Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam qua các thời kỳ

14/12/2016 13:48:34
Nói BHTN là một chế độ mới không hẳn đúng song so với các chế độ khác trong hệ thống BHXH thì BHTN còn khá mới mẻ. Luật BHXH 2006 lần đầu tiên đưa vào những quy định chính thức về chế độ BHTN và đến năm 2013, chế định này được quy định đầy đủ và rõ ràng hơn tại Luật Việc làm. Tuy nhiên, ở Việt Nam, trước khi có chế định BHTN, trong từng giai đoạn, Nhà nước đã ban hành những quy định về trợ cấp thôi việc đối với người lao động (NLĐ) bị mất việc làm mà có thể ít người biết tới.

  1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985

 Ngày 10/10/1945, Bộ Lao động đã ban hành Nghị định số 01, trong đó quy định các xưởng kỹ nghệ, các nhà thương mại muốn sa thải công nhân phải báo trước một tháng và ấn định tiền trợ cấp cho người bị sa thải. Ngày 12/3/1947, Chủ tịch nước đã ban hành Sắc lệnh số 29/SL. Tại Điều 80, Điều 84 của Sắc lệnh quy định công nhân khi bị thải hồi sẽ được người sử dụng lao động (NSDLĐ) trả phụ cấp thâm niên, cứ mỗi năm làm việc được thanh toán 50 đồng, trừ trường hợp tự ý xin thôi ra làm một sở khác hay ra kinh doanh để lợi riêng cho mình hoặc bị thải vì đã phạm một trọng tội về hình luật. Ngày 20/05/1950, Chủ tịch nước ban hành Sắc lệnh số 76/SL về việc ban hành quy chế công chức. Theo quy định tại Điều 84, Điều 85, công chức khi thôi việc được hưởng trợ cấp tính theo số năm làm việc, mỗi năm được một tháng lương và phụ cấp gia đình, mức hưởng tối đa là sáu tháng lương. Sau đó, ngày 01/10/1964, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 88/TTg về chế độ trợ cấp thôi việc. So với các văn bản trên, đây là văn bản pháp luật quy định đầy đủ và toàn diện hơn về chế độ trợ cấp đối với NLĐ bị mất việc. Để hướng dẫn chi tiết, ngày 09/11/1964, Bộ Lao động đã ban hành Thông tư số 17-LĐ-TT. Theo đó, chế độ trợ cấp áp dụng chủ yếu cho các trường hợp công nhân, viên chức thôi việc do cơ quan, xí nghiệp kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế hoặc hết việc phải giải thể. Mức trợ cấp căn cứ vào thời gian đã cống hiến. Như vậy, trong giai đoạn này, Nhà nước đó đề ra trách nhiệm phải thanh toán trợ cấp đối với NSDLĐ trong trường hợp NLĐ bị mất việc làm giúp họ giải quyết một phần khó khăn khi thôi việc, tạo điều kiện để họ nhanh chúng ổn định cuộc sống, tiếp cận việc làm mới. Những quy định trong giai đoạn này là cơ sở để Nhà nước ban hành chế độ BHTN sau này.

  2. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994

Đây là giai đoạn tổ chức lại nền kinh tế. Từ khi Nhà nước thừa nhận nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, thị trường lao động đã có nhiều biến động. Các doanh nghiệp Nhà nước cơ cấu lại khiến cho số lượng lớn NLĐ bị mất việc làm hoặc chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Do vậy, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách bảo đảm quyền lợi cho người mất việc.

Thực hiện Nghị quyết số 34 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V) và Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ngày 29/12/1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 227/HĐBT về việc sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế các cơ quan hành chính sự nghiệp. Theo đó, những cán bộ, công nhân, viên chức tự nguyện xin thôi việc để về sản xuất ở gia đình hoặc tự kiếm việc làm thì được Ngân sách nhà nước trợ cấp một lần theo nguyên tắc cứ mỗi năm công tác trong cơ quan Nhà nước bằng một tháng lương và các khoản phụ cấp, trợ cấp (nếu có). Sau đó, ngày 09/10/1989, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 176/HĐBT về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh. Theo Mục 03 Quyết định này, đối với số lao động ra làm việc ở khu vực ngoài kinh tế quốc doanh được thực hiện chế độ trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm công tác liên tục được trợ cấp 01 tháng lương cơ bản cộng phụ cấp (nếu có), tối thiểu là 3 tháng do đơn vị trả. Nhà nước trợ giúp một phần đối với đơn vị có nhiều khó khăn nhưng tối đa không quá ½ số trợ cấp, phần trợ giúp này căn cứ vào từng trường hợp cụ thể. Trợ cấp được chi trả trực tiếp một lần cho NLĐ. Ngày 01/9/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 315/HĐBT về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất và kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh. Theo Điều 15, NLĐ trong khu vực này bị mất việc làm do xí nghiệp giải thể nếu cần tìm việc mới thì đăng ký tại cơ quan quản lý lao động địa phương, hay tổ chức dịch vụ lao động. Họ có thể được ưu tiên bố trí việc làm trong các xí nghiệp quốc doanh khác; được ưu tiên đào tạo hay đào tạo lại nghề nghiệp. Sau khi trừ các khoản chi phí tiền lương, tiền BHXH; các khoản nợ của chủ nợ mà phần tài sản của xí nghiệp vẫn còn sẽ được sử dụng để giải quyết quyền lợi cho NLĐ theo Quyết định 176/HĐBT. Nếu phần giá trị còn lại này không đủ để giải quyết quyền lợi cho NLĐ, ngân sách tỉnh, thành phố sẽ dành một khoản chi phí hợp lý để hỗ trợ căn cứ vào từng điều kiện cụ thể (Điều 14). Tiếp đó, ngày 11/04/1992 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết 120/HĐBT về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tiếp theo. Trong đó đề ra những biện pháp cụ thể nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi và cơ hội có việc làm nhiều hơn cho NTN hoặc người đã đến tuổi lao động nhưng chưa tìm được việc làm. Đây là Nghị quyết đánh dấu sự thay đổi căn bản trong lĩnh vực lao động việc làm. Từ đây, Quỹ quốc gia về giải quyết việc làm cùng với hệ thống trung tâm xúc tiến việc làm đã được thành lập. Ngày 12/05/1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 165/HĐBT quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng lao động. Theo đó, tùy từng trường hợp cụ thể, NLĐ có thời gian làm việc từ một năm trở lên mà thôi việc sẽ được thanh toán trợ cấp thôi việc. Khoản trợ cấp này do NSDLĐ chi trả lấy từ quỹ dự phòng của đơn vị (Điều 19). Những quy định trong giai đoạn này phần nào đã trợ giúp những khó khăn cho NLĐ khi mất việc làm, thậm chí còn có những ưu tiên trong bố trí việc làm hay đào tạo, đào tạo lại nghề nghiệp cho người mất việc. Điều này không chỉ hỗ trợ những thiếu hụt tài chính mà còn giải tỏa tâm lý cho họ, là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng chế độ BHTN.

  3. Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2006

 Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội việc làm là vấn đề luôn được Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, việc chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường có ảnh hưởng không nhỏ tới cung và cầu lao động. Nền kinh tế mới, năng động đòi hỏi cao về kỹ thuật, trình độ tay nghề, năng lực tổ chức quản lý... trong khi số lượng lao động trong nước tuy đông nhưng lại chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi đó. Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thất nghiệp. Vì thế, để bảo vệ quyền lợi của NLĐ, Nhà nước đó ban hành một số chế độ hỗ trợ NLĐ bị mất việc làm như sau:

Một là, Chế độ trợ cấp mất việc làm. Theo khoản 1 Điều 17 Bộ luật Lao động (có hiệu lực (01/01/1995), đối tượng nhận trợ cấp mất việc là NLĐ đang làm việc thường xuyên nhưng phải nghỉ việc do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ. Mức trợ cấp được tính mỗi năm bằng 01 tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng 02 tháng lương, khoản trợ cấp này được chi trả từ quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước khi hưởng trợ cấp, NLĐ được đào tạo lại để sử dụng vào nơi làm việc mới, nếu không giải quyết được mới cho hưởng chế độ thôi việc. Sau đó, ngày 02/4/2002, Quốc hội ban hành Luật số 35/2002/QH10 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động. Theo đó, tại Điều 31 sửa đổi quy định đối tượng nhận trợ cấp mất việc làm bao gồm cả những lao động mà doanh nghiệp không sử dụng hết trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chế độ hưởng của những người này được thực hiện theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 1995. Để cụ thể hóa chế độ trợ cấp mất việc làm, ngày 18/4/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 39/2003/NĐ-CP. Theo Khoản 4 Điều 12, trợ cấp mất việc làm được trả trực tiếp một lần cho NLĐ tại nơi làm việc hoặc nơi thuận lợi nhất cho NLĐ trong thời gian không quá 07 ngày, kể từ ngày NLĐ bị mất việc.

Hai là, Chế độ trợ cấp thôi việc: Kể từ khi Bộ luật Lao động năm 1995 ra đời, tại khoản 1 Điều 42 đã quy định đối tượng hưởng trợ cấp thôi việc là NLĐ làm việc thường xuyên từ một năm trở lên chấm dứt hợp đồng lao động (trừ trường hợp NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô...); NLĐ tự ý bỏ việc... theo Điểm a, b Khoản 1 Điều 85; NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bất hợp pháp; NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí); Khoản trợ cấp do NSDLĐ chi trả, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp (nếu có). Đối với cán bộ, công chức khi thôi việc, Chính phủ có quy định riêng, đó là Nghị định số 96/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998. Theo Điều 3, cán bộ, công chức thôi việc do sắp xếp, tinh giản biên chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được hưởng 03 tháng tiền lương để tìm việc, nếu không tìm được việc sẽ được trợ cấp mỗi năm làm việc bằng 01 tháng lương, thấp nhất cũng bằng 02 tháng lương. Sau đó, ngày 19/04/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2005/NĐ-CP. Theo Điều 8, công chức, viên chức có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản thì được trợ cấp, cứ mỗi năm hưởng ½ tháng, thấp nhất cũng được một tháng lương.

Ba là, Chế độ đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước: Để sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ thua lỗ kéo dài hoặc không cần duy trì sở hữu nhà nước, nhà nước đã có chủ trương giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, cổ phần hóa doanh nghiệp. Điều đó dẫn đến hiện tượng một số lao động không được sử dụng. Vì thế, đòi hỏi Nhà nước cần có giải pháp kịp thời để bảo vệ quyền lợi của những NLĐ này. Ngày 10/9/1999, Chính phủ đó ban hành Nghị định 103/1999/NĐ-CP. Theo đó, tại Điều 14 quy định bên nhận giao doanh nghiệp có trách nhiệm sử dụng hết số lao động hiện có, bảo đảm việc làm tối thiểu cho họ là 03 năm, trừ trường hợp những người tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động. Sau thời hạn đó, nếu do nhu cầu tổ chức lại hoạt động kinh doanh, thay đổi công nghệ dẫn đến NLĐ mất việc thì họ sẽ hưởng chế độ mất việc làm theo quy định hiện hành. Sau khi có quyết định bán doanh nghiệp, nếu NLĐ thôi việc hoặc mất việc thì doanh nghiệp mới trả trợ cấp thôi việc, mất việc cho thời gian làm việc tại doanh nghiệp mới. Ngày 11/04/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2002/NĐ-CP về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước. Theo đó Quỹ hỗ trợ dôi dư chịu trách nhiệm cấp kinh phí cho các doanh nghiệp để giải quyết lao động dôi dư. Nguồn kinh phí giải quyết do Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước chi trả (Điều 7). Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn này những lao động làm việc trong khối nhà nước nếu bị mất việc làm sẽ được xem xét, hỗ trợ có nhiều ưu đãi hơn so với NLĐ bị mất việc trước đây. Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của người mất việc với mong muốn bù đắp những tổn thất về tài chính cho lao động dôi dư khi mất việc, đồng thời tạo điều kiện cho họ tìm việc mới thông qua chính sách hỗ trợ đào tạo, giới thiệu việc làm, giúp họ yên tâm, ổn định cuộc sống.

  4. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay

Để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ mất việc, Nhà nước đó có nhiều chính sách song chưa đầy đủ, vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Việc thanh toán chế độ cho NLĐ nghỉ việc lại quy hết vào trách nhiệm của NSDLĐ. Do đó, muốn san sẻ bớt gánh nặng chi trả chế độ, hỗ trợ doanh nghiệp, đòi hỏi Nhà nước cần phải có những biện pháp, giải pháp hữu hiệu, mang tính toàn diện. Nhằm khắc phục điều đó, ngày 29/6/2006, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật BHXH. Đây là văn bản pháp lý cao nhất, toàn diện nhất từ trước đến nay được áp dụng cho các đối tượng tham gia bảo hiểm trong đó có chế độ bảo hiểm dành cho NLĐ bị mất việc. Theo nội dung văn bản này, người mất việc làm sẽ hưởng BHTN nếu đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời hạn 24 tháng trước khi thất nghiệp; đã đăng ký thất nghiệp và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký (Điều 81). Mức trợ cấp thất nghiệp được chi trả bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Ngoài ra, người đang hưởng trợ cấp sẽ được hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí, được hưởng chế độ BHYT. Nguồn chi trả chế độ sẽ do Quỹ BHTN thanh toán. Quỹ này được hình thành do sự đóng góp của ba bên: NSDLĐ, NLĐ và Nhà nước. Như vậy, cùng với sự ra đời của Luật BHXH đã phần nào giúp NSDLĐ san sẻ gánh nặng tài chính mỗi khi doanh nghiệp có người thôi việc. Những quy định đặt ra vừa đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, vừa ràng buộc trách nhiệm của NSDLĐ, của Nhà nước khi gặp trường hợp thất nghiệp. Chính sách này không chỉ giải quyết tình trạng thất nghiệp mà còn góp phần giữ gìn ổn định trật tự xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế đất nước. Với mong muốn sắp xếp, kiện toàn lại cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp, bố trí lại lao động trong doanh nghiệp, nhằm đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới, ngày 08/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 32/2007/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế. Theo đó, những người thôi việc ngay được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm, 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH. Những người thôi việc sau khi đi học sẽ hưởng nguyên lương đang hưởng, được trợ cấp kinh phí học nghề tối đa 06 tháng, học nghề xong được trợ cấp ba tháng lương để tìm việc làm, cứ mỗi năm công tác được trợ cấp ½ tháng lương. Tiếp sau đó, ngày 27/04/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2010/NĐ-CP. Theo Nghị định, công chức có nguyện vọng nghỉ việc được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý hoặc do không hoàn thành nhiệm vụ trong hai năm liên tiếp sẽ được cho thôi việc và hưởng trợ cấp mỗi năm bằng ½ tháng lương đang hưởng, thấp nhất bằng một tháng lương.

 Ngày 16/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Theo đó, chế định về BHTN được quy định tại Chương VI. So với các quy định trước đây về BHTN, nội dung của Luật cho phép mở rộng đối tượng bắt buộc tham gia BHTN, bỏ quy định về đăng ký thất nghiệp, bổ sung chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, bổ sung điều kiện hưởng TCTN, thay đổi cách tính thời gian hưởng TCTN, giới hạn mức hưởng TCTN hằng tháng, bỏ trợ cấp một lần và bảo lưu thời gian đó đóng BHTN, mở rộng điều kiện NLĐ được hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN và quy định cụ thể đơn vị tiếp nhận hồ sơ. Gần đây nhất, ngày 20/11/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế. Theo Điều 10, những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế có tuổi đời dưới 53 hoặc 58 đối với nam và dưới 48 hoặc dưới 53 với nữ nhưng không đủ điều kiện về hưu trước tuổi mà thôi việc ngay sẽ được trợ cấp ba tháng lương để tìm việc, 1,5 tháng lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH.

 Thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên cho thấy, chính sách thôi việc và chính sách BHTN luôn tồn tại song hành, bổ khuyết cho nhau với mục tiêu chung là giải quyết tình trạng mất việc của NLĐ. Việc ban hành các chính sách không chỉ là vấn đề giải quyết tình thế mà còn đáp ứng yêu cầu cấp thiết của xã hội trong từng thời kỳ./

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam