nước ta, chính sách thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng là chính sách ưu đãi xã hội, luôn hết sức được coi trọng, mang ý nghĩa chính trị - xã hội và nhân văn sâu sắc. Chính sách bảo trợ xã hội nhằm trợ giúp cho từng nhóm đối tượng gắn với những điều kiện nhất định hoặc trong những trường hợp cấp bách nhất định những khoản trợ giúp bằng hiện vật hoặc bằng tiền. Việc nhận được quyền lợi trong những trường hợp này cũng không xem xét đến sự đóng góp trước đó mà chỉ cần kiểm tra về những khó khăn và nhu cầu thiết yếu của người gặp rủi ro khi bản thân họ không tự lo được cuộc sống tối thiểu hay sức lực của họ không thể vượt qua những rủi ro đó. Ví dụ như khi gặp phải bão, lũ lụt thì mọi người thuộc khu vực này đều nhận được sự trợ giúp của Nhà nước, của xã hội. Bảo trợ xã hội được coi là ” lưới đỡ cuối cùng” trong hệ thống mạng lưới an sinh xã hội. Hoạt động bảo trợ xã hội trong những năm gần đây đã thực hiện tốt hai chức năng cơ bản: cứu tế và trợ giúp phát triển. Nguồn tài chính của hệ thống này rất đa dạng và phong phú, ngoài nguồn chính từ ngân sách Nhà nước, còn huy động từ sự đóng góp, quyên góp mang tính đoàn kết cộng đồng, nhân ái rất cao của dân tộc ta. Chính sách BHXH bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động. Theo phương thức đó thì phải có đóng góp mới có hưởng và không đóng góp thì không được hưởng. Còn mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được hưởng lại chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc như: nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro (thể hiện ở chính sách BHYT, chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…), nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng có sự can thiệp nhờ cách thức phân phối lại mang tính xã hội (chế độ hưu trí, tử tuất).


Thứ hai, mở rộng diện đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đến mọi người lao động có quan hệ lao động.
Trước đó, chính sách BHXH được coi như một đặc quyền riêng có của những người lao động trong biên chế Nhà nước. Và điều dễ thấy nhất là chỉ những người làm việc trong khu vực nhà nước mới được nghỉ hưu và hưởng lương hưu. Đến nay việc tham gia BHXH không chỉ bó hẹp trong phạm vi người lao động trong khu vực nhà nước mà áp dụng đối với mọi người có quan hệ lao động, làm công ăn lương thuộc tất cả các thành phần kinh tế. Những người lao động không có quan hệ lao động, tự hành nghề được tham gia BHXH tự nguyện với 2 chế độ hưu trí và tử tuất, tự nguyện về mức đóng và tự nguyện về phương thức đóng góp. Chính sách BHXH cải cách đã tạo ra sự công bằng và bình đẳng cho mọi người lao động trước chính sách BHXH. Mọi người lao động đều bình đẳng trong việc tham gia đóng góp và hưởng thụ các quyền lợi của BHXH theo quy định của pháp luật. Khi được tham gia BHXH sẽ tạo ra tâm lý yên tâm cho người lao động và gia đình họ ngay trong giai đoạn trước mắt cũng như sau này về già có lương hưu.
Việc mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH, thêm loại hình BHXH tự nguyện đã tạo điều kiện cho người lao động một mặt có thể tự do di chuyển, lựa chọn nơi làm việc thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, phù hợp với khả năng và nguyện vọng cá nhân, mặt khác vẫn đảm bảo duy trì ổn định các chế độ BHXH cho bản thân họ. Từ đó tạo ra sự công bằng cho mọi người lao động, không bị phân biệt giữa các thành phần kinh tế khác nhau khi lựa chọn nơi làm việc. Đó là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động, phát huy và sử dụng triệt để năng lực lao động của từng người lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.


Thứ ba, Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động. Quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước và hoạt động theo nguyên tắc cân đối thu-chi, được bảo toàn và tăng trưởng.
Ngân sách nhà nước cấp kinh phí để chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH đối với người hưởng chế độ BHXH trước năm 1995; Quỹ BHXH chịu trách nhiệm trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho những người hưởng chế độ từ năm 1995 trở đi. Phương thức tài chính BHXH bằng hình thức lập quỹ có tồn tích và có sự điều chỉnh mức đóng và mức hưởng phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế là phương thức tối ưu trong hoạt động BHXH ở nước ta. Ngay từ khi hình thành Quỹ BHXH năm 1995 đã khắc phục được tình trạng nợ lương hưu nhiều tháng khi đó. Đến nay lương hưu luôn được chi trả đầy đủ, kịp thời, đúng kỳ từ đầu tháng cho người nghỉ hưu; các khoản chi trả các chế độ BHXH khác cũng được chi trả đầy đủ, kịp thời cho người lao động.
Riêng lĩnh vực BHYT được thực hiện từ năm 1992 nhưng lại hình thành Quỹ BHYT độc lập cho từng tỉnh và những năm sau đó xuất hiện tới 18 tỉnh không tự cân đối được Quỹ BHYT trong phạm vi của tỉnh nên sau đó đã được Bộ Y tế tập trung thành hệ thống BHYT Việt Nam và hình thành quỹ BHYT tập trung thống nhất trong cả nước. Nguồn quỹ BHYT tập trung trong cả nước đã đảm bảo khả năng điều tiết trong cả nước, đủ khả năng chi trả cho từng tỉnh và đến cuối năm 2002 đã có kết dư tới 2000 tỷ đồng. Cũng nhờ sự tập trung thống nhất tổ chức thực hiện chính sách BHYT vào BHXH Việt Nam từ năm 2003 mà đến năm 2009 do những điều chỉnh về chính sách dẫn tới nguồn quỹ BHYT bị thiếu hụt tới 5.000 tỷ đồng, phải “tạm mượn” kịp thời từ nguồn quỹ BHXH để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người tham gia BHYT, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các quyền lợi cho người khám chữa bệnh BHYT. Chính nguồn quỹ BHXH, BHYT, BHTN được quản lý tập trung thống nhất và sẽ được hỗ trợ kịp thời lẫn nhau khi cần thiết nhằm giải quyết kịp thời, đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Sự độc lập của các nguồn quỹ với ngân sách nhà nước và sự điều tiết kịp thời của hệ thống ngành BHXH tập trung, thống nhất đã góp phần tạo ra sự ổn định cho xã hội, cho người dân và người lao động tham gia BHXH, BHYT, BHTN và tạo ra sự tin tưởng của Chính phủ.
Nguồn tiền kết dư của quỹ BHXH đã được đầu tư để bảo toàn giá trị và tăng trưởng quỹ. Chính nguồn quỹ BHXH, BHYT, BHTN đã góp phần đầu tư mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh trong phạm vi cả nước tạo thêm nhiều việc làm và giúp cho nhiều người lao động mới có việc làm và tham gia BHXH, BHYT, BHTN.


Thứ tư, thành lập Ngành BHXH Việt Nam theo hệ thống ngành dọc, tập trung, thống nhất trong cả nước, thực hiện nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chính sách BHXH và quản lý quỹ BHXH.
Việc thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động – Thương binh và xã hội và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam lúc bấy giờ theo mô hình tổ chức tập trung, thống nhất theo ngành dọc với 3 cấp: BHXH cấp Trung ương, BHXH cấp tỉnh, thành phố và BHXH cấp quận, huyện đã đáp ứng được yêu cầu khách quan của việc quản lý tập trung thống nhất nguồn quỹ BHXH.
Mô hình tổ chức ngành BHXH theo ngành dọc, tập trung thống nhất từ năm 1995. Sau đó đến năm 2003 sáp nhập hệ thống BHYT Việt Nam vào BHXH Việt Nam và từ năm 2009 thực hiện thêm nhiệm vụ thu – chi BHTN. Từ khi thành lập Ngành BHXH độc lập và sau đó bổ sung thêm các nhiệm vụ về tổ chức thực hiện chính sách BHYT và quản lý quỹ BHYT; tổ chức thu - chi BHTN và quản lý quỹ BHTN cho đến nay đã khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của công tác cải cách bộ máy nhà nước trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN như sau:
- Tách chức chức năng tổ chức thực hiện hệ thống chính sách BHXH, BHYT khỏi chức năng quản lý Nhà nước về BHXH, BHYT. Tổ chức ngành BHXH độc lập thống nhất trong phạm vi cả nước có điều kiện thực hiện chuyên môn hóa sâu trong từng nghiệp vụ quản lý đạt được yêu cầu chuyên nghiệp và hiệu quả của toàn hệ thống. Việc quản lý người lao động được chặt chẽ liên hoàn trong cả nước từ khâu thu đóng góp, cấp phát thẻ BHYT, sổ BHXH, giải quyết các chế độ BHXH ngắn hạn và chế độ hưu trí cho đến khi người lao động mất và chi trả tuất cho các thành viên gia đình họ theo quy định.
- Hệ thống tổ chức quản lý BHXH, BHYT, BHTN tập trung thống nhất trong cả nước đã đảm bảo sự thực hiện đồng bộ và thống nhất quản lý trong phạm vi cả nước về đối tượng tham gia và hưởng thụ các quyền lợi BHXH, BHYT, BHTN; tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý toàn ngành; hình thành và quản lý nguồn dữ liệu về người tham gia BHXH, BHYT, BHTN trong cả nước.
Với các nội dung cải cách đúng đắn cả về hệ thống chính sách pháp luật và hệ thống tổ chức thực hiện, sau hơn 20 năm thực hiện chính sách pháp luật BHXH, BHYT, BHTN đến nay đã mang lại nhiều thành quả rõ rệt đối với hệ thống an sinh xã hội ở nước ta.
Nếu như từ năm 1993 số người tham gia BHYT là 3,8 triệu người, chiếm 5,4% dân số và với số thu BHYT là 100 tỷ đồng thì đến hết năm 2016 số người tham gia BHYT đã lên tới 75,8 triệu người chiếm 81,8 % dân số và số thu lên tới hơn 70,5 nghìn tỷ đồng, giải quyết cho trên 146 triệu lượt người khám, chữa bệnh BHYT.
 Nếu như năm 1995 cả nước có khoảng 2,8 triệu người tham gia BHXH bắt buộc với tổng số thu là 2 569 tỷ đồng thì đến cuối năm 2017 đã có 13,9 triệu người tham gia BHXH; hơn 200 nghìn người tham gia BHXH tự nguyện. Hàng năm, ngành BHXH đã giải quyết cho khoảng 9,1 triệu lượt người hưởng chế độ thai sản ốm đau, dưỡng sức phục hồi sức khỏe.
Chính sách pháp luật BHXH, BHYT, BHTN đã không ngừng được bổ sung, hoàn thiện từ việc mở rộng phạm vi đối tượng tham gia: đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trong các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên đến khi không hạn chế quy mô lao động của doanh nghiệp (từ 2003); từ chỗ người lao động có hợp đồng lao động (HĐLĐ) từ 3 tháng trở lên đến chỗ có HĐLĐ từ 01 tháng trở lên (từ 01/01/2018); mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam (từ 01/01/2018). Mở rộng khung quyền lợi hưởng trong các chế độ ốm đau; thai sản; tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; điều chỉnh mức đóng và khung quyền lợi hưởng của chế độ hưu trí và tử tuất. Chính sách BHXH ban đầu chỉ có hình thức BHXH bắt buộc sau đó đã có hình thức BHXH tự nguyện với hai chế độ hưu trí và tử tuất giành cho những người không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc (từ 2008) và chính sách BHTN (từ 2009). Chính sách BHXH từ khi được ban hành là các Nghị định của Chính phủ thì nay đã là Luật BHXH và Luật đã được chỉnh sửa, bổ sung đến lần thứ hai; phần chính sách BHTN được đưa vào Luật Việc làm (từ 2013) và phần chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp được chuyển sang Luật An toàn vệ sinh lao đông (2015). Hệ thống tài chính BHXH, BHYT độc lập với ngân sách nhà nước và từng bước được ổn định, phát triển vững chắc. Và cùng với sự phát triển chính sách thì cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Ngành BHXH cũng được bổ sung hoàn thiện đến 6 lần nhằm tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được Đảng và nhà nước giao từng thời kỳ.
Chính sách BHXH cải cách đã thực sự là công cụ bảo vệ cho yếu tố lao động của quá trình sản xuất, là sự duy trì ổn định nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội. Mặt khác BHXH, với chức năng điều tiết của mình, nó thực hiện điều tiết theo thời kỳ (theo chiều dọc) và điều tiết theo thời điểm (theo chiều ngang) về thu nhập giữa những người lao động có thu nhập trong cùng nhóm (từ mức lương tối thiểu cho đến thu nhập bằng 20 lần lương cơ sở chung) giúp cho Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết, cân bằng rủi ro xã hội trong nền kinh tế thị trường. Điều này đã thể hiện rõ nét khi kinh tế thế giới đi vào giai đoạn suy thoái, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế ở nước ta thì vai trò điều tiết của xã hội bằng công cụ an sinh xã hội nói chung và công cụ BHXH nói riêng lại càng có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả hơn.
Điểm đặc biệt quan trọng là hệ thống chính sách BHXH ở nước ta đối với quốc tế đã tuân thủ những yêu cầu cơ bản về BHXH mà Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đề ra theo xu thế hội nhập quốc tế về lĩnh vực BHXH. Hệ thống BHXH ở nước ta đã đóng vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội và góp phần quan trọng vào việc điều tiết xã hội, đảm bảo ổn định xã hội và xây dựng nền tảng cho sự công bằng và bình đẳng xã hội cho mọi người lao động, mọi công dân.
Những thành quả của công cuộc cải cách trong lĩnh vực BHXH nêu trên sẽ làm nền tảng vững chắc cho bước cải cách tiếp theo nhằm tiếp tục phát triển hệ thống BHXH bền vững, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế./.

TS. Phạm Đình Thành
Viện khoa học BHXH, BHXH Việt Nam

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam