Sự dịch chuyển lao động nữ Việt Nam trong AEC - Vấn đề đặt ra

27/03/2018 10:13:21
Một trong các vấn đề được quan tâm nhất hiện nay của cộng đồng kinh tế ASEAN-AEC đó là việc “thành lập một thị trường thống nhất và cơ sở sản xuất chung”. Trong cơ chế chung này, một thị trường lao động thống nhất sẽ tạo cơ hội cho lao động trong khu vực ASEAN tìm kiếm các công việc phù hợp, có khả năng phát triển các cơ hội nghề nghiệp, đem lại nguồn thu nhập xứng đáng cho bản thân và gia đình cùng nhiều quyền lợi khác.

Ảnh minh họa

Cơ hội cho lao động nữ
Đối với lao động Việt Nam, trong đó có lao động nữ, khi tham gia AEC, lợi ích đem lại từ hai giác độ từ thị trường lao động trong nước và thị trường lao động các nước trong AEC.
Đối với thị trường lao động trong nước, hội nhập AEC sẽ tạo cơ hội gia tăng việc làm và nâng cao chất lượng việc làm. Hội nhập sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, mở rộng các kênh dịch chuyển lao động; đồng thời mở ra các cơ hội phát triển nghề nghiệp, kèm theo là việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động trong các doanh nghiệp trong nước, quyền cơ bản của người lao động được tuân thủ, bảo đảm phúc lợi sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng việc làm của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước. Mặt khác, các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ các nước tiên tiến trong khu vực sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu từ những ngành kinh tế năng suất thấp sang những ngành có năng suất lao động cao hơn và tham gia vào chuỗi giá trị chung nhiều hơn. Điều này vừa tạo ra áp lực vừa làm tăng cơ hội cho lao động nữ nâng cao trình độ nghề nghiệp, dịch chuyển nghề nghiệp từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất lao động cao hơn và việc làm bảo đảm hơn.
Đối với thị trường lao động khu vực, hội nhập AEC tạo cơ hội thuận lợi cho lao động Việt nam, trong đó có lao động nữ được dịch chuyển, có việc làm và thu nhập tốt hơn; đồng thời có cơ hội tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm trong thời gian làm việc từ các nước tiên tiến trong khu vực; tham gia vào chuỗi giá trị chung toàn cầu. Đây là cơ hội rất tốt để lao động nữ Việt Nam “rút ngắn khoảng cách” phát triển kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng khởi nghiệp so với các nước đi trước.
Trước mắt, theo thỏa thuận, AEC sẽ cho phép sự dịch chuyển lao động qua lại giữa các nước với 8 nhóm lĩnh vực nghề nghiệp gồm bác sĩ; nha sĩ; hộ lý; kỹ sư; kiến trúc sư; kiểm toán viên; điều tra, khảo sát viên và nhân viên du lịch. Để tạo điều kiện cho lao động lành nghề di chuyển trong khu vực, các nước ASEAN đã ký kết các Thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs - Mutual Recognition Agreement), theo đó cho phép chứng chỉ của lao động có kỹ năng được cấp bởi các cơ quan chức năng tương ứng tại một quốc gia sẽ được thừa nhận bởi các nước thành viên khác trong khu vực. Những ngành nghề nêu trên cũng là những ngành nghề có nhiều lao động nữ làm việc và cũng là lợi thế của lao động nữ Việt Nam.
Những lợi ích của dịch chuyển đối với lao động xuất phát từ:
-Thứ nhất, các điều kiện khách quan phát sinh từ quá trình phát triển, xuất phát từ việc tăng trưởng kinh tế không đồng đều cả trên bình diện quốc gia và quốc tế, gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Quá trình này đã làm cho lực lượng lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp và dòng di cư từ nông thôn ra đô thị được đồng bộ hóa. Các điều kiện chủ quan của sự phát triển tạo ra “dòng chảy” của dịch chuyển lao động, tạo ra tính năng động của người lao động. Người lao động nữ không phải ai cũng cam chịu, nhiều người muốn có được thu nhập và cuộc sống tốt hơn, do vậy họ tham gia một cách tự nguyện vào dòng dịch chuyển ra khu vực đô thị hoặc sang quốc gia phát triển hơn để làm việc. AEC là cơ chế tạo cơ hội tốt cho lao động tham gia vào các dòng dịch chuyển này.
- Thứ hai, dòng dịch chuyển được thực hiện thông qua cơ chế thị trường. Đó là quy luật cung- cầu của cơ chế thị trường, tạo ra các “dòng chảy” và các phân lớp thị trường lao động khác nhau. Điều này tạo điều kiện và cơ hội cho lao động nữ ở các nhóm khác nhau có thể tham gia vào các “dòng chảy” khác nhau và các phân lớp thị trường lao động khác nhau (lao động quản lý, lao động bậc trung, lao động kỹ thuật…). Tuy nhiên, mức độ phát triển kinh tế-xã hội, mức độ cải thiện của nền kinh tế thị trường, chất lượng của lực lượng lao động và “độ mở cửa” của mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, tạo ra sự dịch chuyển và khả năng dịch chuyển khác nhau. Vì vậy, sự dịch chuyển lao động luôn là quá trình, vấn đề là phải tận dụng được các cơ hội này mà cơ chế thị trường và hội nhập đã tạo ra.
- Thứ ba, hướng dịch chuyển lao động rất đa dạng và phong phú. Do trình độ phát triển kinh tế không đồng đều, giữa các vùng, các quốc gia, dẫn tới nhu cầu về cơ cấu nhân lực đa dạng. Cũng chính vì vậy, xuất hiện các dòng dịch chuyển khác nhau giữa các nhóm lao động; dịch chuyển lao động không có kỹ năng; dịch chuyển lao động có kỹ năng trung bình và dịch chuyển lao động kỹ năng cao. Trong nhóm lao động có kỹ năng, sự dịch chuyển cũng rất khác nhau trong nội nhóm và giữa các nhóm khác nhau. Ví dụ, trong nhóm lao động có kỹ năng, tùy thuộc vào nhóm nước, có nước có nhu cầu lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ; có nước lại có nhu cầu nhiều về lao động trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp…Với sự đa dạng của nhu cầu sản xuất và thị trường tạo cơ hội cho lao động nữ lựa chọn sự tham gia của mình vào thị trường lao động AEC một cách phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp và năng lực của mình.

Vấn đề đặt ra
Thứ nhất, về cơ chế, thể chế chính sách. Một trong những nguyên tắc của ASEAN là tính đồng thuận về tất cả các vấn đề. Có nghĩa là bất kỳ một vấn đề nào muốn được thực thi ở các nước thì phải được sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên mới có hiệu lực. Ngược lại, phải đàm phán song phương hoặc nhóm nước và phải được sự đồng thuận của các bên đàm phán. Liên quan đến dịch chuyển lao động (lao động di cư), các nước ASEAN đã hình thành Ủy ban về người lao động di cư (ACMW). Ủy ban này có trách nhiệm tập trung vào việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người lao động di cư thông qua Nhóm soạn thảo Đồng thuận ASEAN về lao động di cư và Diễn đàn lao động di cư ( Hà Thị Minh Đức, 2017). Các ưu tiên của ACMW trong giai đoạn 2016-2020 tập trung vào một số vấn đề là (i) Cơ chế quản trị lao động di cư; (ii) Tính di động của ASXH cho người lao động di cư; (iii) Bảo vệ và thúc đẩy quyền của người lao động di cư và (iv) Vấn đề di cư bất hợp pháp từ khía cạnh buôn bán người. Đây là những vấn đề quan trọng mà Việt Nam cũng cần quan tâm đối với việc dịch chuyển của lao động nữ.
Ý nghĩa của bản đồng thuận đối với lao động nữ Việt Nam về vấn đề lao động di cư:
Bản Đồng thuận đề cập đến các vấn đề cơ bản của lao động di cư. Điều này giúp lao động nữ Việt Nam đi làm việc ở thị trường lao động AEC hiểu rõ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước, trong và sau khi làm việc ở nước ngoài.
Đồng thuận đề cập tới trách nhiệm cụ thể của nước phái cử lao động cũng như nước tiếp nhận lao động trong AEC. Đây là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý lao động của Việt Nam tham khảo trong quá trình rà soát, sửa đổi pháp luật, chính sách liên quan đến đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nói chung và AEC nói riêng, cũng như quản lý người nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam.
Là căn cứ quan trọng để Việt Nam và các nước đối tác tăng cường hợp tác trong việc bảo vệ quyền của người lao động nữ Việt Nam đi làm việc trong AEC, nhất là bảo vệ thân thể và thu nhập.
Thứ hai về các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau (MRAs). Theo các Thỏa thuận này, các quốc gia thành viên ASEAN sẽ cho phép công nhận kỹ năng, kinh nghiệm và chứng nhận của người lao động trong toàn ASEAN, cho phép họ làm việc ở nước ngoài. Ngoài các MRAs, Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân (MNP) và Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) đã khiến cho các thủ tục thị thực của doanh nghiệp trong ASEAN trở nên đơn giản hơn. Những người tham gia vào hoạt động buôn bán hàng hoá và dịch vụ, nhà đầu tư, khách doanh nhân, nhà cung cấp dịch vụ hợp đồng và người nhận chuyển đổi trong công ty được hưởng quyền tiếp cận tạm trú qua biên giới. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, mới có 2 MRAs được thực thi đầy đủ. Xét theo góc độ bình đẳng giới, Thỏa thuận MRAs về trình độ của lao động có kỹ năng, tạo ra thách thức không nhỏ đối với lao động nữ, khi tỷ lệ nữ đã qua đào tạo của hầu hết các nước ASEAN đang thấp hơn so với nam; mặt khác, trong số 8 nhóm ngành nghề được di chuyển thì có tới 5/8 ngành nghề đang sử dụng nhiều lao động nam hơn lao động nữ nhưng khả năng tham gia của lao động nữ lại thấp hơn. Hơn nữa về mặt khách quan, do hệ thống giáo dục- đào tạo của các nước trong AEC khá khác nhau, nên để được công nhận lẫn nhau, cần phải có thời gian, nhất là đối với các nước kém phát triển hơn. Cho đến nay mới có trên 100 kỹ sư và 10 kiến trúc sư của Việt Nam được công nhận kỹ năng ở các nước trong AEC.
Thứ ba, cầu của thị trường lao động AEC. Thực tế hiện nay cho thấy, lao động dịch chuyển trong nội khối AEC đối với 8 nhóm ngành nghề nêu trên còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn (khoảng 1% trong tổng số lao động di cư), nên trước mắt nhu cầu (về số lượng) ở các nước về 8 nhóm ngành nghề này chưa cao. Nói cách khác, cung về lao động lớn hơn cầu đối với 8 nhóm ngành nghề này trong ngắn hạn. Vì vậy, tính cạnh tranh về 8 nhóm ngành nghề này rất cao và dù có được “tự do dịch chuyển” lao động nữ Việt Nam chưa có nhiều lợi thế trong sự cạnh tranh này.
Thứ tư, một số hạn chế của chính lao động nữ Việt Nam. Cộng đồng kinh tế ASEAN đề cao việc tự do dịch chuyển của người lao động có tay nghề. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quyền tự do dịch chuyển của lao động nữ Việt Nam sẽ khó được thực thi một cách hiệu quả và những người có khả năng “tự do dịch chuyển” thời gian tới cũng rất ít. Bởi vì, từ những quy định về khung trình độ tối thiểu để tự do dịch chuyển, đối chiếu với khả năng lao động Việt Nam hiện nay, có thể thấy khả năng cạnh tranh của lao động nữ Việt Nam khi tham gia vào thị trường lao động ASEAN khá khó khăn. Đối với 8 nhóm ngành nghề có khả năng dịch chuyển, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ còn khá hạn chế. Chẳng hạn ở nhóm nghề “Dịch vụ điều dưỡng”, trong số lao động nữ Việt Nam có đến 57,4% số lao động “không có trình độ chuyên môn kỹ thuật hoặc chuyên môn kỹ thuật không bằng”, trong khi đó trình độ đại học trở lên chỉ có 2.5%, trình độ trung cấp là 13.3%. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ chuyên môn, công nhân kỹ thuật bậc cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước khác. Mới đây nhất, trong báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) 2018, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đứng 70/100 nước, lao động chất lượng cao xếp 81/100 nước. Việt Nam chưa có tiềm năng cao để săn sàng cho cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), chỉ đứng trên Campuchia trong các nước ASEAN. Không chỉ gặp khó khăn về kỹ năng nghề nghiệp, lao động nữ Việt Nam còn thiếu hụt về kỹ năng mềm, kỹ năng hợp tác, làm việc theo tổ nhóm, đặc biệt là về ngoại ngữ. Sự linh hoạt, kỹ năng ứng xử và làm việc nhóm là yếu tố cần để có thể tham gia vào một thị trường lao động năng động như ASEAN, nhưng đây lại là trở ngại đối với lao động nữ nói riêng và lao động Việt Nam nói chung.
- Thứ năm, về mặt tổ chức. Công tác chuẩn bị lực lượng của Việt Nam đối với sự dịch chuyển trong 8 nhóm ngành nghề còn chưa chủ động (cả về tổ chức và chuẩn bị nhân lực) sẽ ảnh hưởng tới khả năng dịch chuyển của lao động nữ. Các doanh nghiệp Việt Nam dường như chưa có sự sẵn sàng cho sự dịch chuyển này. Giữa các Bộ ngành và các cơ quan liên quan của Việt Nam còn thiếu sự phối hợp, từ khâu tổ chức lực lượng, đến việc tham gia đàm phán, ký kết, nên ảnh hưởng nhất định đến khả năng dịch chuyển của lao động nữ nói riêng và lao động Việt Nam nói chung trong thị trường lao động AEC. Yêu cầu của thị trường lao động trong nước và khu vực đòi hỏi người lao động phải đạt được chuẩn nghề nghiệp, nhưng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đang xây dựng và mới chỉ bước đầu hướng tới chuẩn khu vực và thế giới. Điều này ảnh hưởng nhất định đến khả năng dịch chuyển của lao động nữ, khi chưa có sự tương thích về tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.
Như vậy, để lao động nữ Việt Nam có khả năng dịch chuyền được trong thị trường lao động AEC thì bên cạnh sự năng động, chủ động hơn của chính lao động nữ chuẩn bị về kỹ năng nghề nghiệp, về các kỹ năng mềm và tâm lý sẵn sàng tham gia dịch chuyển, cần có sự đổi mới cả về thể chế, chính sách và sự đồng bộ trong việc tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành./.

Tài liệu tham khảo
- A.c. Orbeta (2013); Đẩy mạnh sự dịch chuyển lao động trong ASEAN: Tập trung vào lao động có tay nghề thấp hơn, Viện nghiên cứu Phát triển Philippine, tài liệu thảo luận 2013-2017, Viện Nghiên cứu Phát triển Philippine
- ILO, (2014): The road to the ASEAN employers on skills and competitiveness: The challenges and opportunities for enterprises and their representative organizations - Đường đến Cộng đồng Kinh tế ASEAN 2015: Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp và các tổ chức đại diện của họ
- Ngô Thị Hà (CEPEW), “Quyền kinh tế của phụ nữ trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)”(2016)
- PGS.TS Mạc Văn Tiến (2014). “Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” , Tạp chí Cộng sản.
- Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) 2018, Thụy Sĩ.

 

PGS TS. Mạc Văn Tiến
Ths. Nguyễn Thị Bích Thúy

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam