Sự ra đời và phát triển Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

26/05/2015 13:42:24
Kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập BHXH Việt Nam (16/02/1995 - 16/02/2015), được sự chỉ đạo của TS.Nguyễn Thị Minh, Thứ trưởng Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, dưới sự chủ biên của TS.Dương Văn Thắng, Tổng Biên tập cùng sự tham gia biên soạn của tập thể cán bộ, biên tập viên, phóng viên Tạp chí BHXH cuốn sách "Đổi mới và Phát triển BHXH ở Việt Nam" đã được xuất bản theo Giấy phép số 2417-2014/CXB/17-209/VHTT và Quyết định xuất bản số 1623/VHTT-KH, ngày 26/11/2014 của Nhà Xuất bản Văn hóa - Thông tin. Ban Biên tập Tạp chí BHXH trân trọng giới thiệu và đề nghị bạn đọc trích dẫn đầy đủ nguồn khi sử dụng tư liệu trong cuốn sách. Bạn đọc có nhu cầu tham khảo, trích dẫn theo nguyên bản cuốn sách liên hệ trực tiếp với Tòa soạn. Trân trọng cám ơn!

TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG SỰ NGHIỆP
ĐẤU TRANH
CÁCH MẠNG, KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC

1. Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam những năm trước Cách mạng Tháng Tám

Ở Việt Nam, từ rất lâu đã xuất hiện các quỹ tương thân, tương ái, gắn liền với cộng đồng làng xã, nhằm cưu mang, giúp đỡ những người gặp phải rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống. Hình thức hoạt động chủ yếu là lập các quỹ quản phụ điền, quỹ cô nhi điền… để giúp bà góa, con côi. Một số địa phương lập ra quỹ nghĩa điền, quỹ nghĩa thương… do những người hảo tâm đóng góp để dùng vào việc trợ giúp người khó khăn. Những loại quỹ này được người dân tự giác tham gia đóng góp và có sự giám sát của làng xã nên được sử dụng rất đúng mục đích.

Ngoài ra, ở các làng nghề có sự hình thành các phường hội nghề nghiệp để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau không chỉ trong nghề nghiệp mà cả trong cuộc sống, nếu không may gặp rủi ro. Nhà nước phong kiến không những khuyến khích phát triển, mà còn dựa trên hoạt động này để đề ra những sắc luật phù hợp, áp dụng trong toàn quốc, như lập các quỹ dự phòng thông qua thuế để tổ chức khám, chữa bệnh cho dân khi có bệnh dịch, đói kém, mất mùa…

Trong thời kỳ Pháp thuộc, những người làm việc trong bộ máy cai trị của Pháp cũng được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) như hưu bổng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Dưới sự đấu tranh của giai cấp công nhân, đặc biệt là từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương, người lao động trong các hầm mỏ, nhà máy của Pháp cũng được hưởng một số chế độ BHXH, mặc dù còn hết sức hạn chế.

Ra đi từ bến cảng Nhà Rồng với mong muốn “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, đem lại cơm no, áo ấm cho đồng bào, người thanh niên Nguyễn Tất Thành - sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và thấu hiểu giá trị của xã hội tiến bộ, công bằng, văn minh, an sinh, hạnh phúc. Chính vì vậy, ngay từ năm 1941, trong Chương trình của Việt Minh do Người soạn thảo, các mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội cho đồng bào đã được Người khởi xướng. Đây cũng là những tiền đề hết sức căn bản để xây dựng hệ thống chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) ở nước ta sau này.

Vấn đề BHXH đã được Đảng ta quan tâm từ rất sớm. Ngay từ khi thành lập năm 1929, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam - đã nêu: “Tổ chức tất cả vô sản giai cấp vào công hội, thực hành bảo hiểm cho thợ thuyền, giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp…”. Sau đó, tại Hội nghị Trung ương tháng 11/1940, Đảng đã ra Nghị quyết “sẽ đặt ra Luật BHXH” khi thiết lập được chính quyền cách mạng và tạo lập quỹ hưu bổng cho người già. Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó (Cao Bằng) xây dựng các đoàn thể cứu quốc để tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh. Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng của Đảng Cộng sản Đông Dương họp vào cuối tháng 04/1941, dưới sự chủ tọa của các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Vũ Anh đã khẳng định công tác xây dựng các đoàn thể cứu quốc đạt kết quả tốt, chứng tỏ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc là hoàn toàn đúng đắn. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, họp từ ngày 10 – 19/05/1941 trong rừng Khuổi Nậm (thuộc Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Các tổ chức quần chúng trong Việt Minh đều lấy tên là “hội cứu quốc” như Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Quân nhân cứu quốc… Mặt trận Việt Minh tuyên bố chủ trương gồm 02 điều: “Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập/Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”. Chương trình Việt Minh được Nguyễn Ái Quốc soạn thành 01 bài thơ dài theo thể song thất lục bát, gồm 212 câu, được Bộ Tuyên truyền Việt Minh xuất bản, trong đó có đoạn:

“… Công nhân làm lụng gian nan

Tiền lương phải đủ, mỗi ban tám giờ

Gặp khi tai nạn bất ngờ

Thuốc thang Chính phủ bấy giờ giúp cho…

…Nào là những kẻ chức viên

Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng…

…Người tàn tật, kẻ lão niên

Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho…”.

Tại Tuyên ngôn, Chương trình Việt Minh ngày 25/10/1941 tiếp tục khẳng định: “Chính phủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do quốc dân đại hội cử lên, sẽ thi hành những chính sách dưới đây:

… c) Về mặt xã hội: 1. Thi hành luật ngày làm 08 giờ và các luật xã hội khác… thợ thuyền được tự do hưởng Luật lao động… thợ thuyền già có lương hưu trí”.

Có thể thấy ngay từ buổi đầu cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định, bản Chương trình Việt Minh cốt thực hiện 02 điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: “Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”. Và nội hàm của khái niệm “sung sướng, tự do” chính là được hưởng các chế độ đãi ngộ, phúc lợi xã hội, bảo đảm an sinh xã hội.

Tháng Tám năm 1945, trước diễn biến hết sức sôi động của tình hình chính trị thế giới, việc quân Đồng minh thắng phát xít Đức, Nhật đầu hàng Hồng quân Liên Xô, đã tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, phát triển chế độ tân dân chủ ra khắp thế giới và là điều kiện để cách mạng XHCN nhanh chóng thành công. Tại Nghị quyết của Toàn quốc Hội nghị Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra trong 02 ngày 14 - 15/08/1945 đã xác định, đây là cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập. Trong tình thế vô cùng khẩn cấp, xác định: “Tập trung - tập trung lực lượng vào những việc chính. Thống nhất - thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động và chỉ huy. Kịp thời - kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội”, mục đích là giành quyền độc lập hoàn toàn. Bên cạnh đó, Nghị quyết của Toàn quốc Hội nghị tiếp tục nhấn mạnh, giành độc lập phải song hành với việc thi hành 10 chính sách Việt Minh. Và cũng tại Nghị quyết của Toàn quốc Hội nghị này, khái niệm BHXH lần đầu tiên được đưa ra: “Thi hành luật ngày làm 08 giờ; đặt Luật BHXH; cứu tế nạn dân”.

Kỳ họp Quốc dân Đại hội diễn ra ngày 16 - 17/08/1945, Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh tiếp tục đưa ra lời kêu gọi: Quốc dân Đại hội thiết tha hiệu triệu nhân dân toàn quốc, các đoàn thể cách mạng kịp thời đứng lên đoàn kết phấn đấu, để thi hành 10 điều, trong đó tại Điều 7 có viết:

“Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm”.

Đây chính là một trong những chủ trương thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc của Đảng ta đối với việc phát triển hệ thống chính sách xã hội, tạo nền tảng để xây dựng đất nước.

 

2. Chính sách và hoạt động BHXH trong kháng chiến chống Pháp

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam) ra đời, mặc dù với một nền tài chính hết sức eo hẹp, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu nhưng ngày 03/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ký Sắc lệnh số 54-SL ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí. Trong bản sắc lệnh hết sức ngắn gọn, chỉ có 02 điều, Nhà nước quy định: “Kể từ ngày 01/10/1945, những công chức thuộc tất cả các ngạch trong nước Việt Nam, tại chức hay đương nghỉ việc bất cứ ở vào trong trường hợp nào, đều phải về hưu mỗi khi có đủ 01 trong 02 điều kiện: hoặc đã làm việc được 30 năm, hoặc đã đến 55 tuổi”.

Căn cứ Sắc lệnh số 54-SL, sau khi có sự thỏa thuận, thống nhất giữa hai Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đề nghị Chủ tịch Chính phủ (khi đó là cụ Huỳnh Thúc Kháng được Chủ tịch Hồ Chí Minh ủy nhiệm làm Quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác đi công tác tại Pháp) ký ban hành Sắc lệnh số 105-SL ngày 14/06/1946 quy định về việc cấp hưu bổng và đóng BHXH đối với công chức. Theo đó, bắt đầu từ ngày 01/10/1945, công chức các ngạch Việt Nam về hưu trí theo Sắc lệnh số 54 nếu đã làm được đủ 20 năm sẽ được hưởng lương hưu (từ nguyên văn trong Sắc lệnh là “có đồng hưu liễm” - Tg), sẽ được cấp hưu bổng tính theo phần số hạng thâm niên, cứ mỗi năm được tính 1/60 lương bình quân về 03 năm làm việc sau cùng, không kể các phụ cấp. Trường hợp đã làm từ 20 - 25 năm sẽ được cấp hưu bổng tính theo phần số hạng tỷ lệ 1/75 lương bình quân về 03 năm làm việc sau cùng, không kể các phụ cấp. Trường hợp tự ý đệ đơn về hưu trí sau khi đã làm việc ít nhất 25 năm cũng được cấp hưu bổng theo số hạng thâm niên như trên. Không chỉ quy định cấp hưu bổng cho những công chức của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại Sắc lệnh này còn đặc biệt nhấn mạnh: “Các hưu bổng đã cấp rồi theo chế độ cũ cho những viên chức ở trong các trường hợp kể trên, sẽ được thanh toán lại và tăng cấp kể từ ngày về hưu”, nhằm đảm bảo quyền lợi cho công chức đã có thời gian làm việc trong bộ máy của chính quyền Pháp thuộc và sau này có cống hiến, đóng góp cho chính quyền cách mạng. Tại Sắc lệnh số 105, quy định về mức đóng góp vào Quỹ hưu trí, bắt đầu từ ngày 01/01/1946, công chức có trách nhiệm đóng góp vào Quỹ hưu bổng 10% mức tiền lương thay vì 06% như trước đây và Nhà nước trích từ công quỹ cấp cho Quỹ hưu bổng 10% thay vì mức 07% như trước đây. Có thể nói, nếu như Sắc lệnh số 54-SL là sắc lệnh đầu tiên của Chính phủ quy định về chế độ hưu trí với công chức; thì Sắc lệnh 105-SL chính là văn bản pháp luật đầu tiên quy định quyền lợi, mức hưởng hưu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hưởng của BHXH, đồng thời, cũng quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với Quỹ BHXH. 

Ngày 09/11/1946, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Chính quyền cách mạng non trẻ với 240 phiếu tán thành trên tổng số 242 phiếu. Tại Điều 17 quy định về quyền cơ bản của công dân có nêu nguyên tắc: “Công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ, trẻ con được chăm sóc về mặt giáo dưỡng”. Tuy nhiên, ngày 19/12/1946, lệnh toàn quốc kháng chiến được phát đi, kháng chiến chống Pháp bùng nổ khiến cho việc tổng tuyển cử bầu nghị viện nhân dân không thể thực hiện. Bởi vậy, Hiến pháp 1946 chưa được công bố và chưa từng có hiệu lực về phương diện pháp lý. Nhưng những quan điểm tiến bộ về quyền con người, quyền công dân trong bản Hiến pháp đầu tiên này đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử.

Mặc dù trong điều kiện chiến tranh, toàn dân, toàn quân dốc sức cho cuộc kháng chiến trường kỳ 09 năm gian khổ, Đảng và Nhà nước ta vẫn hết sức quan tâm chăm lo đến đời sống của người dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Ngày 12/03/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 29-SL quy định về những giao dịch về việc làm công giữa chủ lao động, cả người Việt Nam và người nước ngoài, với công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do. Với nhiều chương mục quy định về phụ cấp gia đình, phụ cấp thâm niên và thủ tục trả phụ cấp; chế độ nghỉ đẻ và cho con bú đối với phụ nữ; chế độ nghỉ ốm đau cho công nhân và trách nhiệm của chủ; chế độ tai nạn lao động; hình thức xử phạt đối với chủ có hành vi vi phạm các quy định trên… Có thể nói, Sắc lệnh 29 chính là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về các chế độ BHXH đối với công nhân, có nhiều quy định hết sức ưu việt như quy định tất cả công nhân đều được phụ cấp gia đình để người công nhân đó nuôi các con của mình (kể cả con ruột và con nuôi được công nhận hợp pháp), cho đến khi đứa trẻ đủ 16 tuổi và được hưởng đến khi đủ 18 tuổi, đối với các con còn đi học hoặc bị tàn tật, mắc bệnh không thể tự kiếm sống. Để trả phụ cấp gia đình, chủ lao động phải đóng tiền vào một quỹ do Chính phủ quy định, khoản này không được trừ vào lương của công nhân. Đối với phụ cấp thâm niên (giống như trợ cấp thôi việc và là trợ cấp thất nghiệp sau này), mọi công nhân đều được hưởng phụ cấp thâm niên khi vì lý do nào đó mà nghỉ việc hoặc bị chủ sa thải, trừ trường hợp tự ý xin thôi để đi làm cho một cơ sở khác, ra kinh doanh để kiếm lợi riêng mình hoặc bị sa thải vì đã phạm một trọng tội về hình luật). Phụ cấp thâm niên được tính bằng 50 đồng tương ứng với mỗi năm có đủ 12 tháng làm việc. Trong trường hợp người công nhân mất, phụ cấp thâm niên sẽ được trả cho vợ (chồng) hoặc con của họ. Về chế độ thai sản với nữ công nhân, Sắc lệnh quy định “công nhân đàn bà” được nghỉ 08 tuần và hưởng một nửa số tiền công, kể cả phụ cấp, trong thời gian sinh nở; trong 01 năm kể từ ngày đẻ, được nghỉ 60 phút/ngày để cho con bú. Trong thời gian người phụ nữ mang thai và sinh đẻ, chủ không được phép sa thải hoặc chuyển việc nặng hơn hoặc đổi chỗ làm mà không được sự đồng ý của người lao động. Về chế độ ốm đau, công nhân khi ốm đau muốn xin nghỉ ăn lương phải có giấy chứng nhận của bác sĩ và được nghỉ nhiều nhất là 20 ngày/năm. Về chế độ tai nạn lao động, Sắc lệnh số 29 cũng có quy định nhưng còn hết sức mờ nhạt: “Công nhân bị tai nạn lao động, dù lỗi tại mình hay không mà phải nghỉ việc quá 04 ngày thì phải được chủ bồi thường; nếu vì tai nạn ấy mà chết thì những người thừa kế được bồi thường. Số tiền bồi thường sẽ kể từ hôm sau ngày xảy ra tai nạn. Ngày xảy ra tai nạn coi như ngày công nhân vẫn làm việc, chủ phải trả cả lương”. Đặc biệt, ngay từ thời kỳ này, Sắc lệnh 29 đã ban hành được quy định về xử lý vi phạm đối với chủ không thực hiện đầy đủ các quyền cho công nhân. Đối với những vi phạm về các chế độ BHXH kể trên, nếu vi phạm, người chủ có thể bị phạt từ 10 - 1.000 đồng, đối với chủ không chịu nộp tiền đóng góp vào quỹ phụ cấp gia đình cho công nhân sẽ phải phạt một số tiền gấp đôi số tiền phải góp.  

Năm 1948, xét thấy sự cần thiết phải lập một chế độ mới cho công chức Việt Nam thích hợp với nền Dân chủ Cộng hòa và công cuộc kháng chiến kiến quốc, nhằm cải thiện đời sống, đơn giản hóa chế độ công chức theo những nguyên tắc cơ bản như ấn định được mức sinh hoạt tối thiểu, trọng dụng thành tích, phát huy tài năng, chú ý đến tình trạng gia đình, nâng đỡ phụ nữ, đồng bào miền núi làm công chức và thống nhất ngạch, cấp bậc công chức, ngày 29/05/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 188-SL quy định về phụ cấp gia đình, phụ cấp khu vực khí hậu xấu, phụ cấp khu vực tiền tuyến; chế độ thai sản cho công chức nữ. Theo đó, kể từ ngày 01/05/1948, các công chức chính ngạch ở mỗi ngành làm việc trong các cơ quan của Chính phủ, sẽ theo một thang lương chung gồm 25 bậc. Trong đó, sẽ có một số lương chính ngạch, làm căn cứ để tính 10% đóng góp vào Quỹ hưu bổng, một số lương phụ tạm thời quy định bằng 40% lương chính, được Chính phủ định theo thời gian sinh hoạt và có sự điều chỉnh cho phù hợp ở từng thời điểm. Cũng tại Sắc lệnh này, lần đầu tiên đưa ra khái niệm mức thu nhập tối thiểu và quy định “nếu một công chức có mức lương chính và phụ cấp dưới 220 đồng/tháng thì được lĩnh bằng 220 đồng”. Về phụ cấp gia đình, công chức cũng được hưởng gần như công nhân và có quy định thêm, phụ cấp đối với con thứ hai nhiều hơn con thứ nhất, con thứ ba nhiều hơn con thứ hai và con thứ tư nhiều hơn con thứ ba. Từ con thứ năm trở đi, mức phụ cấp bằng con thứ tư. Điều này cũng là dễ hiểu khi nước nhà vừa trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập, nạn đói năm 1945 đã làm trên 02 triệu người chết, cuộc kháng chiến kiến quốc còn dài, không biết trước sẽ còn phải chi viện bao nhiêu sức người, sức của cho mặt trận nên chế độ phụ cấp gia đình giai đoạn này thể hiện rõ sự khuyến khích đối với các gia đình đông con. Ngoài phụ cấp gia đình, công chức - tùy theo vị trí, địa bàn công tác - còn được hưởng các loại phụ cấp như phụ cấp gạo đắt, phụ cấp khu vực khí hậu xấu, phụ cấp khu vực tiền tuyến, phụ cấp chức vụ hay phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp chuyên môn… Về chế độ thai sản với công chức nữ, Sắc lệnh quy định, công chức phụ nữ sinh con được nghỉ 02 tháng hưởng nguyên lương và các phụ cấp. Nếu chồng của nữ công chức không là công chức thì nữ công chức được hưởng các chế độ phụ cấp gia đình để nuôi con như công chức nam giới và cả cho chồng nếu chồng tàn tật không thể làm việc được. Đối với những công chức đã nghỉ hưu, được Chính phủ trưng tập, sẽ được hưởng lương tương ứng với công việc phụ trách nhưng phải trừ đi số hưu bổng vẫn lĩnh.

Năm 1950 có thể coi là mốc son ghi dấu trong sự phát triển của chính sách BHXH khi cùng một lúc, 02 sắc lệnh quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành. Đó là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 ban hành Quy chế Công chức Việt Nam, trong đó quy định các nghĩa vụ, quyền lợi của công chức Việt Nam, tổ chức quản trị sử dụng, quy định về tuyển dụng, khen thưởng, thăng thưởng cũng như việc kỷ luật đối với công chức vi phạm quy chế. Tại Sắc lệnh này đã dành hẳn 02 chương để quy định chế độ nghỉ cũng như quyền lợi của công chức khi ra ngạch trong các trường hợp từ chức, thôi việc, bị cách chức, chết hay mất tích trong khi tại chức hoặc về hưu. Trong 04 quyền lợi cơ bản của công chức quy định tại Điều 03, Chương III của Sắc lệnh 76/SL thì có tới 02 quyền về các chế độ BHXH và chế độ chăm sóc sức khỏe (sau này được thể hiện bằng chính sách BHYT):

“Điều 03. Công chức có quyền: Hưởng lương, các thứ phụ cấp và hưu bổng; nghỉ hằng năm có lương, được săn sóc về sức khỏe và trợ cấp khi bị tai nạn…”. Tại Điều 92, Chương VII, Sắc lệnh 76 quy định: “Sau khi làm việc được 30 năm hay đủ 55 tuổi, công chức các ngạch thuộc hạng thường trú được về hưu. Đối với công chức các ngạch thuộc hạng lưu động, hạn về hưu là 50 tuổi hay 25 năm làm việc. Trong trường hợp đặc biệt, công chức đến hạn về hưu có thể được giữ lại làm việc do quyết định của cấp quản trị”. Có thể thấy ngay từ buổi ban đầu sơ khai, chính sách BHXH đã có những điểm mở hết sức linh hoạt, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong thời kỳ kháng chiến. Độ tuổi nghỉ hưu từ 50 - 55 tuổi là tương đối phù hợp với đặc điểm sinh học và tuổi thọ của người Việt Nam lúc bấy giờ. Đồng thời, cũng hết sức linh hoạt kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với một số trường hợp cá biệt nhằm tận dụng tối đa lao động tri thức, trình độ cao, tâm huyết trong điều kiện nước nhà còn đang thiếu lực lượng lao động này. Sau khi ban hành Sắc lệnh 76 quy định về chế độ đối với công chức, ngày 22/05/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ký ban hành Sắc lệnh số 77-SL quy định các chế độ đối với công nhân giúp việc Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến. Sắc lệnh số 77/SL một lần nữa khẳng định và làm rõ hơn những quyền lợi công nhân được hưởng đã quy định tại Sắc lệnh 188-SL ngày 18/10/1949. Theo đó, công nhân được hưởng một thang lương chung gồm 18 bậc và được hưởng 04 loại phụ cấp cơ bản: phụ cấp gia đình (cho vợ chính thức và các con dưới 16 tuổi hoặc dưới 18 tuổi, nếu con đi học hay bị tàn tật); phụ cấp khu vực khí hậu xấu; phụ cấp nguy hiểm, bảo tồn sức khỏe và tiền thưởng năng suất. Về điều kiện nghỉ hưu, cũng tương đồng với công chức: “Sau khi làm việc được 30 năm hoặc đã đủ 55 tuổi, công nhân được về hưu” (Điều 42 Sắc lệnh 77). Công nhân đã về hưu được giữ lại giúp việc hay công nhân đã về hưu mà được gọi ra làm việc lại, được hưởng lương bổng theo năng lực và công việc mới của mình, được quyền lĩnh sổ phụ cấp thâm niên ngoài sổ lương tháng. Đặc biệt, tại Điều 40 quy định: “Trong lúc chờ đợi thành lập một Quỹ BHXH, công nhân bị tai nạn lao động mà một Hội đồng Giám định y khoa chứng nhận phải chịu thương tật thì tạm thời được hưởng một khoản trợ cấp bằng từ 03 tháng đến 01 năm lương, kể cả phụ cấp gia đình, tùy theo thương tật nặng hay nhẹ”. Chế độ thai sản được áp dụng với “công nhân đàn bà” tương đương với chế độ thai sản áp dụng với “công chức đàn bà” với thời gian nghỉ khi sinh con là 02 tháng… Như vậy, phụ cấp và chế độ BHXH công nhân được hưởng đã hướng tới sự đồng nhất với các chế độ phụ cấp và BHXH mà công chức được hưởng. Điều này đã tạo ra sự công bằng giữa người lao động trong các khu vực hành chính sự nghiệp và sản xuất kinh doanh, có tác dụng cổ vũ, động viên hết sức lớn lao đối với người lao động trong giai đoạn này. Việc quản lý Quỹ hưu bổng giai đoạn đầu do Nha Hưu bổng thực hiện, từ năm 1950 giao cho Bộ Tài chính đảm nhiệm, theo Sắc lệnh số 141-SL ngày 21/12/1949.

Chính sách BHXH ở Việt Nam trong giai đoạn đầu tuy còn hết sức sơ khai nhưng đã phản ánh được những mặt tiến bộ như thực hiện nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng chế độ BHXH; mức hưởng phù hợp với mức đóng, khả năng của Quỹ BHXH và thấp hơn mức hưởng khi đang làm việc. Việc thực hiện chính sách BHXH thời kỳ này còn hạn chế (cả nước chỉ có khoảng hơn 6.000 người hưởng chế độ hưu trí); các chế độ được ban hành, thực hiện chủ yếu dưới dạng phụ cấp, trên tinh thần “đồng cam, cộng khổ”… song đã kịp thời giải quyết một phần khó khăn trong đời sống cho người tham gia cách mạng, công nhân, viên chức nhà nước và trở thành động lực khiến họ hăng hái, dũng cảm chiến đấu, phấn khởi đẩy mạnh sản xuất, công tác. Đồng thời, thể hiện sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với người lao động, là cơ sở cho việc hình thành, phát triển chính sách BHXH ở Việt Nam trong các giai đoạn tới.

 

3. Chính sách và hoạt động BHXH trong kháng chiến chống Mỹ

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã kết thúc 09 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ. Hòa bình được lập lại, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc của miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thời gian này, mặc dù nền kinh tế đất nước còn hết sức khó khăn, cả nước tập trung sức người sức của cho cuộc kháng chiến nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định mục tiêu bảo đảm đời sống cho nhân dân lao động, thể hiện qua nhiều văn bản chính sách BHXH được ban hành.

Bên cạnh việc tiếp tục thực hiện chế độ BHXH cho người lao động theo Sắc lệnh 76, 77 (năm 1950), Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều văn bản quy định chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, những chế độ, chính sách này chưa được quy định riêng biệt, mà quy định chung tại các văn bản về chế độ ưu đãi. Điển hình như tại Nghị định số 980-TTg ngày 27/07/1956, ban hành bản điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bản điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân với nội dung chủ yếu gồm ban hành chế độ phụ cấp thương tật 06 hạng; Quy định tiền tuất một lần và trợ cấp khó khăn cho gia đình liệt sĩ; Quy định về cất, bốc, quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ… Đặc biệt, tại Nghị định 980, bên cạnh phụ cấp thương tật, thương binh còn được hưởng trợ cấp khi về địa phương sản xuất, hưởng phụ cấp sản xuất hay an dưỡng hằng tháng và được lĩnh định kỳ hằng quý, tùy theo từng hạng. Đối với cả thương binh và bệnh binh, đều được hưởng chế độ khám, điều trị và miễn trả tiền ăn, tiền thuốc ở bệnh viện (tương ứng với chế độ cấp thẻ BHYT miễn phí cho đối tượng người có công với cách mạng hiện nay).

Sau khi hòa bình lập lại, xuất phát từ nhu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và nhu cầu đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa theo kế hoạch để kiến thiết miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Chính phủ đã chủ trương giảm bớt quân số, dần dần thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự để thay thế chế độ tình nguyện tòng quân. Thi hành chủ trương này, một số quân nhân tham gia quân đội lâu ngày sẽ lần lượt được phục viên để trở về, tham gia công cuộc sản xuất, lao động kiến thiết của toàn dân và các ngành công tác khác của Chính phủ, các đoàn thể. Để đảm bảo quyền lợi cho quân nhân phục viên chuyển công tác, ngày 12/06/1957, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định 250-TTg về chính sách đối với quân nhân phục viên. Theo đó, tất cả quân nhân phục viên về địa phương được hưởng các khoản trợ cấp để về sản xuất, trợ cấp thâm niên, trợ cấp chức vụ và một khoản tiền lộ phí gồm có tiền tàu, xe, tiền ăn… trong thời gian đi đường. Quân nhân phục viên có con trong khi tại ngũ được hưởng tiêu chuẩn phụ cấp con, nếu về địa phương được thêm một khoản trợ cấp bằng 06 tháng phụ cấp con. Nữ quân nhân đang có thai, nếu phục viên về địa phương được phụ cấp sinh đẻ theo chế độ chung và thêm 02 tháng sinh hoạt phí. Quân nhân phục viên nếu sức khỏe còn kém, hoặc mắc bệnh kinh niên chữa lâu khỏi, được y sĩ chứng nhận là cần được điều dưỡng, ngoài những khoản trợ cấp trên, được hưởng thêm một khoản trợ cấp điều dưỡng. Quân nhân phục viên về địa phương được miễn thuế nông nghiệp trong 02 năm, nếu sống chung với gia đình thì gia đình được giảm thuế trong 02 năm, mỗi năm 50 cân thóc. Quân nhân chuyển ngành được tiếp tục tính nhân khẩu thuế nông nghiệp trong 02 năm kể từ khi phục viên. Để tránh những sự thay đổi về sinh hoạt một cách đột ngột, quân nhân phục viên được chuyển sang công tác tại các cơ quan chính quyền, đoàn thể được tiếp tục hưởng lương bằng số sinh hoạt phí và phụ cấp sau cùng trong quân đội trong thời hạn 06 tháng (sinh hoạt phí hàng tháng của quân nhân gồm tiền gạo, tiền thức ăn, củi, muối, phụ cấp thâm niên và tiền quân trang cho những tháng quân trang hết hạn). Đây cũng cũng là thời hạn để quân nhân phục viên bồi dưỡng về nghiệp vụ, chuyên môn trong công tác mới; sau đó, sẽ được xếp vào ngạch bậc của ngành công tác để hưởng lương mới. Trong trường hợp quân nhân phục viên đã quen thuộc với công tác mình phụ trách và cơ quan có thể xếp ngạch bậc sớm hơn vẫn bảo đảm được mức sinh hoạt thì không nhất thiết phải đợi hết 06 tháng. Nếu đã quá 06 tháng cơ quan vẫn chưa xếp ngạch bậc được, quân nhân phục viên tiếp tục hưởng theo sinh hoạt phí của bộ đội nhưng thời gian cơ quan phải xếp ngạch bậc cho quân nhân phục viên không được kéo dài quá 09 tháng, kể từ ngày phục viên. Trong việc sắp xếp ngạch bậc cho quân nhân phục viên chuyển sang ngành công tác khác, phải căn cứ vào khả năng của mỗi người quân nhân phục viên là chính, đồng thời, chiếu cố thích đáng đến thành tích, quá trình đấu tranh cách mạng và cấp bậc của người đó khi còn ở trong quân đội. Thời gian tham gia quân đội của quân nhân phục viên được tính vào thâm niên trong ngành công tác mới để được hưởng những quyền lợi về thâm niên của ngành đó (nếu có) và được tính là thời gian công tác để tính hưởng hưu bổng sau này.

Ngày 06/12/1958, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 523-TTg về chế độ trợ cấp dài hạn cho quân nhân tình nguyện đã phục viên từ ngày hòa bình lập lại bị bệnh kinh niên tái phát ốm, yếu không còn khả năng lao động. Theo đó, các đối tượng này sẽ được hưởng mức trợ cấp dài hạn ấn định cho mỗi người từ 8.000 đồng đến 12.000 đồng/tháng, tùy theo hoàn cảnh thực tế của từng người (giá gạo ở thời điểm năm 1958 là 4,8 đồng/kg).

Sau gần 04 năm khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn: “Từ năm 1955 - 1959, sản lượng thóc đã tăng từ 03 triệu 60 vạn tấn đến 05 triệu 20 vạn tấn. Về công nghiệp, năm 1955 chỉ có 17 xí nghiệp quốc doanh, năm 1959 đã có 107 xí nghiệp quốc doanh. Số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cấp thấp chiếm 43,9% tổng số nông hộ, đa số nông hộ chưa vào hợp tác xã đã vào tổ đổi công, 53% tổng số thợ thủ công vào các tổ chức hợp tác xã. Về văn hóa, so với năm 1955, số học sinh phổ thông tăng lên gấp 02 lần; số học sinh trường chuyên nghiệp trung cấp tăng lên gấp 06 lần; số sinh viên Đại học tăng lên gấp 07 lần; số bác sĩ y khoa tăng 80%”. Đi đôi với thắng lợi đó, quan hệ giai cấp trong xã hội miền Bắc đã thay đổi. Giai cấp địa chủ phong kiến đã bị đánh đổ. Liên minh giai cấp công nhân - nông dân ngày càng được củng cố và vững mạnh. Hiến pháp 1946 - Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Nhà nước đã hoàn thành sứ mệnh của nó, song so với tình hình, nhiệm vụ cách mạng mới, cần được bổ sung, thay đổi. Trong Kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp 1946 và thành lập Ban Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khi hoàn tất lần soạn thảo đầu tiên, tháng 07/1958, bản dự thảo đã được thảo luận trong cán bộ trung cấp, cao cấp thuộc các cơ quan quân, dân, chính, Đảng. Sau đó, bản dự thảo được chỉnh lý và ngày 01/04/1959 công bố để toàn dân thảo luận, đóng góp ý kiến xây dựng. Trong 04 tháng liền, trong các cơ quan, xí nghiệp, trường học, tổ chức khác của nhân dân; ở thành thị và nông thôn; việc nghiên cứu, thảo luận Dự thảo Hiến pháp tiến hành sôi nổi và trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi với đủ các tầng lớp nhân dân tham gia. Ngày 18/12/1959, tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi. Ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp. Trong đó, Hiến pháp 1959 tiếp tục khẳng định quan điểm lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta về phát triển chính sách BHXH, như tại Điều 32: “Người lao động có quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động. Nhà nước mở rộng dần các tổ chức BHXH, cứu tế và y tế để đảm bảo cho người lao động được hưởng điều đó” và tại Điều 24: “… cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương...”.

Hiện thực hóa quy định về BHXH tại Hiến pháp, để cải tiến, thống nhất các chế độ có tính chất BHXH, nhằm cải thiện đời sống của công nhân, viên chức nhà nước, ngày 27/12/1961, Chính phủ ban hành Nghị định số 218/CP ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước, thay thế tất cả những quy định trước đó về các chế độ có tính chất BHXH, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1962 và là Điều lệ đầu tiên về BHXH. Ngay trong Lời nói đầu của Điều lệ đã khẳng định: “Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và suốt trong thời kỳ kháng chiến cho đến nay, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, Chính phủ đã luôn luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao động. Đối với công nhân, viên chức nhà nước, đi đôi với việc cải tiến chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ trợ cấp mà thực chất là chế độ BHXH, như chế độ trợ cấp khi ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp khi chết, đồng thời đã xây dựng nhiều bệnh viện, bệnh xá, nhà an dưỡng, điều dưỡng, nhà gửi trẻ... Các chế độ và sự nghiệp có tính chất BHXH này tuy mới chỉ là bước đầu nhưng đã có tác dụng rõ rệt; đã giải quyết được một phần những khó khăn trong sinh hoạt của công nhân, viên chức nhà nước, làm cho anh chị em phấn khởi đẩy mạnh sản xuất và công tác. Từ ngày hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi hoàn thành thắng lợi kế hoạch 03 năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa, chúng ta bước vào kế hoạch 05 năm lần thứ nhất, lấy công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm. Số công nhân, viên chức sẽ ngày càng tăng lên. Các chế độ trợ cấp xã hội hiện hành cần được bổ sung và cải tiến để phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới, nhằm phục vụ yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời, đáp ứng yêu cầu không ngừng cải thiện đời sống của công nhân, viên chức nhà nước. Điều lệ tạm thời này về BHXH bảo đảm những điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần cho công nhân, viên chức nhà nước trong những trường hợp tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động và áp dụng thống nhất cho toàn thể công nhân, viên chức nhà nước. Các chế độ đãi ngộ về BHXH trong Điều lệ tạm thời này chủ yếu dựa vào nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm khuyến khích mọi người tăng cường kỷ luật lao động, đẩy mạnh sản xuất, góp phần ổn định lực lượng lao động trong các ngành kinh tế quốc dân. Điều lệ tạm thời này về các chế độ BHXH được xây dựng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị và xã hội hiện nay của nước ta, không những có tác dụng động viên công nhân, viên chức và nhân dân lao động ở miền Bắc phấn khởi nỗ lực sản xuất và công tác, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn làm cho công nhân, viên chức và nhân dân lao động ở miền Nam thấy rõ tính chất hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, do đó tăng thêm tin tưởng, tăng cường đoàn kết và đấu tranh đòi quyền sinh sống hàng ngày, đồng thời kiên quyết đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”.

Tại bản Điều lệ tạm thời về BHXH này, lần đầu tiên nguyên tắc mức hưởng thụ - sự cống hiến và khái niệm Quỹ BHXH được đề cập tại Điều 2, Điều 3: “Mức độ đãi ngộ về BHXH được quy định căn cứ vào sự cống hiến, thời gian công tác, điều kiện làm việc, đồng thời cũng căn cứ vào tình trạng mất sức lao động nhiều hay ít của mỗi công nhân, viên chức trong từng trường hợp. Trợ cấp về BHXH nói chung thấp hơn tiền lương của công nhân, viên chức khi đang làm việc, nhưng mức thấp nhất cũng bằng mức sinh hoạt tối thiểu” “Mọi đãi ngộ về BHXH quy định trong Điều lệ tạm thời này đều do Quỹ BHXH của Nhà nước đài thọ”. Tuy nhiên, do đặc điểm của thời kỳ kháng chiến kiến quốc, các chế độ BHXH quy định trong Điều lệ tạm thời này mới chỉ được áp dụng cho công nhân, viên chức nhà nước ở cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, kể cả cán bộ, công nhân hoạt động ở các cơ quan của các đoàn thể nhân dân, những xí nghiệp công tư hợp doanh đã áp dụng chế độ tiền lương như xí nghiệp quốc doanh; những xí nghiệp công nghiệp địa phương đã có kế hoạch lao động tiền lương ghi trong kế hoạch nhà nước. Còn đối với các cán bộ, nhân viên công tác ở các tổ chức dân lập không thuộc đối tượng điều chỉnh trong Điều lệ này. Đồng thời, quy định 06 chế độ cơ bản, cụ thể là:

Chế độ đãi ngộ công nhân, viên chức nhà nước khi ốm đau (sau này gọi chung là chế độ ốm đau)

Công nhân, viên chức nhà nước khi ốm đau được khám bệnh và điều trị tại những cơ sở y tế của Nhà nước. Mọi chi phí về khám bệnh, thuốc men và bồi dưỡng do Nhà nước đài thọ. Trong suốt thời gian nghỉ việc vì ốm đau, được thầy thuốc chứng nhận, cho đến khi khỏi bệnh trở lại làm việc hay được xác nhận là không còn khả năng làm việc nữa, công nhân, viên chức nhà nước không hưởng lương mà hưởng trợ cấp bằng 70% mức lương kể cả phụ cấp (nếu có) trong 03 tháng đầu và bằng 60% mức lương kể cả phụ cấp khi nghỉ từ tháng thứ 04 trở đi nếu có thời gian công tác liên tục từ 01 đến hết 03 năm; hưởng 80% lương, phụ cấp trong 03 tháng đầu và 70% kể từ tháng thứ 04 nếu có thời gian công tác liên tục từ trên 03 năm đến hết 07 năm; bằng 90% lương trong 03 tháng đầu và 80% kể từ tháng thứ 04 trở đi nếu có thời gian công tác liên tục từ trên 07 năm đến hết 12 năm và nếu có thời gian công tác trên 12 năm, mức hưởng sẽ là 100% lương, phụ cấp trong 03 tháng đầu và bằng 90% kể từ tháng thứ 04 trở đi. Công nhân viên chức nhà nước công tác dưới 01 năm được trợ cấp bằng 70% lương và phụ cấp (nếu có) trong thời hạn nhiều nhất là 03 tháng. Hết hạn này mà bệnh chưa khỏi, nếu gặp khó khăn túng thiếu, đương sự sẽ được giúp đỡ như nhân dân (do Quỹ Cứu tế xã hội của địa phương đài thọ).

Công nhân, viên chức nhà nước là Anh hùng lao động, Anh hùng quân đội chuyển ngành được trợ cấp theo loại IV. Trường hợp là thương binh và công nhân, viên chức công tác ở miền núi hay ở nghề đặc biệt nặng nhọc được trợ cấp theo loại trên liền với loại mà mình được hưởng theo quy định về thời gian công tác. Mức trợ cấp thấp nhất cho công nhân, viên chức nhà nước khi ốm đau là 22 đồng/tháng. Sau khi điều trị, nếu còn sức khỏe để làm việc, công nhân, viên chức sẽ được tiếp tục làm công việc cũ hoặc được bố trí công việc thích hợp, và hưởng lương theo công việc mới. Nếu vì kém sức khỏe mà phải thôi việc, thì được hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động nếu có đủ điều kiện. Trường hợp bị tai nạn không thuộc diện hưởng chế độ trợ cấp tai nạn lao động cũng được đãi ngộ như khi ốm đau. Nữ công nhân, viên chức được bác sĩ chứng nhận phải nghỉ việc để trông nom con nhỏ ốm đau, được hưởng trong một thời gian nhất định mức trợ cấp như khi bản thân ốm đau. Trường hợp mẹ chết, con nhỏ ở với cha hay vì điều kiện đặc biệt mẹ không thể trông nom con, thì người cha (là công nhân, viên chức nhà nước) phải nghỉ việc để trông nom con ốm cũng được hưởng khoản trợ cấp này.

Chế độ đãi ngộ nữ công nhân, viên chức nhà nước khi có thai và khi đẻ (sau này gọi chung là chế độ thai sản)

Nữ công nhân, viên chức nhà nước được nghỉ trước và sau khi đẻ tất cả là 60 ngày (kể cả chủ nhật, ngày lễ). Nếu đẻ sinh đôi thì được nghỉ thêm 10 ngày, sinh ba được thêm 20 ngày. Trường hợp làm nghề đặc biệt nặng nhọc, ngoài thời gian nghỉ đẻ quy định chung, được nghỉ thêm 15 ngày. Trường hợp đẻ non, có bác sĩ chứng nhận, cũng được nghỉ 60 ngày. Trường hợp bị sảy thai, tùy theo tình hình sức khỏe được nghỉ như sau: Sảy thai từ 03 tháng tuổi trở xuống, nghỉ từ 07 - 15 ngày; sảy thai trên 03 tháng, nghỉ từ 15 - 30 ngày. Người làm nghề đặc biệt nặng nhọc bị sảy thai được nghỉ thêm từ 03 - 10 ngày và số ngày cần nghỉ do bác sĩ định. Trong thời gian nghỉ đẻ và nghỉ vì đẻ non hay sảy thai, nữ công nhân, viên chức nhà nước được hưởng trợ cấp thay tiền lương bằng 100% lương kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có). Cụ thể, được hưởng tiền bồi dưỡng 12 đồng, tiền sắm tã lót 08 đồng. Nếu đẻ sinh đôi, sinh ba thì được hưởng các khoản này gấp đôi, gấp ba.

Nữ công nhân, viên chức nhà nước khi sảy thai được điều trị và bồi dưỡng ở bệnh viện theo chế độ đãi ngộ khi ốm đau. Nếu vì xa bệnh viện, bệnh xá, phải nghỉ ở nhà, thì được trợ cấp một khoản tiền bồi dưỡng là 06 đồng. Trường hợp sức khỏe suy nhược, được bác sĩ chứng nhận là không thể trở lại làm việc ngay khi hết hạn nghỉ như đã quy định ở trên, thì được đãi ngộ như khi đau ốm. Trường hợp bị mất sữa hoặc không được cho con bú vì mắc bệnh truyền nhiễm, được trợ cấp mỗi tháng 10 đồng cho mỗi đứa con tới khi con đủ 10 tháng. Nếu sinh đôi, sinh ba, dù có sữa cho con bú, cũng được hưởng khoản trợ cấp 10 đồng/tháng cho con thứ hai trở đi. Trường hợp mẹ (là công nhân, viên chức nhà nước) chết hoặc nam công nhân, viên chức nhà nước có vợ không phải là công nhân, viên chức nhà nước chết, khi con chưa được 10 tháng, thì người nuôi con được hưởng trợ cấp này.

Chế độ đãi ngộ công nhân, viên chức nhà nước khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp

Công nhân, viên chức nhà nước bị tai nạn lao động được hưởng tiền thuốc men, bồi dưỡng, tiền phí tổn về tàu xe đi bệnh viện và ở bệnh viện về trong thời gian điều trị, kể cả thời gian điều trị khi vết thương tái phát, do Nhà nước đài thọ. Được hưởng trợ cấp thay tiền lương bằng 100% lương kể cả phụ cấp (nếu có) trong suốt thời gian điều trị cho đến khi khỏi bệnh hay thành cố tật. Được xếp hạng thương tật và hưởng trợ cấp cho đến khi thương tật được chữa lành hay đến khi chết (trừ trường hợp được về hưu) với mức hưởng trợ cấp 01 lần bằng từ 01 - 04 tháng lương chính khi mất từ 05 - 30% sức lao động; được trợ cấp hằng tháng bằng 7% lương chính khi mất từ 31 - 40% sức lao động; bằng 10% lương chính khi mất từ 41 - 50% sức lao động; bằng 15% lương chính khi mất từ 51 - 60% sức lao động; bằng 25% lương chính khi mất từ 61 - 70% sức lao động; bằng 50% lương chính khi mất từ 71 - 80% sức lao động; bằng 60% lương chính khi mất từ 81 - 90% sức lao động và được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 70% lương chính khi mất từ 91 - 100% sức lao động. Trường hợp do tai nạn, người bị tai nạn lao động cần dùng chân tay giả, mắt giả, kính, máy điếc... thì được cấp phát không phải trả tiền. Trường hợp bị tai nạn lao động mất từ 70% sức lao động trở xuống, nếu không thể tiếp tục công việc cũ, thì được bố trí công việc mới hợp với khả năng và hưởng lương theo công việc mới. Trường hợp vì lợi ích chung có hành động hy sinh dũng cảm, dẫn đến bị tai nạn lao động, nếu do thương tật mà khả năng lao động giảm sút và lương mới cộng với trợ cấp thương tật hàng tháng không bằng lương cũ, thì được hưởng thêm một khoản phụ cấp chênh lệch cho bằng lương cũ. Nếu trở thành tàn phế, phải thôi việc, thì được hưởng trợ cấp thương tật hằng tháng bằng 100% lương chính khi bị nạn.

Trường hợp bị tai nạn lao động không còn khả năng làm việc, nếu mức trợ cấp hằng tháng không đủ 22 đồng thì được nâng lên bằng mức đó. Ngoài trợ cấp thương tật, trường hợp tàn phế cần phải có người phục vụ được thêm một khoản trợ cấp bằng 10% lương chính. Trường hợp không có nơi nương tựa sẽ được thu nhận vào nhà an dưỡng. Khi vào nhà an dưỡng, nếu trợ cấp thương tật thấp hơn mức sinh hoạt thấp nhất của nhà an dưỡng, thì được nâng lên bằng mức đó.

Công nhân, viên chức nhà nước bị tai nạn lao động, khi mới thôi việc được trợ cấp thêm khoản tiền lĩnh làm một lần, bằng 01 tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có). Khi thôi việc, đang được hưởng trợ cấp con, thì vẫn được tiếp tục lĩnh trợ cấp của những đứa con đó theo chế độ hiện hành. Khi ốm đau, công nhân, viên chức nhà nước bị tai nạn lao động đã thôi việc được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế thuộc địa phương nơi cư trú, được hưởng chế độ thuốc men, bồi dưỡng; khi chết, được trợ cấp tiền chôn cất theo quy định, thân nhân do người đó khi còn sống phải nuôi dưỡng được hưởng tiền tuất hằng tháng theo quy định. Trường hợp bị cố tật vì tai nạn lao động, nếu được chuyển sang học nghề mới, thì trong thời gian học nghề, ngoài phụ cấp thương tật hằng tháng, được hưởng sinh hoạt phí theo chế độ đối với công nhân, viên chức được cử đi học nghề nhưng 02 khoản cộng lại không được quá 100% lương chính khi bị nạn. Sau khi học thành nghề, sẽ hưởng lương theo công việc mới và trợ cấp thương tật hàng tháng của mình. Trường hợp chết vì tai nạn lao động hay do vết thương vì tai nạn lao động cũ, thì thân nhân được trợ cấp tiền chi phí về chôn cất và tiền tuất theo quy định. Đặc biệt, các quy định về chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được áp dụng chung cho mọi công nhân, viên chức nhà nước, kể cả những người làm việc tạm thời theo thời vụ, theo hợp đồng trong một thời gian ngắn.

Chế độ đãi ngộ công nhân, viên chức nhà nước thôi việc vì mất sức lao động

Công nhân, viên chức nhà nước mất sức lao động vì đau ốm, tai nạn không thuộc diện hưởng chế độ trợ cấp về tai nạn lao động hoặc vì già, yếu nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp hưu trí, phải thôi việc, khi đã công tác liên tục từ 05 năm trở lên, được hưởng trợ cấp hằng tháng cho đến khi sức khỏe hồi phục hay chết, với mức hưởng bằng 35% lương chính. Nếu thời gian công tác liên tục trên 05 năm, từ năm thứ 06 – 10, mỗi năm thêm 1% lương chính; từ năm thứ 11 trở đi, mỗi năm thêm 2% lương chính, song tối đa không quá 65% lương chính. Người tàn phế cần phải có người phục vụ được hưởng thêm hàng tháng một khoản trợ cấp bằng 10% lương chính. Nếu trước khi thôi việc, vì sức khỏe sút kém phải chuyển sang làm việc nhẹ, hưởng lương thấp hơn trước, thì được lấy mức lương của công việc trước khi chuyển sang việc nhẹ để tính trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp thấp nhất cho công nhân, viên chức nhà nước có thời gian công tác liên tục từ 05 năm trở lên mất sức lao động phải thôi việc là 15 đồng/tháng. Công nhân, viên chức nhà nước mất sức lao động phải thôi việc, khi mới thôi việc được trợ cấp thêm một khoản tiền bằng 01 tháng lương kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có). Công nhân, viên chức nhà nước có thời gian công tác liên tục từ 05 năm trở lên mất sức lao động đã thôi việc, khi ốm đau được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế thuộc địa phương nơi cư trú; được hưởng chế độ thuốc men, bồi dưỡng; khi chết được trợ cấp tiền chi phí về chôn cất theo quy định. Tính từ ngày thôi việc, cứ 02 năm/lần, công nhân, viên chức nhà nước mất sức lao động sẽ được Hội đồng Giám định y khoa nơi cư trú khám lại. Căn cứ vào kết luận của Hội đồng Giám định y khoa, cơ quan quản lý Quỹ BHXH ở địa phương sẽ quyết định việc ngừng hoặc tiếp tục trợ cấp mất sức lao động. Công nhân, viên chức nhà nước mất sức lao động phải thôi việc, mà đã công tác liên tục dưới 05 năm, được trợ cấp một lần, cứ mỗi năm bằng một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng 02 tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có).

Chế độ trợ cấp hưu trí

Công nhân, viên chức nhà nước nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi, được về hưu. Ngoài điều kiện trên, trường hợp có nam thời gian công tác nói chung 25 năm, thời gian công tác liên tục 05 năm, nữ có thời gian công tác nói chung 20 năm, thời gian công tác liên tục 05 năm, thì được nghỉ hưu. Một số trường hợp đặc biệt cũng được hưởng trợ chế độ trợ cấp hưu trí gồm: công nhân, viên chức nhà nước nam 55 tuổi, có thời gian công tác nói chung 20 năm, thời gian công tác liên tục 05 năm, nữ 50 tuổi, có thời gian công tác nói chung 15 năm, thời gian công tác liên tục 05 năm, làm việc đặc biệt nặng nhọc hay việc hại sức khỏe liền trong 10 năm; trường hợp đủ điều kiện về tuổi, tuy chưa đủ điều kiện về thời gian công tác nói chung nhưng thời gian công tác liên tục đủ 15 năm; trường hợp nam 55 tuổi, nữ 50 tuổi, ốm yếu, không còn khả năng lao động, nếu thời gian công tác liên tục đủ 15 năm... Kể từ ngày về hưu cho tới khi chết, trường hợp đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp hưu trí được lĩnh trợ cấp hàng tháng bằng 45% lương chính, nếu thời gian công tác liên tục đủ 05 năm. Nếu thời gian công tác liên tục trên 05 năm, từ năm thứ 06 – 10, mỗi năm thêm 1% lương chính; từ năm thứ 11 trở đi, mỗi năm thêm 2% lương chính, song tối đa không quá 75% lương chính. Nếu trước khi về hưu, vì sức khỏe kém sút, phải chuyển sang làm việc nhẹ, hưởng lương thấp hơn trước, thì được lấy mức lương cao nhất đã được hưởng trong thời gian 10 năm trước khi về hưu để tính trợ cấp hàng tháng. Trường hợp có công lao, có thành tích lớn, anh hùng lao động, anh hùng quân đội chuyển ngành…, ngoài lương hưu hằng tháng, còn được thêm một khoản trợ cấp ưu đãi hằng tháng từ 5% - 15% lương chính. Người có trợ cấp thương tật hàng tháng còn được thêm 10% trợ cấp thương tật.

Công nhân, viên chức nhà nước về hưu được bảo đảm mức sinh hoạt thấp nhất ấn định là 22 đồng/tháng. Trường hợp không có nơi nương tựa, được thu nhận vào nhà dưỡng lão. Ngoài ra, được trợ cấp thêm một khoản tiền bằng một tháng lương kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có). Người được hưởng chế độ hưu trí, ở với gia đình hay ở nhà dưỡng lão, khi ốm đau được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế thuộc địa phương nơi cư trú; hưởng chế độ thuốc men, bồi dưỡng; khi chết được trợ cấp tiền chi phí về chôn cất theo quy định; những thân nhân do người đó khi còn sống phải nuôi dưỡng được hưởng tiền tuất hằng tháng theo quy định. Người đủ điều kiện về hưu trí nhưng do yêu cầu công tác, được lưu lại để làm việc, thì không được hưởng trợ cấp hưu trí.

Chế độ trợ cấp chôn cất và trợ cấp vì mất người chủ gia đình (sau này gọi là trợ cấp mai táng phí và trợ cấp tuất quy định chung trong chế độ tử tuất)

Khi công nhân, viên chức nhà nước chết, thân nhân được cấp một khoản tiền chi phí về chôn cất. Ngoài ra, còn được trợ cấp một số tiền căn cứ vào thời gian đã công tác liên tục của người chết, cứ mỗi năm bằng 50% của 01 tháng lương, tối đa không quá 02 tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có). Trường hợp chưa có đủ thời gian công tác liên tục để hưởng tiền tuất, thì cứ mỗi năm công tác được trợ cấp 01 tháng lương. Trường hợp chết vì tai nạn lao động, thì khoản trợ cấp này được tính cứ mỗi năm công tác liên tục bằng 01 tháng lương, mức trợ cấp tối thiểu bằng 02 tháng lương, tối đa không quá 04 tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có). Ngoài các khoản trợ cấp trên, trường hợp đã công tác liên tục từ 05 năm trở lên, tổng số thu nhập của gia đình bị sụt từ 60% trở lên và có mức lương từ 40 đồng trở xuống, thì thân nhân người đó khi còn sống phải nuôi dưỡng được hưởng tiền tuất hàng tháng bằng 09 đồng, nếu gia đình có 01 người phải nuôi dưỡng, 16 đồng nếu có 02 người phải nuôi dưỡng, 21 đồng nếu có 03 người phải nuôi dưỡng và bằng 24 đồng nếu có 04 người trở lên phải nuôi dưỡng. Nếu mức lương cao hơn 40 đồng, ngoài khoản tiền nói trên, gia đình còn được hưởng thêm 5% của phần tiền lương cao hơn. Trường hợp khi chết, có từ 10 năm công tác liên tục trở lên, gia đình được thêm 10% của số tiền trợ cấp nói ở khoản trên. Trường hợp chết vì tai nạn lao động, gia đình còn được thêm 10% của tổng số tiền trợ cấp nói trên. Thân nhân được hưởng tiền tuất phải là những người không có sức lao động, bao gồm người dưới 16 tuổi (nếu còn đang đi học thì đến hết 18 tuổi), mà trước khi chết, công nhân, viên chức nhà nước phải nuôi dưỡng. Những đối tượng trên được hưởng tiền tuất cho tới khi có khả năng tự giải quyết được đời sống, có người đảm nhiệm nuôi dưỡng hoặc tới khi chết. Trường hợp công nhân, viên chức nhà nước chết về tai nạn lao động, thì dù chưa đủ 05 năm công tác liên tục, thân nhân cũng được hưởng tiền tuất theo quy định. Trường hợp hưu trí hay về an dưỡng do bị tai nạn lao động mà chết, thân nhân không có sức lao động trước đây sống nhờ vào trợ cấp hưu trí hay trợ cấp thương tật của người chết, được hưởng tiền tuất hằng tháng theo quy định, mức tính sẽ căn cứ vào trợ cấp hưu trí hay trợ cấp thương tật.

Như vậy, có thể thấy, các chế độ BHXH được quy định tại Điều lệ BHXH tạm thời đã có một bước tiến dài, thể hiện nhiều quan điểm tiến bộ. Bước đầu, đã đặt ra mối quan hệ mức hưởng thụ và sự cống hiến, có tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam khi trải qua 02 cuộc chiến tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc, khi đối tượng công nhân, viên chức nhà nước có thời gian tham gia vào lực lượng vũ trang, có công với cách mạng rất lớn. Đặc biệt, Điều lệ còn thể hiện rõ sự ưu việt, tính nhân văn của Nhà nước XHCN khi quy định thời gian công tác nói chung của công nhân, viên chức nhà nước là tất cả thời gian người đó đã thoát ly kinh tế gia đình để đi làm việc, lấy lương hoặc sinh hoạt phí làm nguồn sống chính và công việc làm có tác dụng phục vụ lợi ích chung của xã hội (kể cả thời gian làm việc dưới chế độ cũ). Khái niệm thời gian công tác liên tục được tính bằng thời gian công nhân, viên chức làm việc liên tục dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại một cơ quan, xí nghiệp, công trường nông trường, lâm trường; thời gian hoạt động liên tục cho cách mạng trước ngày 02/09/1945 và quân đội tình nguyện cũng được tính. Điều lệ cũng dành 01 chương quy định về vấn đề quản lý Quỹ BHXH và thực hiện các chế độ BHXH. Theo đó, để bảo đảm việc chi tiêu, thành lập Quỹ BHXH – một quỹ độc lập thuộc NSNN. Mọi chi phí về công tác quản lý Quỹ BHXH, quản lý các sự nghiệp BHXH đều do Quỹ BHXH của Nhà nước đài thọ. Tổng Công đoàn Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý Quỹ BHXH và toàn bộ sự nghiệp BHXH của công nhân, viên chức nhà nước, cụ thể là quản lý toàn bộ quỹ, lập dự toán, quyết toán, tổng kết việc chi tiêu; hàng năm báo cáo trước Hội đồng Chính phủ; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cấp công đoàn trong công tác quản lý Quỹ BHXH; quy định biện pháp, thể lệ cụ thể về quản lý quỹ và chế độ kế toán, tài vụ; phân phối, điều hòa và xét duyệt dự toán hàng quý, hàng năm của cấp dưới; quản lý các nhà dưỡng lão, nhà an dưỡng, nhà nghỉ mát của công nhân, viên chức nhà nước; tham gia việc nghiên cứu xây dựng chế độ, chính sách BHXH với các cơ quan nhà nước. Hằng tháng, cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường phải trích nộp cho Quỹ BHXH số tiền bằng 10% so với tổng quỹ tiền lương của công nhân, viên chức. Việc đôn đốc nộp tiền, thực hiện kế hoạch thu - chi thuộc Quỹ BHXH do Tổng Công đoàn Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước phụ trách. Nếu quá thời hạn quy định, cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường chưa trích nộp tiền BHXH, thì Ban Chấp hành Công đoàn nơi đó (là cấp quản lý Quỹ BHXH ở cơ sở) sẽ báo cho ngân hàng mà đơn vị có tài khoản, để chuyển số tiền phải nộp ấy từ tài khoản của đơn vị sang tài khoản của cơ quan quản lý Quỹ BHXH ở địa phương. Tiền Quỹ BHXH được nộp vào NSNN và chịu sự quản lý tiền mặt của ngân hàng. Ở mỗi đơn vị đều thành lập 01 Ban BHXH, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở, có trách nhiệm đôn đốc việc trích nộp Quỹ BHXH; quyết định việc chi cấp tiền BHXH theo thể lệ đã ban hành; kiểm tra việc thu - chi các khoản tiền BHXH. Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm giám sát chi tiêu của Quỹ BHXH, hướng dẫn, giúp đỡ cơ quan quản lý quỹ thi hành đúng thể lệ tài chính của Nhà nước.

Tiếp theo Điều lệ BHXH tạm thời đối với công nhân, viên chức nhà nước, để cải tiến, thống nhất các chế độ có tính chất BHXH đối với đối tượng quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân vũ trang, quân nhân dự bị, dân quân tự vệ, ngày 30/10/1964, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 161-CP ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ quân nhân trong khi ốm đau, bị thương, mất sức lao động, về hưu hoặc chết; nữ quân nhân khi có thai và khi đẻ; quân nhân dự bị và dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặc chết trong khi làm nhiệm vụ quân sự. Theo đó, toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân vũ trang Việt Nam, bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ chuyên nghiệp được hưởng 06 chế độ đãi ngộ khi ốm đau, bị thương hoặc bị bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động phải ra ngoài quân đội; trợ cấp hưu trí; trợ cấp tuất và chế độ đãi ngộ đối với nữ quân nhân khi có thai và sinh đẻ. Về cơ bản, các chế độ BHXH đối với lực lượng vũ trang không có gì khác so với công nhân, viên chức nhà nước. Tuy nhiên, xét theo đặc thù, một số chế độ có sự đãi ngộ hơn như tuổi đời nghỉ hưu của quân nhân là 55 đối với nam và 50 đối với nữ (thấp hơn 05 tuổi so với công nhân, viên chức nhà nước); mức hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng hằng tháng đối với quân nhân chết được xác định là liệt sĩ cao hơn đối với các trường hợp quân nhân chết vì tai nạn trong tập luyện, công tác, học tập, sản xuất… Quân nhân dự bị, dân quân tự vệ được hưởng 02 chế độ là ốm đau và trợ cấp chôn cất, tiền tuất. Việc xây dựng các chế độ BHXH đối với quân nhân trong lực lượng vũ trang đã đảm bảo các nguyên tắc cơ bản, phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước trong giai đoạn vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; với chính sách chung của Nhà nước; với đời sống của công nhân viên chức, nhân dân; với tính chất, đặc điểm của quân đội, có tác dụng tốt cải thiện đời sống cho quân nhân và khuyến khích quân nhân tích cực xây dựng quân đội. Mức đãi ngộ về các chế độ trợ cấp được quy định căn cứ vào tình trạng mất sức lao động nhiều hay ít, sự cống hiến, thời gian công tác, điều kiện làm việc của mỗi quân nhân trong từng trường hợp và có ưu đãi đối với thương binh, liệt sĩ. Đặc biệt, trong giai đoạn này, khi Quân đội nhân dân Việt Nam đang trong thời kỳ xây dựng tiến lên chính quy, hiện đại, việc ban hành các quy định về chế độ đãi ngộ BHXH trong lực lượng vũ trang thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, có tác dụng to lớn trong việc động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực xây dựng quân đội, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh nhằm thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.

Trước yêu cầu đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất, cần kiệm, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã bước vào giai đoạn chín muồi, ngày 04/07/1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 163-CP sửa đổi một số điểm về chế độ thôi việc vì mất sức lao động và chế độ hưu trí quy định tại Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước. Theo đó, sửa đổi quy định về điều kiện hưởng chế độ thôi việc vì mất sức lao động và quy định bổ sung việc áp dụng chế độ hưu trí: “Những công nhân, viên chức nhà nước đã tham gia trong một đoàn thể cách mạng từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 hoặc đã hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, được tặng thưởng huân, huy chương, nam 52 tuổi, nữ 47 tuổi, có đủ 25 năm công tác liên tục, mà ốm đau, không còn khả năng lao động cũng được hưởng chế độ trợ cấp hưu trí”.

Có thể nói, Điều lệ BHXH tạm thời đối với công nhân, viên chức nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ đối với quân nhân ban hành kèm theo Nghị định số 161/CP ngày 30/10/1964 là 02 văn bản pháp luật đầu tiên quy định 06 chế độ BHXH ở nước ta là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Trong hoàn cảnh đất nước chia cắt vì chiến tranh, Đảng, Nhà nước ta vẫn ban hành hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ quy định về BHXH, thể hiện chiến lược và mục tiêu phát triển nhất quán là vì con người và chăm lo cho con người.

 

 

HOẠT ĐỘNG BHXH GIAI ĐOẠN 1975 - 1994

 

1.  Mười năm trước đổi mới (1975 - 1985)

Ngày 30/04/1975 đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc, hai miền Nam - Bắc thống nhất sau hơn 20 năm chia cắt. Ngày 02/07/1976, Nhà nước ta quyết định lấy Quốc hiệu là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ thực tiễn cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc, dựng nước và giữ nước, có thể nhận thấy, việc Nhà nước luôn quan tâm ban hành, thực thi đầy đủ hệ thống chính sách xã hội chính là nguồn động lực cổ vũ và cố kết dân tộc, tạo niềm tin cho nhân dân về một chế độ xã hội chủ nghĩa công bằng, bình đẳng, dân chủ, bác ái, để từ đó chiến thắng mọi kẻ thù.

 Kiên định các mục tiêu ấy, 10 năm sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước tiếp tục có nhiều văn bản quan trọng kiện toàn hệ thống chính sách xã hội, trong đó có các chế độ BHXH. Cũng trong giai đoạn này, việc triển khai thí điểm BHXH đối với người lao động bắt đầu manh nha tại một số ngành kinh tế tập thể, tạo tiền đề việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động trong các thành phần kinh tế khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới.

Đất nước thống nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần có một bản Hiến pháp mới thể chế hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới. Đó là Hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước. Sau một thời gian thảo luận, Quốc hội khóa VI tại Kỳ họp thứ 07 ngày 18/12/1980, đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 tổng kết, xác định những thành quả đấu tranh cách mạng trong nửa thế kỷ qua, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm bước phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời gian tới. Về chính sách xã hội, đặc biệt là BHXH, Điều 59 Hiến pháp năm 1980 quy định: “… Công nhân, viên chức khi về hưu, già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động được hưởng quyền lợi BHXH. Nhà nước mở rộng dần sự nghiệp BHXH theo trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân và bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền lợi đó. Nhà nước hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện từng bước chế độ BHXH đối với xã viên”.

Trong 05 năm (1976-1980), trên mặt trận kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: Khắc phục từng bước hậu quả nặng nề của chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra và của cuộc chiến tranh biên giới; khôi phục phần lớn cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá; củng cố kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể ở miền Bắc, bước đầu cải tạo và sắp xếp công thương nghiệp tư doanh ở miền Nam, đưa một bộ phận nông dân Nam Bộ, nông dân Nam Trung Bộ vào con đường làm ăn tập thể; bước đầu phân bổ lại lực lượng lao động xã hội; tăng cường một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách BHXH với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang tiếp tục được kiện toàn.

Ngay sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 18/06/1976, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10-NĐ/76 về việc thực hiện các chế độ mất sức lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân viên chức và quân nhân ở miền Nam. Về cơ bản, các chế độ này thống nhất với các quy định tại Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964. Như vậy, có thể nói, đến năm 1976, chính sách BHXH đã được thực hiện thống nhất trong toàn quốc, góp phần quan trọng giải quyết hậu quả của chiến tranh để lại trên lĩnh vực chính sách xã hội, ổn định cuộc sống cho cán bộ, công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới: đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhằm đảm bảo quyền lợi cho công nhân, viên chức nhà nước và quân nhân có thời gian hoạt động cách mạng, ngày 08/08/1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 198-CP sửa đổi, bổ sung một số điểm về chế độ hưu trí và nghỉ việc vì mất sức lao động đối với công nhân, viên chức nhà nước và quân nhân. Theo đó, công nhân, viên chức nhà nước hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đã có 25 năm công tác liên tục, bị ốm đau phải nghỉ việc và quân nhân có 15 năm công tác liên tục (trong đó có 10 năm hoạt động trong các lực lượng vũ trang nhân dân), nam 50 tuổi, nữ 45 tuổi vì ốm đau phải nghỉ việc, không còn ở trong quân đội, cũng được hưởng chế độ hưu trí. Công nhân, viên chức nhà nước khi nghỉ việc được hưởng trợ cấp hàng tháng vì mất sức lao động, nếu là thương binh, bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp đang hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc đã có 03 năm hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp hoặc có 15 năm công tác liên tục và khi nghỉ việc vì mất sức lao động, nam 50 tuổi, nữ 45 tuổi khi chết, thân nhân sẽ được hưởng chế độ trợ cấp tuất theo quy định hiện hành.

Ngày 20/11/1978, Hội đồng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 296-CP bổ sung và sửa đổi một số điểm về chế độ đối với cán bộ, công nhân, viên chức về hưu và nghỉ việc vì mất sức. Bổ sung quy định về trợ cấp ưu đãi hàng tháng ngoài lương hưu đối với cán bộ hoạt động cách mạng từ trước tháng 08/1945; bổ sung quy định về trợ cấp một lần khi nghỉ hưu đối với cán bộ, công nhân, viên chức về hưu có thời gian công tác liên tục đủ 25 năm trở lên; chế độ khám, chữa bệnh, điều dưỡng… đối với cán bộ, công nhân, viên chức về hưu hoặc nghỉ vì mất sức động có hưởng trợ cấp hàng tháng.

Nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, từng bước xóa bỏ bao cấp, bảo đảm tính thống nhất của chế độ tiền lương trong cả nước, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang, ngày 18/09/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 235-HĐBT về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang, bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyển sang chế độ trả lương bằng tiền do quỹ hàng hóa bảo đảm. Tiếp sau đó, ngày 18/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 236-HĐBT bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh xã hội. Theo quy định tại Nghị định này, nam công nhân viên chức đủ 60 tuổi (nếu là quân nhân thì đủ 55 tuổi) và có đủ 30 năm công tác; nữ công nhân, viên chức đủ 55 tuổi (nếu là quân nhân thì đủ 50 tuổi) và có đủ 25 năm công tác, thì được hưởng lương hưu. Mức lương hưu hàng tháng đối với nam có đủ 30 năm công tác, đối với nữ có đủ 25 năm công tác, được tính bằng 75% lương chính và phụ cấp thâm niên (nếu có); ngoài ra, mỗi năm công tác được thêm 1%, tối đa không quá 95% lương chính và phụ cấp thâm niên. Các quy định về điều kiện hưởng trợ cấp mất sức lao động cũng thay đổi, tùy theo thời gian công tác để nhận trợ cấp hằng tháng hoặc một lần, cụ thể: Công nhân, viên chức vì ốm đau (không phải do bệnh nghề nghiệp), vì tai nạn (không phải do tai nạn lao động) mà mất sức lao động từ 61% trở lên hoặc vì già yếu hết tuổi lao động được nghỉ việc thì hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động hàng tháng nếu có thời gian công tác đủ 15 năm trở lên. Nếu chưa có đủ 15 năm công tác thì được hưởng trợ cấp một lần, cứ mỗi năm công tác được trợ cấp 01 tháng lương và các khoản phụ cấp (nếu có). Các quy định về hưởng trợ cấp mất sức lao động cũng được quy định chặt chẽ hơn nhằm tránh tình trạng gian lận hưởng chế độ… Các chế độ quy định tại Nghị định này đã được áp dụng tính trên cơ sở nền lương tối thiểu ban hành kèm theo Nghị định số 235-HĐBT.

Thời kỳ này, Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của cơ quan, xí nghiệp với mức đóng bằng 13% so với quỹ lương. Trong đó, tách làm 02 khoản: 8% chi cho 03 chế độ mất sức lao động, hưu trí và tử tuất; 5% cho 03 chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ- BNN. Các mức đóng góp này thực tế không đủ để chi cho chế độ hưu trí, mất sức lao động, tử tuất, vì vậy, hàng năm ngân sách nhà nước đều phải cấp bù, năm sau cao hơn năm trước, đến năm 1993, mức bù vào Quỹ BHXH lên tới 92,7%.

Về hệ thống quản lý BHXH, giai đoạn này vẫn được chia thành 02 nhánh riêng biệt: Chế độ ngắn hạn (ốm đau, TNLĐ – BNN, trợ cấp thai sản) Chính phủ giao cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vừa có chức năng xây dựng các văn bản pháp luật, vừa có chức năng tổ chức thực hiện chính sách; chế độ dài hạn (hưu trí, mất sức lao động, tử tuất) do Bộ Lao động-Thương binh&Xã hội vừa xây dựng văn bản pháp luật, vừa tổ chức thực hiện. Như vậy, chính sách BHXH đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang trong giai đoạn sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và trước khi nước ta thực hiện đường lối đổi mới đã có nhiều tiến bộ. Một mặt, tiếp tục thể hiện sự ưu việt của hệ thống chính sách xã hội chủ nghĩa, giải quyết được những tồn tại trong thực hiện chính sách cho người lao động giữa hai miền Nam - Bắc; mặt khác, từng bước tiến tới công bằng giữa thời gian cống hiến - thụ hưởng, là bước khởi đầu quan trọng để tiến tới thực hiện xóa bỏ cơ chế bao cấp.

 

2. Thực hiện BHXH tại một số ngành kinh tế tập thể

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng nhưng kết quả sản xuất trong kế hoạch 05 năm lần thứ 01 (1976-1980) chưa tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra. Những mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng; thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội; thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định; đời sống của nhân dân lao động còn khó khăn. Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trên, ngay từ những năm đầu của kế hoạch 05 năm lần thứ 02 (1981-1985), nhiều Nghị quyết, quyết định quan trọng của Đảng và Chính phủ được ban hành nhằm từng bước sửa đổi cơ chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế tư nhân và xóa bỏ quan liêu bao cấp. Trước đó, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), bước đầu có cách nhìn mới về nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận miền Bắc tồn tại 03 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể và cá thể; miền Nam tồn tại 05 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân và cá thể. Đó là bước khởi đầu thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế thị trường. Những thay đổi về kinh tế-xã hội đã dẫn đến những đòi hỏi tất yếu phải thay đổi hệ thống chính sách xã hội phù hợp và đồng bộ.

Hiện thực hóa quy định tại Hiến pháp năm 1980: “… các hợp tác xã thực hiện từng bước chế độ BHXH đối với xã viên”, trong giai đoạn 1975-1985, tuy chưa có các văn bản hướng dẫn của Nhà nước về chính sách đối với lao động làm việc ở các thành phần kinh tế để tổ chức thực hiện thống nhất trong cả nước nhưng ở một số ngành, do thấy được nhu cầu cấp thiết về BHXH, đã chủ động tổ chức thực hiện các chế độ BHXH cho lao động làm việc tại ngành mình. Năm 1982, ngành Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp là ngành kinh tế tập thể đầu tiên có Điều lệ tạm thời về 06 chế độ BHXH. Tiếp đó, các ngành Thủy sản (ngày 19/09/1985), ngành Hợp tác xã mua bán (ngày 09/04/1986) cũng có quy định về chế độ BHXH đối với người lao động trong ngành mình. Trong các hợp tác xã nông nghiệp thực hiện Quyết định số 15/HĐBT ngày 14/12/1983 của Hội đồng Bộ trưởng, ở nhiều địa phương đã thực hiện một số chế độ BHXH đối với xã viên hợp tác xã ở mức độ khác nhau. Việc thực hiện BHXH trong các đơn vị kinh tế tập thể này, đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định đời sống cho xã viên hợp tác xã khi ốm đau, tai nạn lao động, mất sức lao động hoặc khi tuổi già; đồng thời, tạo được niềm tin, phấn khởi cho người lao động làm việc ở khu vực này. Tuy nhiên, do chưa có sự chỉ đạo sát sao, quản lý thống nhất của Nhà nước, các quy định, cơ chế, chính sách BHXH và cách thức tổ chức thực hiện còn rất khác nhau ở các ngành.

Thực hiện BHXH cho người lao động ở ngành Tiểu thủ công nghiệp

Ngành Tiểu thủ công nghiệp thực hiện BHXH cho xã viên theo 02 giai đoạn:

+ Từ năm 1975, thí điểm BHXH ở Thị xã Thanh Hóa và một số nơi thuộc các tỉnh khác, sau đó rút kinh nghiệm để triển khai diện rộng hơn.

+ Đến năm 1982, ban hành Điều lệ BHXH tạm thời quy định 06 chế độ BHXH cho toàn ngành, gồm chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Cụ thể, về đối tượng tham gia, tính đến ngày 30/06/1988, cả nước đã có 3.982 hợp tác xã với 360.483 xã viên tham gia BHXH. Ngoài ra, còn có gần 21.000 lao động làm việc trong các tổ hợp thuộc ngành này tham gia BHXH.

Quỹ BHXH của ngành Tiểu thủ công nghiệp được hình thành từ các nguồn như xã viên hợp tác xã đóng góp một lần ban đầu bằng 01 tháng tiền công; hợp tác xã trích hằng tháng 8% (sau nâng lên 15%) tổng quỹ tiền công để đóng góp vào quỹ. Trong đó, 6% (sau nâng lên 10%) dùng để chi 04 chế độ BHXH mà Liên hiệp xã tỉnh, thành phố quản lý, gồm hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động và mất sức lao động; 2% (sau nâng lên 5%), để lại lập quỹ để chi 02 chế độ mà cơ sở (hợp tác xã, các tổ hợp) quản lý là ốm đau, thai sản. Ngoài ra, quỹ còn có các nguồn thu khác như tiền lãi gửi ngân hàng, tiền ủng hộ của các tổ chức cho quỹ.

Về tổ chức quản lý thực hiện chế độ BHXH của ngành Tiểu thủ công nghiệp lúc bấy giờ được quy định như sau: Liên hiệp xã tỉnh, thành phố tổ chức quản lý 04 chế độ BHXH cho xã viên; các hợp tác xã tổ chức quản lý 02 chế độ. Đồng thời, Liên hiệp xã Trung ương có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo công tác này. Tính đến ngày 30/06/1988, cả nước có 15.000 người được hưởng các chế độ hưu trí và tuất hằng tháng, mức trợ cấp bình quân tương đương 10kg gạo/người/tháng. Có thể khẳng định, ngành Tiểu thủ công nghiệp là đơn vị kinh tế tập thể ngoài quốc doanh thực hiện BHXH sớm nhất. Trong quá trình thực hiện, đã thu được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, từ năm 1986, cùng với công cuộc đổi mới đất nước, việc đổi mới cơ chế quản lý khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện Điều lệ BHXH tạm thời của ngành đối với xã viên. Đặc biệt, khi giá cả biến động, Nhà nước bỏ cơ chế bao cấp về giá mua lương thực, tem phiếu... thì mức hưởng BHXH so với thị trường tự do quá thấp, không đảm bảo được đời sống cho người hưởng BHXH.

Thực hiện BHXH cho người lao động trong ngành Hợp tác xã nông nghiệp

Từ năm 1983, thực hiện Quyết định số 154/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, một số hợp tác xã thuộc các tỉnh Hà Tây, Hải Dương, Thái Bình… với mức độ khác nhau đã tổ chức thực hiện chế độ BHXH tuổi già cho xã viên. Do chưa có chủ trương thống nhất, việc hình thành quỹ, quy định mức thu, chi khác nhau ở các địa phương. Chế độ BHXH nông dân (quỹ hưu trí nông dân) chủ yếu được xây dựng ở vùng nông dân có thu nhập, đời sống khá; hoạt động của Hội Nông dân mạnh; quỹ hưu trí nông dân do Hội Nông dân đứng ra tổ chức trên cơ sở kết hợp sự trợ giúp của hợp tác xã, chính quyền địa phương... Điển hình cho mô hình này là các hợp tác xã nông nghiệp thuộc xã Vân Tảo, huyện Thường Tín và nhiều xã ở huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội).

Cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng quỹ hưu trí nông dân được quy định cụ thể như sau: Nguồn quỹ chủ yếu do nông dân tự nguyện tham gia xây dựng bằng cách nông dân trẻ đóng nhiều lần, còn nông dân già thì đóng ít lần hơn hoặc đóng một lần, nhưng tổng số thóc đóng góp của nông dân trẻ và nông dân già bằng nhau. Mức đóng góp của một xã viên trong toàn bộ quá trình tham gia lao động từ 80kg thóc (như ở huyện Tiên Sơn, Hà Bắc). Hợp tác xã hỗ trợ bằng cách giao diện tích đất sử dụng để nông dân, Hội Nông dân sử dụng. Sau khi thu hoạch, trừ chi phí, số dư được nhập vào Quỹ BHXH. Ngân sách xã trích sang ủng hộ quỹ hưu trí nông dân 01%/năm (mỗi xã trích 04 - 05 triệu/năm cho quỹ). Ngoài ra, còn có tiền lãi gửi tiết kiệm cũng được cộng vào quỹ. Quỹ được sử dụng để chi trả cho người đóng đủ số theo quy định và đủ tuổi (60 tuổi cho cả nam, nữ). Mức hưởng lương hưu dao động từ 10.000 - 18.000 đồng/tháng. Quỹ do Hội Nông dân Việt Nam quản lý, dựa vào bộ máy có sẵn, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, các chi hội nông dân (mỗi chi hội có 30 - 50 chủ hộ gia đình, mỗi hộ có từ 03 - 05 người).

Từ kết quả thực hiện BHXH cho người lao động của ngành Tiểu thủ công nghiệp và Hợp tác xã nông nghiệp có thể thấy, việc thực hiện chính sách BHXH đối với người lao động trong khu vực kinh tế tập thể nói riêng và người lao động thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung đã trở thành một đòi hỏi khách quan. Bởi chính sách BHXH không chỉ đảm bảo đời sống của người lao động khi gặp rủi ro, mà còn tạo thêm động lực phát triển sản xuất, thiết lập sự công bằng về quyền lợi - nghĩa vụ của họ đối với các chính sách kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thời gian này, do chưa có sự chỉ đạo thống nhất của Nhà nước nên việc thực hiện chế độ BHXH cho nông dân, người lao động còn một số vấn đề tồn tại, đó là:

Thứ nhất, do Nhà nước chưa xây dựng và ban hành chính sách BHXH riêng cho lao động ngoài quốc doanh nên phần lớn các ngành, các địa phương đều dựa theo chính sách BHXH bắt buộc cho công chức, viên chức để quy định chế độ BHXH cho những đối tượng này, dẫn đến không phù hợp với đặc điểm lao động, tiền lương, thu nhập và quan hệ lao động trong các đơn vị kinh tế tập thể.

Thứ hai, do chưa có sự chỉ đạo, quản lý nhà nước thống nhất, nên việc quy định mức đóng góp và quản lý Quỹ BHXH chưa phù hợp. Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn đóng góp với mức thấp nên ở nhiều địa phương đã không đảm bảo cân đối thu-chi.

Thứ ba, các chế độ BHXH cho nông dân, người lao động làm việc trong các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp ra đời từ năm 1982, trong cơ chế bao cấp, được Nhà nước bao cấp lương thực và cung cấp một số mặt hàng thiết yếu nên trợ cấp BHXH tạm đủ cho cuộc sống. Nhưng đến giai đoạn sau này, đặc biệt là từ năm 1986, do chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, hạch toán kinh doanh, các mặt hàng bao cấp không còn nữa, giá cả biến động, mức trợ cấp thực tế giảm trong khi đó Nhà nước không có chính sách đảm bảo về tài chính cho Quỹ BHXH của các ngành này.

Thứ tư, việc phân cấp quản lý và tổ chức bộ máy thực hiện các chế độ BHXH cho người lao động ở khu vực này chưa thống nhất, mỗi địa phương áp dụng cách thực hiện khác nhau, làm cho người lao động chưa thật sự an tâm, tin tưởng ở chủ trương mới này. Vì vậy, cho đến năm 1986, theo báo cáo của Hội đồng Liên minh các Hợp tác xã và Hội Nông dân Việt Nam, cả nước mới chỉ có khoảng 10 vạn người lao động trong các Hợp tác xã và nông dân tham gia BHXH, trong khi lực lượng lao động thuộc khu vực này trong cả nước có tới gần 30 triệu người.

Từ thực trạng tình hình thực hiện chế độ BHXH giai đoạn 1975-1985, đặc biệt là việc thực hiện BHXH cho nông dân và xã viên các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, cho thấy nhu cầu được tham gia BHXH của lực lượng lao động này. Đó là nhu cầu chính đáng, phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta. Do đó, triển khai xây dựng, ban hành và quản lý thống nhất chính sách BHXH cho lao động ngoài quốc doanh là nhiệm vụ cấp bách, góp phần tạo điều kiện cho kinh tế nhiều thành phần phát triển, tạo đà cho công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước.

 

3. Cải cách chính sách BHXH phù hợp với đường lối đổi mới kinh tế - xã hội của Đảng

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khóa V (tháng 06/1986) đã đánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền (tháng 09/1985) và khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Tháng 12/1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra vấn đề xác lập một cơ cấu kinh tế phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Mục tiêu đổi mới cơ cấu kinh tế nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, tiến tới hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, đáp ứng nhu cầu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm vững chắc nền an ninh quốc phòng, sử dụng và phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước vào mục tiêu phát triển.  Trong đường lối đổi mới kinh tế được Đảng đề xướng tại Đại hội VI, vấn đề đổi mới bố trí cơ cấu kinh tế (cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế) được đặt trong tổng thể đường lối đổi mới toàn diện và đồng bộ về kinh tế - xã hội, với những hình thức, biện pháp, bước đi tuần tự phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội đất nước trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ. Các doanh nghiệp của Nhà nước từng bước chuyển sang tự hạch toán kinh doanh, không còn sự bao cấp của Nhà nước. Những tư duy mới về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và tự hạch toán đòi hỏi cần có những thay đổi trong nhận thức về hệ thống chính sách xã hội, đặc biệt là các chính sách BHXH, BHYT cũng cần được xem xét lại trên nguyên tắc đóng-hưởng, từng bước xóa bỏ bao cấp nhằm giảm gánh nặng tài chính cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sự công bằng xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn này, Bộ Chính trị đã yêu cầu các bộ, ngành chức năng xem xét thí điểm tổ chức thực hiện BHXH cho người lao động tại khu vực ngoài quốc doanh, làm cơ sở tiến tới xây dựng một Điều lệ BHXH thống nhất cho toàn thể công chức, viên chức, người lao động. Từ đây cũng đi đến xây dựng mô hình tổ chức BHXH và hạch toán Quỹ BHXH độc lập, là tiền đề cho sự ra đời của BHXH Việt Nam sau này.

Thực hiện Nghị quyết số 16/NQ-TW ngày 15/07/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, ngày 18/08/1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Chỉ thị số 234/CT triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị nêu rõ: “Bộ Lao động-Thương binh&Xã hội, Bộ Tài chính, có sự tham gia của Tổng Công đoàn Việt Nam, Liên hiệp xã Trung ương xây dựng đề án về tổ chức dịch vụ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trình Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng trước cuối năm 1988”. Tiếp đó, ngày 24/09/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 146/HĐBT bổ sung, sửa đổi Nghị định số 27-HĐBT và Nghị định số 28-HĐBT ngày 09/03/1988. Trong nội dung sửa đổi về chính sách đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, có quy định: “Người lao động thuộc tất cả các thành phần kinh tế đều được hưởng các phúc lợi công cộng của toàn dân. Bộ Lao động-Thương binh&Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng Công đoàn Việt Nam nghiên cứu trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định chính sách BHXH và tổ chức để quản lý việc BHXH đối với công nhân, nhân viên làm việc trong các đơn vị kinh tế này”.

Sau khi tổ chức lấy ý kiến một số ngành, địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã xây dựng trình Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng Điều lệ Dự thảo về BHXH đối với lao động làm việc ở các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và báo cáo trước Thường trực Hội đồng Bộ trưởng ngày 27/11/1989. 

Ngay sau đó, ngày 29/11/1989, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng đã có Công văn số 2251/PPLT thông báo ý kiến của Thường trực Hội đồng Bộ trưởng như sau:

“Bộ Lao động-Thương binh &Xã hội cần tiến hành nghiên cứu toàn diện về chủ trương, nội dung chính sách BHXH đối với viên chức nhà nước, công nhân trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và những người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, để trình Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng vào cuối Quý I năm 1990.

Giao Bộ Lao động - Thương binh&Xã hội tổ chức làm thí điểm ở 05 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thái Bình, Hoàng Liên Sơn (nay là Lào Cai và Yên Bái-Tg), theo nội dung bản điều lệ dự thảo về BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã trình Thường trực Hội đồng Bộ trưởng”.

Về đối tượng thi hành Điều lệ là mọi người lao động làm việc trong các tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Đặc biệt, tại Điều lệ này còn đưa ra quy định: “Công dân Việt Nam, người Việt Nam sống ở nước ngoài hoặc người nước ngoài sống ở Việt Nam có nhu cầu đều có thể tham gia chế độ bảo hiểm tuổi già cho bản thân hoặc thân nhân”.

Các chế độ BHXH áp dụng cho người lao động ngoài quốc doanh được quy định tại Điều lệ dự thảo gồm có 05 chế độ:

1. Chế độ ốm đau: bao gồm trợ cấp cho người lao động khi bản thân họ bị ốm đau hoặc lao động nữ có con dưới 36 tháng tuổi bị ốm, người mẹ phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm. Mức trợ cấp ốm đau không dưới 70% tiền công cấp bậc hoặc tiền công hợp đồng. Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau với trường hợp bản thân người lao động ốm trong 01 năm được quy định tối thiểu bằng 15 ngày/năm với người lao động có thời gian làm việc dưới 05 năm; 20 ngày với người lao động có thời gian làm việc từ 05 đến 15 năm và là 25 ngày/năm với người lao động có thời gian làm việc trên 15 năm. Thời gian nghỉ việc chăm con ốm được hưởng trợ cấp BHXH tối thiểu là 10 ngày/năm với mỗi con, chỉ áp dụng đối với con thứ nhất và con thứ hai.

2. Chế độ trợ cấp sinh đẻ: được áp dụng với lao động nữ mang thai đi khám thai, sảy thai hoặc áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình. Đối với lao động nữ sinh con phải có thời gian làm việc từ 02 năm trở lên mới được hưởng chế độ. Thời gian hưởng chế độ đi khám thai, sảy thai, nạo thai, đặt vòng… được tính theo quy định của Ngành Y tế. Thời gian nghỉ hưởng chế độ khi sinh con tối thiểu bằng 90 ngày và cộng thêm 15 ngày cho mỗi con trong trường hợp sinh đôi, sinh ba. Trợ cấp sinh con chỉ áp dụng với con thứ nhất, thứ hai và trường hợp sinh con thứ nhất, thứ hai mà sinh đôi, sinh ba… Mức hưởng trợ cấp thai sản bằng 100% tiền công cấp bậc hoặc tiền công hợp đồng.

3. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tổ chức và cá nhân sử dụng lao động có trách nhiệm tạo mọi điều kiện nhanh chóng đưa người bị nạn đến bệnh viện gần nhất để cấp cứu và điều trị cho đến khi hồi phục sức khỏe. Mọi chi phí trong thời gian người lao động điều trị như tiền tàu xe đi và về, viện phí và trợ cấp BHXH bằng 100% tiền công cấp bậc hoặc tiền công hợp đồng… do Quỹ BHXH của đơn vị sử dụng lao động chi.

Sau khi điều trị phục hồi sức khỏe, trên cơ sở biên bản điều tra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp của cấp có thẩm quyền và biên bản kết luận của Hội đồng giám định y khoa, người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp mất sức lao động một lần như sau:

+ Với tỷ lệ mất sức lao động từ 21% đến 40%, được hưởng 03 tháng tiền công nếu đã làm việc dưới 05 năm; 04 tháng tiền công nếu đã làm việc từ 05 đến 15 năm; 05 tháng nếu đã làm việc trên 15 năm.    

+ Với tỷ lệ mất sức lao động từ 41% đến 60%, được hưởng 05 tháng tiền công nếu đã làm việc dưới 05 năm; 06 tháng tiền công nếu đã làm việc từ 05 đến 15 năm; 07 tháng nếu đã làm việc trên 15 năm. 

+ Với tỷ lệ mất sức lao động từ 61% đến 80%, được hưởng 07 tháng tiền công nếu đã làm việc dưới 05 năm; 08 tháng tiền công nếu đã làm việc từ 05 đến 15 năm; 09 tháng nếu đã làm việc trên 15 năm. 

+ Với tỷ lệ mất sức lao động từ 81% đến 100%, được hưởng 10 tháng tiền công nếu đã làm việc dưới 05 năm; 11 tháng tiền công nếu đã làm việc từ 05 đến 15 năm; 12 tháng nếu đã làm việc trên 15 năm. 

Tỷ lệ mất sức lao động từ 5% đến 20% không kể thời gian làm việc nhiều hay ít, người bị TNLĐ hoặc BNN được trợ cấp MSLĐ một lần bằng 02 tháng tiền công.

Nếu bị chết vì TNLĐ hoặc BNN, thân nhân người lao động hoặc người thừa kế hợp pháp được nhận trợ cấp 01 lần bằng 15 tháng tiền công của người bị chết.

4. Chế độ bảo hiểm tuổi già (BHTG): Người lao động đủ 60 tuổi (cả nam và nữ) có từ đủ 15 năm trở lên đóng tiền vào Quỹ BHXH tuổi già được hưởng tiền BHTG cho đến khi chết. Những người có thời gian đóng tiền vào Quỹ BHTG từ 20 năm trở lên ngoài mức tiền lương hằng tháng còn được nhận một khoản tiền bảo hiểm lần đầu khi đủ 60 tuổi.

Mức tiền đóng góp vào Quỹ BHTG mức tiền hưởng hằng tháng và mức tiền hưởng lần đầu lấy gạo đảm bảo. Những người đóng phí BHTG theo mức tiền bằng 03kg gạo/tháng thì mức hưởng BHTG một lần tương ứng bằng 36kg nếu có thời gian đóng 01 năm, 72kg nếu có thời gian đóng 02 năm, 108kg nếu có thời gian đóng 03 năm… và nếu có thời gian đóng 14 năm thì mức hưởng là 1.590kg. Những người đóng phí BHTG theo mức tiền bằng 06kg gạo/tháng thì mức hưởng BHTG một lần tương ứng bằng 72kg gạo nếu có thời gian đóng 01 năm, 144kg nếu có thời gian đóng 02 năm, 216kg nếu có thời gian đóng 03 năm… và 3.180kg nếu có thời gian đóng góp 14 năm.

Người đóng phí BHTG theo mức 03kg gạo/tháng khi đủ 60 tuổi và có 15 năm đóng phí được hưởng mức lương hưu hằng tháng là 12kg gạo/tháng; 16năm: 13kg gạo/tháng; 17 năm: 16kg gạo/tháng; 18 năm: 19kg gạo/tháng; 19 năm: 23kg gạo/tháng. Có 20 năm tham gia, ngoài mức lương hưu hằng tháng bằng 26kg gạo/tháng còn được nhận tiền bảo hiểm lần đầu khi đủ 60 tuổi bằng 240kg gạo…

Người đóng phí BHTG theo mức 06kg gạo/tháng khi đủ 60 tuổi và có 15 năm đóng phí được hưởng mức lương hưu hằng tháng là 24kg gạo/tháng; 16 năm: 26kg gạo/tháng; 17 năm: 32kg gạo/tháng; 18 năm: 38kg gạo/tháng; 19 năm: 46kg gạo/tháng. Có 20 năm tham gia, ngoài mức lương hưu hằng tháng bằng 52kg gạo/tháng còn được nhận tiền bảo hiểm lần đầu khi đủ 60 tuổi bằng 480kg gạo…

Những người chưa đủ 60 tuổi nhưng vì bị mất sức lao động từ 81% trở lên không đủ khả năng đóng tiền vào Quỹ BHTG; ra nước ngoài cư trú hợp pháp hoặc bị chết thì được hoàn trả cho bản thân hoặc người thừa kế hợp pháp toàn bộ số tiền đã đóng góp cộng với phần sinh lợi. Ngoài những trường hợp trên nếu người lao động yêu cầu hoàn trả lại số tiền đã đóng góp vào Quỹ BHTG thì chỉ được thanh toán phần đã đóng góp.

5. Chế độ trợ cấp khi chết: Người lao động trong thời gian làm việc vì ốm đau, tai nạn lao động mà chết thì được hưởng chế độ mai táng phí và do Quỹ BHXH của đơn vị sử dụng lao động chi. Người đang hưởng chế độ BHTG hằng tháng bị chết thì chế độ mai táng phí do Quỹ BHTG chi.

Về tổ chức thực hiện BHXH ngoài quốc doanh: Điều lệ BHXH quy định, ở cấp tỉnh, thành phố, cơ quan này được gọi là Công ty Bảo hiểm xã hội, có nhiệm vụ tổ chức và quản lý chế độ BHTG, thuộc Ngành Lao động-Thương binh và Xã hội quản lý. Công ty Bảo hiểm xã hội là một đơn vị sự nghiệp, có thu, chi, hạch toán độc lập và tự cân đối thu, chi. 

Trên cơ sở Điều lệ Dự thảo này, các địa phương tiếp tục cụ thể hoá thành Điều lệ BHXH tạm thời áp dụng cho người lao động thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn địa phương mình. TP.Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh là hai địa phương đi đầu trong tổ chức thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh. Tiếp theo đó là TP. Hải Phòng, tỉnh Thái Bình và tỉnh Hoàng Liên Sơn. Trong 02 năm 1990-1991, 05 địa phương tổ chức thí điểm BHXH được sự hướng dẫn của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, trực tiếp là bộ phận nghiệp vụ BHXH nằm trong Vụ Bảo trợ Xã hội. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cử đồng chí Nguyễn Thị Hằng, Thứ trưởng trực tiếp chỉ đạo việc triển khai thí điểm BHXH ngoài quốc doanh của 05 tỉnh, thành phố. Giúp việc cho lãnh đạo Bộ là đồng chí Nguyễn Huy Ban, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo trợ Xã hội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Công tác BHXH tại từng địa phương lại chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng và chính quyền các tỉnh, thành phố. Vì vậy, trong quá trình triển khai thí điểm BHXH ngoài quốc doanh, mỗi địa phương lại có những nội dung, hình thức, biện pháp thích hợp với tình hình thực tế của địa phương mình. Tuy kết quả ở từng địa phương có khác nhau nhưng đều là cơ sở thực tiễn để xây dựng mô hình hợp nhất BHXH trong và ngoài quốc doanh sau này.

 

4. Thủ đô Hà Nội đi đầu trong sự nghiệp đổi mới BHXH

Là Trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của cả nước, TP.Hà Nội là một trong những địa phương đầu tiên được chỉ định thí điểm BHXH cho lao động ngoài quốc doanh - bước khởi đầu quan trọng cho sự nghiệp đổi mới toàn diện về BHXH.

Năm 1990, dưới sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND TP.Hà Nội, bản dự thảo Điều lệ BHXH đối với lao động ngoài quốc doanh trên địa bàn TP.Hà Nội được hoàn thành. Ngày 09/01/1990, UBND TP.Hà Nội ký Quyết định số 79-QĐ/UB về việc thành lập Công ty Bảo hiểm xã hội (trích nguyên văn trong Quyết định số 79-QĐ/UB-Tg) đối với lao động ngoài quốc doanh, trụ sở tạm thời đặt tại địa chỉ 22 Lý Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm với biên chế ban đầu chỉ có 07 người. Đồng chí Chu Văn Tùy, Chánh Văn phòng Ban Kinh tế II TP.Hà Nội được bổ nhiệm giữ chức vụ Giám đốc Công ty BHXH ngoài quốc doanh (sau này là Giám đốc BHXH TP.Hà Nội, năm 2002 đã nghỉ hưu). Việc triển khai thí điểm BHXH ngoài quốc doanh là việc làm hết sức mới mẻ nên trước mắt, Hà Nội chỉ thực hiện BHXH đối với lao động trong các doanh nghiệp tư nhân, chưa mở rộng đối với lao động làm việc trong các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp. Lãnh đạo Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội và Thường trực Thành ủy, UBND TP.Hà Nội đặt ra yêu cầu, kết quả thí điểm của Hà Nội không chỉ đơn thuần hướng tới việc triển khai một chủ trương, chính sách mới mà phải khái quát được kết quả thực tiễn, từ đó rút ra được bài học về đổi mới chính sách BHXH, nghiên cứu xác lập mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động BHXH phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần, để từ đó có thể triển khai rộng khắp trong cả nước.

Vào thời điểm này, lao động trong khu vực tiểu thủ công nghiệp Hà Nội đang thiếu việc làm, các chế độ BHXH được áp dụng đối với xã viên từ năm 1983 đến năm 1989 đã không còn nguồn thu để duy trì việc chi trả BHXH theo quy định của Ngành tiểu thủ công nghiệp. Đến năm 1990, BHXH khu vực tiểu thủ công nghiệp Hà Nội gần như không hoạt động. Trong một số hợp tác xã nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội đang có phong trào xây dựng quỹ trợ giúp người già. Doanh nghiệp tư nhân mới phát triển, số lượng doanh nghiệp chưa nhiều, số lao động ít, sản xuất kinh doanh nhỏ. Để phát triển đối tượng tham gia BHXH, Ban lãnh đạo BHXH TP.Hà Nội đã khẩn trương xây dựng chương trình hoạt động và kế hoạch thực hiện theo trình tự, từ chuẩn bị tài liệu, nội dung tuyên truyền đến người lao động và các chủ doanh nghiệp. Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nguồn kinh phí được UBND thành phố cấp chỉ đủ trả lương cho số biên chế được giao và chi phí cho hoạt động văn phòng, trong khi cơ sở vật chất, các trang thiết bị phục vụ công tác hầu như chưa có gì, Giám đốc Chu Văn Tùy và các cộng sự đã thông qua mạng lưới cán bộ chi trả các chế độ BHXH của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội để triển khai chính sách BHXH xuống cơ sở. Đặc biệt, sự ủng hộ hết sức tích cực của các cơ quan truyền thông đại chúng đối với một chính sách mới trong giai đoạn này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nội dung truyền thông về BHXH đối với lao động ngoài quốc doanh đã được Đài Phát thanh-Truyền hình và các báo đăng tải với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, gây được tiếng vang trong dư luận xã hội, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và sự hiểu biết của người lao động về chính sách. Ngay từ những ngày đầu triển khai, đã có hàng trăm lao động đến đăng ký tham gia BHXH với mức đóng lấy giá gạo làm chuẩn, từ 04 đến 10kg/tháng/người.

Cùng với nhiệm vụ thí điểm thực hiện BHXH trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thời gian này, UBND TP.Hà Nội còn giao cho Công ty Bảo hiểm xã hội nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoa học “Đổi mới sự nghiệp BHXH trên địa bàn TP.Hà Nội”, Giám đốc Chu Văn Tùy được giao làm Chủ nhiệm Đề tài theo Quyết định số 671-QĐ/KHKT ngày 18/04/1991 của UBND TP.Hà Nội.

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra, phân tích trên 15.000 người lao động thuộc 15 cơ quan, đơn vị hành chính-sự nghiệp và sản xuất kinh doanh thuộc Trung ương và địa phương đóng trên địa bàn thành phố; cùng với đó, nghiên cứu, phân tích 130.000 hồ sơ của các đối tượng đang thụ hưởng các chế độ BHXH hằng tháng (hưu trí, mất sức lao động) và tổng hợp, phân tích các số liệu, tài liệu khác có liên quan từ các nguồn tài liệu của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Hà Nội, Cục Thống kê Hà Nội và từ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Qua nghiên cứu, đề tài đã đưa ra những kết luận và kiến nghị chủ yếu sau:

- Thứ nhất, các chính sách, chế độ BHXH đang thực hiện tại thời điểm nghiên cứu đã không còn phù hợp, ngày càng bộc lộ rõ những nhược điểm, gây ra khó khăn, ách tắc trong công tác quản lý và sử dụng lao động, đặc biệt không đáp ứng được yêu cầu của cơ chế kinh tế nhiều thành phần và không đảm bảo được quyền lợi của người lao động khi sức lao động trong cơ chế thị trường đã trở thành hàng hóa và sẽ có sự chuyển dịch không ngừng trong thị trường. Vì vậy, đổi mới hoạt động BHXH là một đòi hỏi tất yếu khách quan, trước hết cần ban hành ngay các văn bản mang tính pháp định cao với nội dung thống nhất cả về tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động cũng như nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi hưởng BHXH.

Quán triệt nguyên tắc bình đẳng đối với mọi người tham gia đóng BHXH, không có sự phân biệt theo khu vực và thành phần kinh tế - giữa trong và ngoài quốc doanh, tức là không thể có BHXH trong quốc doanh khác BHXH ngoài quốc doanh. Sự bình đẳng này phải được quy định và bảo đảm bởi chế tài trong các văn bản pháp quy về BHXH, bảo đảm sự công bằng giữa mức đóng góp và quyền hưởng thụ BHXH. Theo đó, người lao động được hưởng chi trả BHXH trên cơ sở mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH.

- Thứ hai, để bảo đảm công bằng trong quan hệ về BHXH, bộ máy tổ chức BHXH phải được tổ chức và hoạt động tập trung, độc lập và thống nhất trong phạm vi toàn quốc. BHXH phải đổi mới về tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, hình thành Quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước, cần có sự tách bạch giữa chế độ BHXH với các chế độ ưu đãi xã hội khác.

Từ những kết quả nghiên cứu của Đề tài, đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao. Sau đó được Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xem xét đồng ý cho Hà Nội được ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động thực tiễn, xác lập mô hình tổ chức BHXH mới thực hiện chế độ BHXH chung cho người lao động cả khu vực trong và ngoài quốc doanh.

Ngày 31/10/1992, UBND TP.Hà Nội ký Quyết định số 2654-QĐ/UB thành lập BHXH TP.Hà Nội trên cơ sở hợp nhất Công ty Bảo hiểm xã hội ngoài quốc doanh với bộ máy sự nghiệp BHXH trong khu vực nhà nước từ Sở Lao động-Thương binh và Xã hội chuyển sang. Như vậy, tại Hà Nội, chỉ sau chưa đầy 03 năm triển khai thí điểm BHXH ngoài quốc doanh, sự nghiệp BHXH đã được tập trung vào một đầu mối, một tổ chức thống nhất. Đây có thể nói là bước đột phá về mặt tổ chức, bước đầu làm thay đổi nhận thức của nhiều người về BHXH đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tạo điều kiện để BHXH TP.Hà Nội tiếp tục nghiên cứu những nội dung tiếp theo mang tính nghiệp vụ BHXH, từng bước hoàn thiện cơ chế vận hành của tổ chức BHXH thống nhất. Với biên chế tăng lên 45 người, trụ sở 22 Lý Thái Tổ không đáp ứng được yêu cầu công việc, tháng 11/1992, BHXH TP.Hà Nội chuyển trụ sở làm việc về số 72 Triệu Việt Vương, Quận Hai Bà Trưng.

Nhằm khắc phục những bất cập của việc thực hiện chính sách BHXH trong thời kỳ kinh tế bao cấp, từng bước xác lập cơ chế quản lý BHXH không chỉ theo đơn vị mà quản lý đến từng người lao động tham gia BHXH làm cơ sở giải quyết chế độ khi có phát sinh, ngày 26/05/1992, UBND TP.Hà Nội đã có Quyết định số 1163-QĐ/KHKT về việc giao BHXH TP.Hà Nội thực hiện đề tài khoa học “Nghiên cứu ứng dụng thí điểm cấp sổ BHXH cho người lao động”. Đây là bước đi tiếp nối để nghiên cứu xây dựng một cơ chế quản lý thích hợp theo mô hình tổ chức BHXH tập trung thống nhất.

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành khảo sát phân tích nhu cầu và quy mô của đối tượng tham gia BHXH trong năm 1992 và dự báo biến động của số đối tượng này trong các năm tiếp theo. Đề tài còn tập trung phân tích tính chất và các quan hệ nghiệp vụ, xây dựng quy trình quản lý thu BHXH và những thay đổi có liên quan đến chỉ tiêu thu, chi về BHXH, mục tiêu và quan hệ trong quản lý người lao động tham gia đóng BHXH, kết quả nghiên cứu đề tài đã đưa ra được một hệ thống mẫu biểu, mẫu sổ theo dõi quá trình đóng BHXH của đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Về hệ thống mẫu biểu quản lý bao gồm Phiếu đăng ký tham gia đóng BHXH của đơn vị; Tờ khai đăng ký đóng BHXH của người lao động; Biểu theo dõi đóng BHXH của cá nhân; Biểu theo dõi kết quả đóng BHXH của đơn vị. Về mẫu sổ BHXH gồm 04 trang, 01 tờ gấp với thiết kế gọn nhẹ, dễ bảo quản, theo dõi và có thể ghi chép liên tục trong 40 năm (khoảng thời gian của người có thời gian tham gia BHXH dài nhất có thể). Trong sổ BHXH thể hiện đầy đủ các thông tin phục vụ quản lý về mức đóng, thời gian đóng BHXH của từng người lao động với thời gian liên tục dài nhất khoảng 40 năm.

Kết quả nghiên cứu cũng đã xây dựng được quy trình theo dõi quản lý việc đóng BHXH của đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trong đó có theo dõi từ khi người lao động đăng ký tham gia đóng BHXH, quá trình đóng và di chuyển nơi đóng BHXH (nếu có) đến khi kết thúc quá trình đóng BHXH và chuyển sang làm thủ tục hưởng BHXH. Mô hình quản lý ba bên được đưa ra, đó là: người lao động - chủ sử dụng lao động và cơ quan BHXH. Với giá trị ứng dụng cao, bám sát thực tiễn nghiệp vụ BHXH, đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.

Ngay sau khi được nghiệm thu, Đề tài đã được triển khai áp dụng vào thực tế quản lý đóng BHXH trong khu vực liên doanh với nước ngoài, được chủ sử dụng lao động và người lao động hưởng ứng. Đến hết năm 1992, sổ BHXH cá nhân cùng các biểu mẫu theo dõi, quản lý đã được in, phát hành và sử dụng trong phạm vi toàn TP.Hà Nội. Trên 2.000 cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp tham gia BHXH với trên 300.000 lao động được đưa vào hệ thống quản lý của BHXH TP.Hà Nội. Đây thực sự là một thành công rất lớn trong việc đổi mới cơ chế quản lý BHXH.

Hợp nhất BHXH trong và ngoài quốc doanh, quản lý đến từng đơn vị và người lao động tham gia BHXH, với trên 2.000 đơn vị và khoảng 300.000 người lao động tham gia BHXH, khối lượng công việc của BHXH TP.Hà Nội ngày càng trở nên quá tải khi số biên chế không tăng. Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý BHXH là yêu cầu cấp thiết. Ngày 12/03/1993, UBND TP.Hà Nội ban hành Quyết định số 1035/QĐ-UB giao BHXH TP.Hà Nội thực hiện đề tài khoa học “Ứng dụng máy vi tính vào quản lý hoạt động nghiệp vụ BHXH”. Với việc thực hiện đề tài này, BHXH thành phố đã đạt được một số mục tiêu: Hoàn thiện hệ thống sổ sách, tài liệu, biểu mẫu theo dõi làm cơ sở ban đầu để đưa thông tin vào quản lý bằng máy vi tính; Xây dựng được một chương trình phần mềm trên máy vi tính để quản lý các hoạt động về BHXH, chương trình này đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, logic và phù hợp với yêu cầu quản lý đóng và chi trả BHXH; Tổ chức tập huấn nghiệp vụ quản lý và sử dụng máy vi tính cho một số cán bộ, nhân viên trong cơ quan BHXH TP. Tại cơ quan BHXH thành phố đã lắp dặt 06 máy vi tính, 03 máy in, 02 máy photocopy. Đội ngũ nhân viên sử dụng máy vi tính cơ bản đã vận hành tốt chương trình quản lý, nhờ đó công tác quản lý và hoạt động nghiệp vụ về BHXH đã đạt hiệu quả cao thể hiện qua khối lượng thông tin lưu trữ phục vụ quản lý, khả năng cung cấp thông tin nhanh và chính xác.

Như vậy, chỉ trong gần 04 năm thực hiện thí điểm (1990-1993), 03 đề tài khoa học của BHXH TP.Hà Nội chủ trì nghiên cứu và ứng dụng thành công đã góp phần khẳng định, đổi mới cơ chế chính sách và mô hình tổ chức hoạt động BHXH là yêu cầu tất yếu, phù hợp với việc đổi mới cơ chế kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thành công của BHXH TP.Hà Nội với những kết quả nghiên cứu khoa học là thực tiễn quan trọng đóng góp cho việc xem xét thành lập BHXH Việt Nam sau này. Với những đóng góp xuất sắc, năm 1996, BHXH TP.Hà Nội đã được UBND thành phố tặng thưởng Giải thưởng Thăng Long cho công trình “Đổi mới sự nghiệp BHXH Hà Nội giai đoạn 1991-1995” được đánh dấu bằng 03 đề tài nghiên cứu khoa học nêu trên.

 

5. Thí điểm BHXH ngoài quốc doanh ở TP.Hồ Chí Minh

Cùng với Thủ đô Hà Nội và một số địa phương khác trong cả nước, đầu năm 1990, theo chỉ đạo của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ngày 12/01/1990, UBND TP.Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 28/QĐ-UB về việc thành lập Công ty BHXH TP.Hồ Chí Minh (trích nguyên văn từ Quyết định số 28/QĐ-UB-Tg) để thực hiện thí điểm chế độ BHXH (gồm 02 chế độ hưu trí và tử tuất) cho người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Đồng chí Trịnh Thu Nga, Trưởng phòng Tài chính Kế toán, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội được điều động sang làm Giám đốc Công ty BHXH. Đồng chí Cao Văn Sang, Phó trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp được điều động sang làm Phó Giám đốc (hiện nay là Giám đốc BHXH TP.Hồ Chí Minh).

Việc hình thành Công ty BHXH để thí điểm thực hiện một chính sách mới, hướng đến một đối tượng mới trong thời điểm đó đã đặt ra nhiều khó khăn, trở ngại. Trước hết, đây là một nhiệm vụ quá mới mẻ, chưa có kinh nghiệm, chưa có những hoạt động tương tự để học hỏi, kế thừa. Quy trình nghiệp vụ, hệ thống biểu mẫu, cách quản lý, phương thức vận động triển khai… đều phải tự mày mò, vừa làm vừa rút kinh nghiệm và hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động. Người lao động cũng chưa tin tưởng vào hiệu quả thực hiện chính sách. Trong sâu thẳm tiềm thức của họ, chỉ có công nhân viên chức nhà nước mới được hưởng chế độ hưu trí. Bên cạnh đó, việc triển khai thí điểm BHXH cho người lao động ở khu vực ngoài quốc doanh diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn TP.HCM lúc bấy giờ có nhiều biến động phức tạp: tình hình phá sản của một số quỹ tín dụng trước đó; nền kinh tế sau thời kỳ bao cấp đầy rẫy khó khăn, tốc độ lạm phát tăng cao. Cùng với đó là việc Quỹ BHXH của người lao động thuộc Liên hiệp Hợp tác xã Tiểu thủ công nghiệp và Hợp tác xã mua bán ở thành phố phải ngừng hoạt động sau gần 07 năm hoạt động càng gây thêm sự thiếu tin tưởng trong công luận và người lao động. Chủ sử dụng lao động ngoài quốc doanh cũng không ủng hộ việc thực hiện chính sách mới bởi lo ngại phải giảm lợi nhuận, tăng chi phí nộp BHXH cho người lao động. Chính sách thí điểm, điều lệ do chính quyền địa phương ban hành nên tính pháp lý không cao. Các vi phạm không thể xử lý. Nhiều chủ doanh nghiệp có ý kiến thực hiện thí điểm BHXH là bất bình đẳng cho doanh nghiệp trên địa bàn thành phố so với doanh nghiệp ở các tỉnh lân cận để né tránh thực hiện. Mặt khác, các cơ chế tài chính lúc bấy giờ cũng chưa cho phép đầu tư để bảo toàn, tăng trưởng và cân đối quỹ. Yêu cầu quản lý hết sức chặt chẽ, nhiều nghiệp vụ phát sinh để quản lý quá trình nộp BHXH của từng người lao động trong khi trang thiết bị hết sức thiếu thốn; cơ sở vật chất ban đầu hầu như chẳng có gì ngoài mấy bộ bàn ghế cũ. Những khó khăn, trở ngại ấy thực sự là thách thức đối với Công ty BHXH ngoài quốc doanh còn non trẻ. Khả năng thất bại như nhìn thấy trước đã đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm thí điểm phải hết sức nỗ lực, quyết tâm tìm kiếm nhiều giải pháp sáng tạo để tồn tại và phát triển.

Ngay sau khi thành lập, tháng 02/1990, Công ty BHXH TP.HCM đã bắt tay vào công việc. Trên cơ sở dự thảo Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Công văn số 2251/VP-LT ngày 29/11/1989, ngày 14/04/1990, UBND TP. ban hành Quyết định số 117/QĐ-UB về việc ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ bảo hiểm tuổi già đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Điểm đáng chú ý của bản Điều lệ này là quy định chỉ giải quyết trợ cấp một lần khi xuất cảnh, hoặc người lao động hết tuổi lao động nhưng chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu. Tất cả các trường hợp còn lại đều phải thực hiện bảo lưu để hướng tới mục tiêu tăng số người được bảo đảm cuộc sống bằng chế độ hưu trí khi đã hết tuổi lao động. Do nền kinh tế của nước ta vừa bước ra khỏi thời kỳ bao cấp và làm phát với tốc độ quá cao nên tư duy tem phiếu và lấy gạo làm chuẩn đo giá trị hàng hóa vẫn còn nặng nề. Đặc điểm này cũng thể hiện rõ trong Điều lệ BHXH thời gian này khi đưa ra quy định đảm bảo giá trị tiền nộp BHXH thông qua giá gạo. Đồng thời tính lãi suất bằng 1%/tháng. Thực chất đây là phương pháp BHXH theo hình thức “Tài khoản cá nhân”. Nó khác biệt với phương thức truyền thống đang áp dụng trong khu vực nhà nước nên đã gặp phải những luồng ý kiến phản đối hết sức gay gắt.

Cũng tại Điều lệ BHXH này, đã xây dựng được công thức tính mức tích lũy vốn, mức trợ cấp hàng tháng khi người lao động nghỉ hưu một cách công khai, minh bạch để tăng sức thuyết phục, phù hợp với nguyên tắc tài khoản cá nhân.

Để tổ chức thực hiện Điều lệ, ngày 19/04/1990, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội TP. đã ban hành Văn bản số 156/HD hướng dẫn việc thi hành “Điều lệ tạm thời về chế độ bảo hiểm tuổi già đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn TP.HCM. Trên cơ sở đó, ngày 29/6/1990, Liên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Sở Giao thông Vận tải Thành phố ban hành Văn bản liên tịch số 283/LS-BHXH hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm tuổi già đối với người lao động thuộc các Công ty, xí nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp và cá thể thuộc Ngành Giao thông vận tải thành phố. Cũng ngay từ những ngày đầu triển khai này, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Công ty BHXH Ngoài quốc doanh TP. đã đặt ra vấn đề thu BHXH của người lao động làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại TP.HCM. Công ty BHXH thành phố đã tham mưu cho UBND thành phố ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về trách nhiệm thực hiện chính sách mới để tranh thủ sự hỗ trợ của các ban, ngành và UBND các quận, huyện. Một thành công nữa của giai đoạn thí điểm là Công ty BHXH được giao nhiệm vụ quản lý chi trả lương hưu đối với cán bộ, công chức nhà nước. Điều này thể hiện dư luận và chính quyền các cấp từ chỗ nghi ngờ sự tồn tại của BHXH ngoài quốc doanh đã dần chuyển sang sự tin tưởng. Chính nhiệm vụ này đã giúp Công ty BHXH ngoài quốc doanh non trẻ tạo lập được mối quan hệ gắn bó, phối hợp chặt chẽ với các Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội quận, huyện và UBND các xã, phường… góp phần triển khai có hiệu quả công tác thu BHXH ngoài quốc doanh. Nhờ có mối quan hệ chặt chẽ này nên dù khi đó Công ty BHXH ngoài quốc doanh không có chi nhánh ở cấp quận, huyện nhưng vẫn triển khai sâu rộng chính sách mới thông qua cộng tác viên là cán bộ tại các Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội. Rất nhiều cán bộ trong số đó sau này đã trở thành lực lượng chủ lực của BHXH quận, huyện khi Ngành BHXH chính thức được thành lập từ năm 1995.

Để đưa chính sách mới đến các đơn vị ngoài quốc doanh là một quá trình gian khó, mất rất nhiều công sức. Bên cạnh các buổi tuyên truyền, giới thiệu chính sách ở từng quận, huyện, cán bộ của Công ty BHXH ngoài quốc doanh khi đó phải đi tiếp xúc, vận động trực tiếp tại từng đơn vị. Đối với những đơn vị cố tình né tránh, phải nhờ sự can thiệp của UBND quận, huyện và tạo áp lực dư luận thông qua báo chí. Mặc dù kết quả thu được chưa được như mong muốn nhưng trong hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ đã thể hiện sự nỗ lực rất lớn của những người làm công tác thu BHXH ngoài quốc doanh.

Cũng ngay từ trong giai đoạn thí điểm này, BHXH ngoài quốc doanh TP.HCM đã thực hiện nguyên tắc thu theo đơn vị sử dụng lao động, quản lý quá trình nộp BHXH chi tiết của từng người lao động. BHXH thành phố đã mày mò nghiên cứu, từ thực tiễn tổ chức thực hiện nhiệm vụ, xác định các thông tin cần thiết phục vụ công tác quản lý đối tượng và giải quyết chế độ, chính sách khi có phát sinh, hình thành hệ thống biểu mẫu theo dõi, cung cấp thông tin từ đơn vị sử dụng lao động cũng như quy trình lưu trữ, xử lý dữ liệu ở cơ quan BHXH. Ngay từ năm 1990, trong bối cảnh hết sức khó khăn, BHXH ngoài quốc doanh thành phố đã mạnh dạn đầu tư cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý dữ liệu. Nguyên tắc đơn vị tự kê khai để đối chiếu thu, nộp BHXH với cơ quan BHXH thực chất đã được BHXH ngoài quốc doanh áp dụng ngay từ những ngày đầu thực hiện thí điểm.

Để người lao động có thể nắm bắt được thông tin về quá trình tham gia BHXH của mình, đồng thời phục vụ công tác giải quyết chế độ, chính sách của cơ quan BHXH, BHXH ngoài quốc doanh TP. đã tổ chức cấp Sổ BHXH tuổi già để ghi nhận quá trình tham gia đóng BHXH của người lao động. Tiếp theo đó, nhằm giảm bớt khối lượng công việc thủ công, khắc phục nhược điểm khó bảo quản của sổ, đã chuyển sang thực hiện phương án cấp Thẻ BHXH. Quá trình đóng BHXH của người lao động được cập nhật vào máy vi tính để in ra theo mẫu, đáp ứng yêu cầu tự quản lý, phục vụ cho việc hưởng chế độ sau này của người lao động.

Để tạo điều kiện cho Công ty BHXH Ngoài quốc doanh hoạt động, chỉ sau 02 năm triển khai thí điểm BHXH ngoài quốc doanh, tháng 03/1992, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. đã có công văn đề nghị Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho phép đổi tên Công ty BHXH Ngoài quốc doanh thành BHXH TP.HCM. Ngày 07/4/1992, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có Công văn số 12/LĐTBXH đồng ý với đề nghị của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. Tiếp sau đó, ngày 11/6/1992, UBND Thành phố có Quyết định số 924/QĐ-UB về việc đổi tên Công ty BHXH thành BHXH TP.HCM. Đáng chú ý, ngay trong Điều 1 của Quyết định này đã khẳng định “BHXH TP.HCM là đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động theo chế độ thu bù chi, tiến tới hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và mở tài khoản ở ngân hàng để hoạt động theo quy định của nhà nước”.

Trong giai đoạn thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh, nhiệm vụ nặng nề nhất là tổ chức thu, khai thác, mở rộng đối tượng tham gia BHXH trong điều kiện cả xã hội còn chưa hiểu biết nhiều về chính sách, thậm chí có không ít ý kiến ngăn trở, bàn lùi. Nhưng bên cạnh đó, còn có một nhiệm vụ khác cũng khó khăn không kém, quyết định đến sự phát triển bền vững của chính sách. Đó là Quỹ BHXH ngoài quốc doanh phải tự đảm bảo cân đối trong khi giá gạo (cơ sở để áp dụng thu và chi trả các chế độ BHXH) luôn biến động theo chiều hướng tăng, từ 800 đồng/kg thời điểm đầu năm 1990 tăng lên 2.500 đồng/kg vào giữa năm 1992. Với mức lãi 1%/tháng và đảm bảo bằng giá gạo ở cùng thời điểm, buộc BHXH ngoài quốc doanh phải tìm ra giải pháp tăng trưởng quỹ nếu không muốn bị phá sản. Trước tình hình này, ngày 08/01/1992, Công ty BHXH Ngoài quốc doanh TP. đã có Tờ trình số 20/TT-BHXH gửi Bộ Lao động Thương binh và Xã hội xin ý kiến về việc đầu tư quỹ BHXH ngoài quốc doanh vào lĩnh vực bất động sản. Ngày 28/01/1992, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có Công văn số 192/LĐTBXH-BTXH phúc đáp, yêu cầu Công ty BHXH Ngoài quốc doanh TP. xây dựng đề án cụ thể, báo cáo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP. và trình UBND TP. Ngày 09/3/1992, BHXH TP.HCM đã có Tờ trình số 32/TT-BHXH gửi Thường trực UBND TP. báo cáo kế hoạch đầu tư quỹ BHXH Ngoài quốc doanh vào lĩnh vực bất động sản. Ngày 08/5/1992, UBND TP. có Công văn số 2183/UB-VX cho phép Công ty BHXH TP. đầu tư quỹ BHXH ngoài quốc doanh vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Như vậy, ngay từ thời gian thí điểm, công tác bảo toàn và tăng trưởng Quỹ BHXH đã được BHXH TP. HCM quan tâm thực hiện. Hai biện pháp đầu tư tăng trưởng Quỹ được áp dụng khi đó là gửi ngân hàng hưởng lãi suất tiền gửi và kinh doanh bất động sản đều đã được BHXH TP.HCM thực hiện, mặc dù cơ chế tài chính khi đó vẫn mang nặng những dấu ấn của thời kỳ bao cấp. Việc sử dụng quỹ nhàn rỗi để gửi ngân hàng, mua tín phiếu, đầu tư địa ốc… đều gặp rào cản về mặt pháp lý. Chính vì khó khăn này mà tại Hội nghị sơ kết hoạt động thí điểm BHXH ngoài quốc doanh vào tháng 12/1991 tại Hà Nội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo tạm ngừng phát triển thu ở các đơn vị mới. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả thu BHXH ngoài quốc doanh chỉ dừng lại ở con số khiêm tốn. Trong 05 năm thực hiện thí điểm (1990-1994), BHXH ngoài quốc doanh TP.HCM đã thu BHXH tại 1.413 đơn vị với 57.019 lao động. Tổng số tiền thu được là 82,747 tỷ đồng. Đã chi trả trợ cấp một lần cho 965 lượt người với số tiền 1,619 tỷ đồng. Số tiền lãi do đầu tư gửi ngân hàng, mua tín phiếu, kinh doanh địa ốc… được 7,821 tỷ đồng (chưa kể giá trị các bất động sản chưa thanh lý). Hiệu quả đầu tư cơ bản đáp ứng được yêu cầu cân đối quỹ.

Kết quả thu và số lao động tham gia BHXH như trên chưa phải lớn đối với một địa bàn giàu tiềm năng như TP.HCM. Nhưng quan trọng hơn, từ kết quả thí điểm BHXH ngoài quốc doanh tại TP.HCM, những thành quả và bài học kinh nghiệm thu được là rất lớn, thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, xác lập được mô hình thu và quản lý quá trình nộp BHXH của người lao động. Đó là thu theo đơn vị sử dụng lao động nhưng quản lý quá trình nộp BHXH của từng người lao động. Thiết lập được một hệ thống biểu mẫu và quy trình nghiệp vụ phù hợp. Sự cần thiết phải ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý, lưu trữ quá trình nộp BHXH của từng người lao động khi đối tượng tham gia ngày càng được mở rộng theo yêu cầu phát triển của xã hội và nhu cầu được bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động của người lao động.

Thứ hai, thu được những kinh nghiệm quý báu trong công tác tuyên truyền, vận động các đơn vị ngoài quốc doanh tham gia BHXH cho người lao động.

Thứ ba, xây dựng và đào tạo được đội ngũ cán bộ có năng lực, có tâm huyết với ngành. Năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để có thể đưa chính sách mới đi vào cuộc sống. Với quá trình tìm tòi, sáng tạo, tìm hướng đi trong giai đoạn thí điểm, BHXH ngoài quốc doanh TP.HCM đã có nhiều đề xuất, đóng góp, kiến nghị với Trung ương về những bất cập của chính sách mới.

Thứ tư, tạo được sự tin cậy đối với các doanh nghiệp và người lao động trên địa bàn thành phố. Cộng tác tốt với các cơ quan truyền thông đại chúng trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách mới đến người lao động và nhân dân.

Nhìn lại hoạt động thí điểm BHXH ngoài quốc doanh ở TP.HCM giai đoạn 1990-1994, hoạt động trong bối cảnh có quá nhiều trở ngại và mới mẻ trên tất cả các lĩnh vực, cả về tổ chức, nhân sự lẫn chính sách, cơ chế, mà trở ngại lớn nhất là hạn chế về cơ sở pháp lý, hiệu lực pháp luật của Điều lệ BHXH thí điểm, không tránh khỏi thiếu sót, tồn tại. Tuy nhiên, với những thành quả đã đạt được, có thể khẳng định, việc triển khai mô hình thí điểm mở rộng chính sách BHXH theo cơ chế mới ở TP.HCM cùng với kết quả thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh ở Thủ đô Hà Nội và một số địa phương khác trong cả nước, là tiền đề thực tiễn quan trọng để Đảng và Nhà nước ta tiếp tục kiên định chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện chính sách BHXH, hướng tới mục tiêu mọi người lao động đều được hưởng lương hưu trí khi về già như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

 

6. Thí điểm BHXH ngoài quốc doanh tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước

Cùng với Hà Nội và TP.HCM, Hải Phòng là địa phương thứ ba trong cả nước được giao thực hiện thí điểm BHXH cho người lao động ngoài quốc doanh. Có lẽ đây thực sự là mối duyên của thành phố Cảng với Ngành BHXH khi mà 02 chính sách xã hội lớn - BHXH và BHYT - đều được gieo ươm những hạt giống đầu tiên tại đây…

Ngay sau khi Công ty BHXH đối với người lao động thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được thành lập theo Quyết định số 455/QĐ-TCCQ ngày 05/05/1990 của UBND Thành phố Hải Phòng (đồng chí Phạm Công Hiến, Trưởng phòng Tổ chức Hành chính, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố được bổ nhiệm làm Giám đốc Công ty BHXH Ngoài quốc doanh thành phố - tháng 08/1995, khi thành lập BHXH TP.Hải Phòng, được bổ nhiệm Phó Giám đốc BHXH TP.Hải Phòng và từ tháng 01/2003, được bổ nhiệm Giám đốc BHXH TP. Hải Phòng, nghỉ hưu năm 2009), Công ty đã cùng với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố tham mưu với UBND Thành phố ban hành Quyết định số 615/QĐ-UB ngày 22/06/1990 về Điều lệ tạm thời về chế độ bảo hiểm tuổi già đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố, làm căn cứ để BHXH ngoài quốc doanh được triển khai.

Khác với Hà Nội và TP.HCM, Hải Phòng phát triển thu BHXH ở cả 03 khu vực doanh nghiệp tư nhân, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp, sau này mở rộng thêm các doanh nghiệp liên doanh. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ triển khai thí điểm BHYT từ năm 1989, cách triển khai thí điểm BHXH của Hải Phòng chủ động, không dàn trải mà tập trung triển khai theo địa bàn quản lý hành chính, từng bước rút kinh nghiệm từ đó mới tiếp tục triển khai tiếp sang các quận, huyện khác. Quỹ BHXH thu được bảo đảm an toàn và có đầu tư tăng trưởng thông qua ngân hàng nhà nước. Trong thời kỳ mức sống khó khăn, gạo cũng là vật ngang giá được Hải Phòng chọn làm cơ sở tính đóng BHXH, với mức đóng tối thiểu là 4kg gạo. Những đơn vị và người lao động có khả năng có thể chọn mức đóng cao hơn. Hình thức đóng có thể do đơn vị trích nộp hoặc do người lao động tự đóng góp.

Về quyền lợi, người lao động tham gia BHXH sẽ được hưởng quyền lợi theo số năm đóng góp và mức đóng góp. Hải Phòng cũng chỉ mới dừng lại ở việc thực hiện 02 chế độ: trợ cấp một lần và trợ cấp hằng tháng (lương hưu khi về già).

Đối với chế độ BHXH một lần, được áp dụng cho người lao động có thời gian tham gia BHXH dưới 15 năm, sẽ được trả bằng tiền mặt tính theo giá gạo tại thời điểm thanh toán. Cụ thể, người lao động đóng góp ở mức 4kg gạo/tháng, sau 01 năm tham gia BHXH được hưởng trợ cấp một lần bằng 48kg gạo; sau 05 năm được hưởng 270kg; sau 10 năm được hưởng 940kg và sau 14 năm đóng góp sẽ được hưởng 2.120kg. Người lao động đóng góp ở mức 5kg/tháng, sau 01 năm tham gia được hưởng 60kg; sau 05 năm: 340kg; sau 10 năm: 1.170kg; sau 14 năm: 2.650kg. Người lao động đóng góp ở mức 6kg/tháng, sau 01 năm tham gia được hưởng 72kg; sau 05 năm: 410 kg; sau 10 năm: 1.410kg; sau 14 năm: 3.180kg.

Đối với chế độ BHXH hằng tháng (chế độ hưu trí) quy định người lao động phải có thời gian tham gia từ đủ 15 năm trở lên và đến tuổi nghỉ hưu. Với mức đóng góp 04kg/tháng, khi đủ 15 năm, người lao động sẽ được hưởng mức lương hưu tương đương 15kg gạo/tháng tại thời điểm nhận chế độ hưu trí; sau 20 năm, mức lương hưu tương đương với 34kg gạo/tháng, ngoài ra còn được nhận khoản trợ cấp 01 lần do có thời gian trên 15 năm tham gia BHXH bằng 320kg gạo; sau 25 năm, mức lương hưu bằng 86kg gạo/tháng, cộng với trợ cấp 01 lần bằng 810kg gạo. Với mức đóng góp 5kg/tháng, sau 15 năm, mức lương hưu của người lao động sẽ được tính bằng 18kg gạo/tháng; sau 20 năm, lương hưu bằng 43kg gạo/tháng và trợ cấp 01 lần bằng 410kg gạo; sau 25 năm là 107kg/tháng, trợ cấp một lần: 1.010kg gạo. Với mức đóng góp 6kg/tháng, mức lương hưu sau 15 năm là 21kg/tháng; sau 20 năm là 51kg/tháng cộng với trợ cấp một lần bằng 490kg gạo; sau 25 năm, lương hưu sẽ là 129kg/tháng và trợ cấp một lần bằng 1.220kg gạo.

Cách tính toán cụ thể, hết sức công phu, tỉ mỉ và có sức thuyết phục, không chỉ với các cấp lãnh đạo của thành phố, các quận, huyện mà còn phải thuyết phục và thu được lòng tin của doanh nghiệp và người lao động.

Cũng như các địa phương khác, BHXH ngoài quốc doanh Hải Phòng triển khai nhiệm vụ hết sức khó khăn bởi lực lượng cán bộ quá mỏng. Công việc mới, khối lượng nhiều đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm cao. Bên cạnh đó, đơn vị đã nhận được sự hỗ trợ hết sức tích cực từ Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội các quận, huyện, thị xã trong quá trình vận động, phát triển đối tượng tham gia BHXH.

Bằng nhiều biện pháp tổ chức triển khai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đến cuối năm 1990, đã có 10/11 quận, huyện, thị xã tổ chức triển khai BHXH ngoài quốc doanh. Một số địa bàn thực hiện rất tốt như Ngô Quyền, Kiến An, Đồ Sơn, Hồng Bàng, Vĩnh Bảo… Tính đến hết tháng 12/1994, BHXH ngoài quốc doanh TP.Hải Phòng đã khai thác được 3.850 lao động thuộc 45 đơn vị tham gia BHXH. Có thời kỳ cao điểm, số lao động tham gia BHXH lên tới trên 36.000 người, ngoài các đối tượng khác, còn thu hút đông đảo lực lượng lao động thuộc ngành thủ công nghiệp tham gia. Đơn vị liên doanh đầu tiên trên địa bàn TP.Hải Phòng tham gia BHXH là Công ty Xi măng Chinfon với 100% lao động tham gia. Đến tháng 09/2005, sau 15 năm thực hiện thí điểm bảo hiểm tuổi già trong khu vực ngoài quốc doanh tại TP.Hải Phòng và sau 10 năm Ngành BHXH Việt Nam được thành lập, tại Hải Phòng, những người lao động đầu tiên tham gia BHXH ngoài quốc doanh thuộc Hợp tác xã Cói Nam Am đã được hưởng chế độ hưu trí.

Tiếp theo TP.Hải Phòng, tỉnh Thái Bình và Hoàng Liên Sơn cũng tiên phong thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh. Với đặc thù của một tỉnh nông nghiệp, đối tượng tham gia BHXH ngoài quốc doanh của Thái Bình chủ yếu là lao động nông nghiệp. Trong quá trình tổ chức làm thí điểm BHXH ngoài quốc doanh, Công ty BHXH ngoài quốc doanh Thái Bình do đồng chí Nguyễn Văn Trình làm Giám đốc, đã mở rộng ra cả đối tượng là các nhà tu hành trong các chùa. Nguồn Quỹ thu được ngoài việc gửi ngân hàng hưởng lãi suất hàng tháng theo quy định chung, Thái Bình còn đầu tư kinh doanh lương thực từ miền Nam ra miền Bắc với tỷ lệ sinh lời cao. Tuy nhiên đây là biện pháp hết sức mạo hiểm, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao trong tình hình giá lương thực biến động mạnh, kinh doanh lương thực dễ xảy ra thất thoát, khó bảo quản và yêu cầu phải có mạng lưới rộng.

Riêng với Hoàng Liên Sơn là một tỉnh miền núi, nhưng việc thí điểm BHXH ngoài quốc doanh cũng được lãnh đạo tỉnh và Sở Lao động-Thương binh và Xã hội quan tâm tổ chức thực hiện. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội cử đồng chí Đỗ Đình Ương, Phó Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội kiêm giữ chức Giám đốc Công ty BHXH ngoài quốc doanh. Tổng số biên chế của Công ty BHXH ngoài quốc doanh có 05 người. Do lãnh đạo và cán bộ có nhiều cố gắng nên trong một thời gian ngắn, việc thực hiện BHXH ngoài quốc doanh ở Hoàng Liên Sơn đã có hàng vạn lao động tham gia. Tuy nhiên, đến ngày 01/10/1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn thực hiện việc chia tách địa giới hành chính, thành lập 02 tỉnh Lào Cai và Yên Bái nên việc thí điểm thực hiện BHXH ngoài quốc doanh tạm dừng lại.

Qua gần 02 năm thực hiện thí điểm mô hình BHXH ngoài quốc doanh tại 04 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, TP.HCM, TP.Hải Phòng, Thái Bình. Cuối năm 1991, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác thí điểm do Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Thị Hằng chủ trì. Sau khi nghe các địa phương làm thí điểm báo cáo kết quả, đồng chí Thứ trưởng kết luận: Việc tổ chức thí điểm BHXH đối với lao động ngoài quốc doanh là rất cần thiết, đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ VII: “Đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần đều đóng góp vào quỹ BHXH”. Từ kết quả thí điểm, tìm ra mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động BHXH phù hợp với tiến trình đổi mới theo hướng xóa bỏ cơ chế hành chính bao cấp. Qua 02 năm làm thí điểm, chúng ta đều nhận thấy, BHXH phải được thực hiện cho mọi người lao động, không phân biệt trong quốc doanh hay ngoài quốc doanh, với nghĩa vụ và quyền lợi được hưởng cần được quy định thống nhất, áp dụng chung cho mọi đối tượng tham gia. Tổ chức quản lý BHXH phải được tập trung thống nhất vào một đầu mối, Quỹ BHXH cần được hạch toán độc lập, từng bước tách ra khỏi ngân sách nhà nước. Đặc biệt, qua thí điểm, đã xác định được mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động BHXH theo cơ chế mới. Đó là những vấn đề hết sức thiết thực mà các địa phương làm thí điểm, bằng nghiên cứu và kết quả hoạt động thực tiễn đã chỉ ra. Trước khi Chính phủ chính thức ban hành một Điều lệ BHXH mới, việc thí điểm cần tiếp tục được thực hiện tốt hơn để khẳng định cho được vấn đề đổi mới BHXH là một đòi hỏi thật sự cấp bách, vì quyền lợi chính đáng của người lao động và vì sự nghiệp đổi mới kinh tế của đất nước. Với các địa phương đã thực hiện thành công thí điểm, đặc biệt là TP.Hà Nội với những nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng cao và đã được đưa vào thực hiện, cần xây dựng đề án hợp nhất BHXH trong quốc doanh với BHXH ngoài quốc doanh, báo cáo cấp ủy và chính quyền địa phương từng bước triển khai thực hiện BHXH cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế.

Trước những kết quả thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh hết sức khả quan, tháng 12/1992, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có Công văn đề nghị Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho phép Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia thí điểm, ngày 12/12/1992, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có Công văn số 3784/LĐ-TBXH đồng ý để tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tổ chức thí điểm BHXH theo mô hình BHXH với mọi người lao động, không phân biệt các thành phần kinh tế.

Chỉ trong vòng 10 ngày kể từ khi có công văn phúc đáp của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, ngày 23/12/1992, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã ban hành Quyết định số 837/QĐ-UBT thành lập BHXH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ là “xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thu, chi BHXH về các chế độ, chính sách hưu trí, mất sức lao động, tử tuất cho người lao động trong và ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh, bảo đảm việc thu, chi BHXH một cách kịp thời, thuận lợi theo đúng chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước về các chế độ bảo hiểm đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài quốc doanh. Tổ chức phổ biến, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi và bổ sung việc thực hiện các chế độ, chính sách về BHXH cho người lao động ở các thành phần kinh tế phù hợp với tính hình xã hội của tỉnh. Sử dụng tiền nhàn rỗi của Quỹ BHXH tham gia các hoạt động sản xuất, liên doanh, liên kết, thực hiện các biện pháp nhằm bảo tồn giá trị của quỹ”.

Như vậy, giai đoạn thí điểm BHXH ở Bà Rịa-Vũng Tàu đã có kế thừa, phát huy những tích cực, hạn chế những tồn tại của giai đoạn thí điểm BHXH ngoài quốc doanh tại các địa phương trước đó. Có thể thấy, mô hình BHXH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là thực hiện thu, chi BHXH trong và ngoài quốc doanh, là cầu nối, bước đi quá độ, chuyển tiếp từ mô hình BHXH ngoài quốc doanh độc lập với BHXH khu vực nhà nước sang mô hình BHXH cho mọi người lao động, góp phần làm phong phú thêm tiền đề thực tiễn cho việc cải cách chế độ BHXH sau này. 

Trong giai đoạn thí điểm từ 23/12/1992, BHXH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là cơ quan trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội với số biên chế ban đầu chỉ có 04 người, đồng chí Trần Thị Bào, Phó Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội được bổ nhiệm là Giám đốc BHXH tỉnh.

Ngay sau khi có Quyết định thành lập, BHXH tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 06/CT-UBT ngày 28/01/1993 về việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH cho người lao động trên địa bàn. Chỉ thị chỉ đạo rõ việc thực hiện BHXH thống nhất cho cả người lao động trong và ngoài quốc doanh bởi thời điểm này, Nhà nước chưa ban hành chế độ BHXH thống nhất cho các thành phần kinh tế. Ngày 17/02/1993, UBND tỉnh tiếp tục ban hành Quyết định số 211/QĐ-UBT về việc chuyển giao nhiệm vụ thu BHXH các đơn vị trong và ngoài quốc doanh đóng trên địa bàn tỉnh, trừ Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt Xô đã chuyển đóng BHXH sang cơ quan BHXH từ ngày 01/01/1993. Ngày 08/03/1993, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 291/QĐ-UBT quy định tạm thời về chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nội dung cơ bản của Quyết định quy định chủ sử dụng lao động phải trích 15% từ tổng quỹ lương để lập quỹ BHXH. Trong đó, 5% lập quỹ tại đơn vị để chi cho các chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nộp về cơ quan BHXH tỉnh 10% để chi cho các chế độ hưu trí, mất sức lao động, tuất. Trợ cấp một lần chỉ được trả cho người lao động khi ra nước ngoài định cư hợp pháp hoặc chết khi đang làm việc. Lao động tự do được tự nguyện đóng, rút và giải quyết chế độ khi đủ điều kiện. Các nội dung trên về cơ bản được thực hiện gần sát với Điều lệ tạm thời về BHXH.  

Tiếp theo đó, BHXH tỉnh đã trực tiếp tham mưu cho Sở Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Công văn số 80/LĐ-TBXH ngày 06/03/1993 hướng dẫn thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Hướng dẫn quy định rõ nguyên tắc trích lập, mức hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, chết khi đang làm việc do đơn vị sử dụng lao động trực tiếp quản lý và các chế độ hưu trí, mất sức lao động, tử tuất do cơ quan BHXH tỉnh trực tiếp quản lý. Các nội dung về nghĩa vụ thu nộp BHXH căn cứ trên cơ sở của Pháp lệnh hợp đồng lao động ban hành ngày 10/08/1990, nội dung về quyền lợi, chế độ của người lao động giữa hai khu vực trong và ngoài quốc doanh gần giống nhau và về cơ bản đều căn cứ theo chuẩn các chính sách, chế độ BHXH được quy định tại Nghị định 236/HĐBT ngày 18/09/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Cũng trong ngày 06/03/1993, Sở Lao động-Thương Binh và Xã hội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu còn ban hành Công văn số 81/LĐ-TBXH hướng dẫn thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nội dung bám sát 02 căn cứ pháp lý quan trọng là Nghị định 233/HĐBT ngày 22/06/1990 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Thông tư số 19/LĐTBXH ngày 31/12/1990 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định 233/HĐBT.

Như vậy, tính đến hết năm 1992, cả nước có 05 tỉnh thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh và bước đầu đã tiếp quản một phần sự nghiệp BHXH trong quốc doanh, bao gồm: Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Thái Bình và Bà Rịa-Vũng Tàu.

 

7. Hợp nhất các tổ chức BHXH và bước chuẩn bị cho sự ra đời BHXH Việt Nam

Sau 05 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu bước đầu quan trọng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong 05 năm từ 1991-1995. Văn kiện Đại hội xác định: “Đổi mới chính sách BHXH theo hướng: mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều đóng góp vào quỹ BHXH. Từng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước khỏi ngân sách và hình thành quỹ BHXH chung cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế”. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định “Cải cách chế độ bảo hiểm... Thiết lập một hệ thống đồng bộ và đa dạng về bảo hiểm và trợ cấp xã hội”.

Song song với việc triển khai thí điểm BHXH ngoài quốc doanh, ngay từ đầu năm 1990, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã chủ trì phối hợp với các bộ, ngành triển khai nghiên cứu đổi mới chính sách BHXH. Ngày 07/02/1990, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có Văn bản số 258/LĐTBXH-BTXH đề nghị Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cử một cán bộ lãnh đạo và một số cán bộ cấp vụ và chuyên viên tham gia Ban Chỉ đạo chung và các tổ nghiên cứu các chuyên đề đổi mới BHXH.

Ngày 09/05/1990, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tổ chức cuộc họp về cải cách BHXH có sự tham gia của Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Ban Tổ chức Chính phủ, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng. Hội nghị đã thống nhất những vấn đề chính: (1) khẩn trương nghiên cứu sửa đổi tổng thể về BHXH, bao gồm sửa đổi các chế độ BHXH, sửa đổi quy định về hạch toán, quản lý nguồn quỹ BHXH và tổ chức bộ máy quản lý BHXH; (2) thành lập Ban Chỉ đạo và hình thành 03 tổ nghiên cứu (Tổ chính sách, Tổ nguồn quỹ, Tổ tổ chức bộ máy), thành phần của 03 tổ nghiên cứu gồm Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Trên cơ sở danh sách Ban Chỉ đạo và các Tổ nghiên cứu đã được các bộ, ngành thỏa thuận cử cán bộ tham gia, ngày 05/06/1990, Ban Chỉ đạo và bộ phận thường trực đã họp thông qua đề cương nghiên cứu xây dựng đề án BHXH . Ngày 09/06/1990, lãnh đạo 03 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã họp thông qua kế hoạch nghiên cứu xây dựng đề án BHXH, trình Hội đồng Bộ trưởng.

Ngày 02/07/1990, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ra Văn bản số 1504/LĐTBXH-BTXH chính thức thông báo thành lập các bộ phận nghiên cứu xây dựng đề án BHXH như sau:

Về thành phần Ban Chỉ đạo gồm có đồng chí Nguyễn Thị Hằng, Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; đồng chí Lý Tài Luận, Thứ trưởng Bộ Tài chính và đồng chí Vũ Kim Quỳnh, Ủy viên Ban Thư ký Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Về Bộ phận Thường trực Ban Chỉ đạo gồm có đồng chí Nguyễn Thị Hằng, Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; đồng chí Nguyễn Huy Ban, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (tháng 03/1998 được bổ nhiệm Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và đến tháng 07/1998 được bổ nhiệm Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam); đồng chí Trần Thu Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính-Hành chính Văn xã, Bộ Tài chính và đồng chí Vũ Trọng Mùi, Phó trưởng Ban BHXH, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Về các tổ giúp việc Ban Chỉ đạo có Tổ nghiên cứu các chế độ BHXH do đồng chí Nguyễn Huy Ban làm Tổ trưởng; Tổ nghiên cứu nguồn Quỹ BHXH do đồng chí Trần Thu Hà làm Tổ trưởng; Tổ nghiên cứu bộ máy tổ chức BHXH do đồng chí Đàm Hữu Đắc làm Tổ trưởng. Thành viên các tổ cơ cấu đầy đủ các thành phần của Bộ Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Các Tổ nghiên cứu đã thực hiện kế hoạch theo đề án đổi mới BHXH đã được lãnh đạo các bộ thông qua, nhiều dự thảo báo cáo theo từng chuyên đề được đưa ra các cuộc hội thảo lấy ý kiến rộng rãi ở các ngành.

Sau gần 07 năm đổi mới, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, cần nhanh chóng sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Ngày 15/04/1992, tại kỳ họp thứ 04 Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Tại Điều 56 Hiến pháp quy định “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động. Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động”.

Cụ thể hóa các quy định tại Hiến pháp 1992, trên cơ sở kết quả thí điểm thực hiện BHXH cho người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Ban Chỉ đạo nghiên cứu đổi mới các chế độ BHXH, ngày 22/06/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP quy định tạm thời chế độ BHXH. Theo đó, việc thực hiện 05 chế độ BHXH bao gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất được áp dụng bắt buộc đối với công nhân, viên chức thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũ trang, các tổ chức Đảng, Đoàn thể; người lao động làm việc hưởng lương hoặc tiền công ở những doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên; người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài và trong các tổ chức khác của nước ngoài tại Việt Nam và người lao động Việt Nam làm việc trong khu chế xuất, khu kinh tế đặc biệt. Và cũng ngay từ Nghị định đầu tiên về đổi mới chính sách BHXH này, đã đưa ra hình thức BHXH tự nguyện áp dụng từ 01 đến 05 chế độ đối với những người lao động Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam mà không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Việc thiết kế các chế độ BHXH tại Nghị định 43/CP đã cơ bản hướng tới sự cân đối giữa mức đóng và mức hưởng. Thời gian nghỉ hưởng và mức hưởng được tính tỷ lệ thuận với thời gian đóng và mức đóng. Đặc biệt, tại Nghị định cũng có nhiều điểm mở thể hiện một tư duy mới về thiết kế chính sách như bước đầu đưa ra khái niệm BHXH tự nguyện; mở rộng hơn độ tuổi nghỉ hưu, bên cạnh việc quy định trần tuổi nghỉ hưu áp dụng chung cho mọi đối tượng, có tính đến mức tuổi giảm và mức tuổi tăng đối với các trường hợp cá biệt như người lao động làm việc trong các ngành nghề nặng nhọc độc hại; người lao động có trình độ cao... Ngay từ thời gian này, trong quy định về độ tuổi nghỉ hưu đã quy định: “Người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi đã đóng góp BHXH đủ 20 năm trở lên và tuổi đời nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. (Những trường hợp đặc biệt đơn vị có nhu cầu và người lao động tự nguyện tiếp tục làm việc thì tuổi đời không quá 65 với nam, 60 đối với nữ)”. Đặc biệt, tại Nghị định 43/CP đã dành hẳn 01 phần quy định về Quỹ BHXH và một phần khác quy định về hệ thống tổ chức BHXH. Theo đó, Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. Đối với hình thức BHXH bắt buộc, người sử dụng lao động, hàng tháng đóng vào Quỹ BHXH bằng 15% tổng quỹ tiền lương, trong đó 10% để thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất, 5% để thực hiện chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người lao động hàng tháng đóng 5% tiền lương vào Quỹ BHXH để thực hiện chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. Đối với hình thức BHXH tự nguyện, giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan xác định và quy định mức đóng góp. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ BHXH được sử dụng chi trả các chế độ BHXH cho người tham gia, chi phí quản lý hành chính về sự nghiệp bảo hiểm theo quy định của Chính phủ và trên cơ sở cân đối được nguồn quỹ dành một tỷ lệ chi cho việc dưỡng sức của người tham gia BHXH. Để đảm bảo tính kế thừa trong giai đoạn chuyển tiếp, Nghị định cũng quy định ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện các chế độ hưu trí, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, BHYT, tử tuất đối với những người đang hưởng BHXH trước ngày Nghị định 43 được ban hành và hỗ trợ để chi cho công nhân, viên chức nghỉ hưu sau ngày ban hành Nghị định này.

Ngày 30/09/1993, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 66/CP quy định tạm thời chế độ BHXH đối với lực lượng vũ trang, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/04/1993, cùng thời điểm hiệu lực thi hành của Nghị định 43/CP.

Có thể thấy, những đổi mới căn bản trong cơ chế BHXH thể hiện tại Nghị định 43/CP và Nghị định 66/CP bao gồm 06 nội dung: (1) đã thống nhất về mặt tổ chức bộ máy quản lý sự nghiệp BHXH; (2) thống nhất về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi được hưởng; (3) đảm bảo sự bình đẳng trên cơ sở mở rộng đối tượng tham gia BHXH trong các thành phần kinh tế; (4) chuyển từ BHXH thông qua ngân sách sang xác lập Quỹ BHXH độc lập; (5) tách các chế độ BHXH ra khỏi các chế độ ưu đãi xã hội, (6) đã sử dụng đơn vị tiền tệ làm chuẩn mức đóng và mức hưởng BHXH theo đúng vận hành của nền kinh tế thị trường thay cho việc lấy gạo làm chuẩn như trước đây và quá trình thực hiện thí điểm BHXH ngoài quốc doanh chính là bước đột phá, là tiền đề quan trọng nhất cho việc cải cách, đổi mới chính sách BHXH phù hợp với đường lối đổi mới kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.

Về nội dung đổi mới trong từng chế độ BHXH thể hiện cụ thể như sau: 

- Về chế độ trợ cấp ốm đau: Tỷ lệ hưởng trợ cấp ốm đau thống nhất bằng 75% tiền lương trong thời gian quy định nghỉ ốm hàng năm cho từng đối tượng tính theo thời gian công tác. Trường hợp mắc bệnh cần chữa trị kéo dài, thời gian nghỉ ốm tối đa là 180 ngày. Quá thời hạn trên, nếu thuộc danh mục bệnh phải điều trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế, được hưởng 70% lương tối thiểu.

- Về chế độ trợ cấp thai sản: quy định thời gian nghỉ sinh con của lao động nữ là 04 tháng được hưởng 100% tiền lương và được trợ cấp 01 tháng lương trung bình bằng 02 tháng lương tối thiểu. Trường hợp làm các công việc nặng nhọc, độc hại, sinh đôi, sinh ba… được nghỉ thêm theo quy định. Trợ cấp thai sản được tính với cả trường hợp lao động nữ bị sảy thai, thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.

- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Trong thời gian người lao động điều trị vết thương do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp gây ra, người sử dụng lao động phải trả 100% tiền lương. Sau khi điều trị ổn định, tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động theo xác định của cơ quan y tế, người lao động sẽ được hưởng trợ cấp BHXH một lần hoặc hàng tháng, cụ thể: Giảm từ 5% - 60% sức lao động sẽ được hưởng trợ cấp một lần từ 04 đến 24 tháng tiền lương tối thiểu; giảm từ 61% - 100% sức lao động sẽ được hưởng trợ cấp hàng tháng từ 01 đến 1,6 tháng tiền lương tối thiểu/tháng.

- Chế độ hưu trí: Quy định tuổi đời nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có từ đủ 20 năm công tác được nghỉ hưởng chế độ hưu trí. Người tham gia kháng chiến chống Pháp, người có 10 năm ở chiến trường, người làm công việc nặng nhọc, độc hại có thời gian công tác đủ 20 năm trở lên được giảm tối đa 05 tuổi đời khi nghỉ hưu (nam 55 tuổi; nữ 50 tuổi). Đối tượng thuộc diện thực hiện giảm biên chế (theo Quyết định 176 hoặc 111) cũng được giảm tối đa 05 tuổi đời. Nếu đối tượng giảm biên chế lại đồng thời thuộc đối tượng giảm tuổi đời do đặc thù nghề nghiệp kể trên thì sẽ được cộng dồn, thời gian giảm tối đa là 10 tuổi đời (nam 50 tuổi, nữ 45 tuổi).

Thời gian tính hưởng chế độ BHXH là thời gian thực tế tham gia BHXH. Đối với công nhân viên chức nhà nước có thời gian công tác từ trước ngày 31/12/1994, thời gian này cũng được tính là thời gian tham gia BHXH để tính hưởng chế độ. Đặc biệt, thời gian tính hưởng BHXH theo Nghị định 43/CP không đòi hỏi phải liên tục mà quá trình tham gia nộp BHXH có thể bị ngắt quãng, miễn sao tổng số năm công tác và nộp BHXH đủ 20 năm theo quy định.

Tiền lương tính hưởng BHXH là mức tiền lương bình quân nộp BHXH trong 10 năm cuối đối với công nhân viên chức nhà nước. Lao động làm việc trong các tổ chức liên doanh với nước ngoài thì tính lương bình quân suốt cả quá trình nộp BHXH.

Mức hưởng lương hưu được tính bằng 55% tiền lương bình quân cho thời gian đủ 20 năm đóng BHXH, từ năm thứ 21 đến năm thứ 30, mỗi năm nộp BHXH được cộng thêm 2%, tối đa không quá 75% tiền lương bình quân. Những người có trên 30 năm tham gia BHXH, từ năm thứ 31 được tính hưởng trợ cấp một lần, tối đa không quá 03 tháng tiền lương. Cùng với mối tương quan được quy định tại Điều 5 Nghị định 27/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ; tiền lương hưu của đối tượng nghỉ theo Nghị định 236/HĐBT chênh lệch không quá 5% đối với người có chức vụ và mức độ cống hiến.

Trường hợp đã có thời gian tham gia BHXH nhưng chưa đủ tuổi đời theo quy định, nếu vì lý do nào đó không có thu nhập bằng tiền lương hoặc tiền công; không tiếp tục nộp BHXH được, thì khi đủ tuổi đời theo quy định cũng được giải quyết chế độ hưu hàng tháng hoặc trợ cấp một lần, tùy theo số năm đã tham gia BHXH. Đối với trợ cấp một lần: cứ mỗi năm tham gia BHXH được trợ cấp 01 tháng tiền lương bình quân, kể cả trường hợp sức khỏe bị suy giảm do ốm đau bệnh tật kéo dài được Hội đồng Giám định y khoa kết luận mất sức lao động từ 61% trở lên.

Những người đang hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tử tuất trước ngày 31/12/1993 được ngân sách nhà nước đài thọ.

Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí hàng tháng, người nghỉ hưu còn được Quỹ BHXH đài thọ tiền tham gia BHYT. 

- Chế độ tử tuất: Gồm có trợ cấp mai táng phí bằng 07 tháng tiền lương tối thiểu; trợ cấp tuất hàng tháng, cứ mỗi người tham gia BHXH được trợ cấp từ 01 đến 04 suất, tùy thuộc vào số người mà người lao động khi còn sống phải nuôi dưỡng. 01 thân nhân có thể hưởng chế độ trợ cấp tuất của 02 người nuôi dưỡng có tham gia BHXH chết. Trường hợp không có người hưởng trợ cấp tuất hàng tháng thì thân nhân người tham gia BHXH chết được nhận trợ cấp một lần, mỗi năm tham gia BHXH được trợ cấp ½ tháng tiền lương, tối đa bằng 12 tháng tiền lương; với người về hưu, mỗi năm đã hưởng lương hưu trừ đi 01 tháng trợ cấp, tối thiểu được nhận trợ cấp bằng 03 tháng lương hưu. 

Về hệ thống tổ chức BHXH, tại Điều 23, Điều 24 của Nghị định 43/CP quy định, Chính phủ thành lập hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam để quản lý thống nhất quỹ và sự nghiệp BHXH quy định tại Nghị định này trên cơ sở thống nhất tổ chức BHXH thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thành lập Hội đồng quản trị BHXH Trung ương gồm đại diện chủ yếu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Tài chính. Có thể nói, sự ra đời của Nghị định 43/CP là sự khởi đầu cho việc cải cách thực sự cho hệ thống BHXH ở Việt Nam.

Tuy nhiên, trong thời gian này, cũng chỉ có 05 tỉnh thí điểm tiếp tục duy trì hoạt động của cơ quan BHXH trên cơ sở sáp nhập sự nghiệp BHXH trực thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội vào Công ty BHXH ngoài quốc doanh, chính thức đổi tên thành cơ quan BHXH cấp tỉnh, thành phố. Từ tháng 07/1993, BHXH 05 tỉnh, thành phố tập trung giải quyết chế độ hưu trí cho số cán bộ công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang nghỉ chờ không chuyển xếp lương mới mà hưởng chế độ BHXH theo Nghị định 236/HĐBT ngày 18/09/1985, đồng thời hướng dẫn các đơn vị sử dụng lao động đang tham gia BHXH thực hiện theo Nghị định 43/CP; thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH cho người đang hưởng chế độ theo Điều 3 Nghị định 27/CP ngày 23/05/1993 của Chính phủ; tổ chức chi trả lương hưu hàng tháng cho đối tượng.

Theo quy định mới, Quỹ BHXH vẫn được phân thành các quỹ thành phần để chi trả các chế độ ngắn hạn và dài hạn, nhưng không để lại một phần tại đơn vị sử dụng lao động để chi trả trực tiếp một số chế độ cho người lao động như trước nữa mà nộp toàn bộ cho BHXH tỉnh để quản lý tập trung, thống nhất. BHXH 05 tỉnh, thành phố đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố ban hành nhiều văn bản hướng dẫn triển khai truy thu 5% của người lao động từ 01/4/1993; truy thu BHXH 8% của các đơn vị từ ngày 01/01/1993 đến 31/12/1993 và thực hiện thu nộp 15% từ ngày 01/01/1994 đến 31/12/1994. Đồng thời cũng ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các chế độ, quyền lợi BHXH có liên quan theo quy định hiện hành.

Có đầy đủ các cơ sở pháp lý, việc triển khai nhiệm vụ của BHXH các địa phương thí điểm phần nào tháo gỡ được những khó khăn của buổi đầu triển khai. Nhưng khối lượng công việc ngày càng nhiều trong khi bộ máy tổ chức BHXH mới chỉ tập trung ở cấp tỉnh, ở cấp huyện vẫn phụ thuộc vào lực lượng cán bộ của ngành Lao động-Thương binh và Xã hội.

Nhận định việc tổ chức bộ máy BHXH theo quy định tại Nghị định 43/CP chậm sẽ ảnh hưởng đến quá trình đổi mới hệ thống chính sách xã hội nói chung, chính sách BHXH nói riêng và có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, ngày 28/01/1994, theo sự chỉ đạo của Chính phủ, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ đã có Tờ trình số 14/TTr-TCCP kèm theo Dự thảo Nghị định của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam và Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và nhiệm vụ của Hội đồng Quản trị BHXH (trích nguyên văn từ Nghị định 43/CP-Tg), gửi lấy ý kiến các bộ, ngành. Ngày 07/05/1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 215/TTg về những công việc cần làm ngay để triển khai Nghị định 43/CP, đưa ra 04 yêu cầu cấp bách:

Thứ nhất, thành lập Ban Trù bị triển khai thực hiện Nghị định số 43-CP ngày 22/06/1993 của Chính phủ do một đồng chí lãnh đạo Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ làm Trưởng Ban và đại diện có thẩm quyền của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam làm thành viên. Ban Trù bị có nhiệm vụ chuẩn bị để sớm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thành lập hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam kèm theo điều lệ tổ chức và hoạt động; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Hội đồng quản trị của tổ chức BHXH Việt Nam, các thành viên và chức năng, nhiệm vụ của hội đồng quản trị; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ban Kiểm soát, các thành viên và nhiệm vụ của Ban; Phương án sắp xếp tổ chức và nhân sự trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH hiện nay thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về bộ máy và nhân sự của hệ thống BHXH Việt Nam; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tổng kiểm tra tài sản, vốn, công nợ và biên chế của các tổ chức BHXH thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý.

Thứ hai, trong Quý IV/1994, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo các tổ chức BHXH trực thuộc bàn giao xong vốn, tài sản, công nợ và nhân sự của mình sang cho tổ chức BHXH Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 43/CP.

Thứ ba, từ ngày 01/01/1995, tổ chức BHXH Việt Nam chính thức hoạt động và có trách nhiệm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động quy định tại Nghị định số 43/CP.

Thứ tư, các ngành, các cấp liên quan cần sớm ban hành các thông tư hướng dẫn về các chế độ quy định tại Nghị định số 43/CP. Việc thu và chi trả các chế độ BHXH trước mắt vẫn thực hiện thông qua các tổ chức cũ hiện hành cho đến khi hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam chính thức đi vào hoạt động.

Để thực hiện 04 công việc trọng tâm trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ban Trù bị và các Bộ, ngành liên quan khẩn trương hoàn thành những nhiệm vụ trên đây đúng tiến độ đề ra và hàng tháng phải báo cáo kết quả công việc đã tiến hành; đồng thời cần phản ánh những vấn đề mới phát sinh do Thủ tướng Chính phủ biết để giải quyết.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ đã khẩn trương thành lập Ban Trù bị thực hiện Nghị định số 43/CP, gồm có các thành viên: đồng chí Tô Tử Hạ, Phó Trưởng ban Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ; đồng chí Lê Duy Đồng, Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; đồng chí Nguyễn Hồng Phúc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; đồng chí Tào Hữu Phùng, Thứ trưởng Bộ Tài chính; đồng chí Vũ Kim Quỳnh, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Để giúp việc cho Ban Trù bị, thành lập Tổ chuyên viên thường trực gồm có: đồng chí Bùi Đức Bền, Vụ trưởng Vụ Tổ chức, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ; đồng chí Nguyễn Huy Ban, Vụ trưởng Vụ BHXH, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; đồng chí Trần Đức Thái, Vụ Phó Vụ Hành chính - Sự nghiệp, Ủy ban Khoa học Nhà nước; đồng chí Chu Thị Hoát, Trưởng phòng Bảo trợ xã hội, Vụ Tài chính - Hành chính Văn xã, Bộ Tài chính; đồng chí Nguyễn Hữu Đức, Trưởng phòng Thanh tra-Tổ chức, Ban BHXH, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ban Trù bị đã thống nhất phân công theo chức năng nhiệm vụ của từng bộ, ngành chuẩn bị nhiều văn bản, tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề lấy ý kiến Ban Kinh tế Trung ương, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân… về các chế độ BHXH, về quản lý Quỹ BHXH, về hệ thống tổ chức BHXH, về quá trình chuyển giao các tổ chức BHXH hiện có khi thành lập BHXH Việt Nam, về công tác nhân sự của BHXH Việt Nam…

Ngày 31/08/1994, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 472/TTg về việc kiểm kê tài sản của các tổ chức BHXH trực thuộc Liên đoàn Lao động Việt Nam và Ngành LĐTBXH. Theo Quyết định này, các tài sản đã được kiểm kê của các tổ chức BHXH hiện nay sẽ được bàn giao cho tổ chức BHXH mới thành lập. Ngày 07/10/1994, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ tiếp tục có Văn bản số 220/TCCP-CB về việc giới thiệu nhân sự lãnh đạo BHXH Việt Nam.

Trong khi việc chuẩn bị thành lập tổ chức BHXH theo Nghị định số 43/CP được triển khai, ngày 23/06/1994, tại kỳ họp thứ 05, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995, trong đó dành hẳn chương XII quy định về chế độ BHXH với nhiều điểm mới. Trước tình hình này, Ban Trù bị thực hiện Nghị định 43/CP đã trình xin ý kiến Chính phủ việc thi hành Nghị định 43/CP chỉ thực hiện đến hết ngày 31/12/1994, đồng thời trình Dự thảo Nghị định mới của Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH và Dự thảo Nghị định về việc thành lập BHXH Việt Nam. Ngoài ra, các Bộ, ngành căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, dự thảo nhiều thông tư hướng dẫn thi hành các Nghị định trên. Như vậy, đến thời điểm này, bước chuẩn bị cho sự ra đời của BHXH Việt Nam đã cơ bản hoàn thành.

 

 

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BHXH VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1995 - 2002

 

1. Sự ra đời BHXH Việt Nam và những công việc khởi đầu

Sau 10 năm thực hiện cải cách và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế nước ta bước đầu đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, cũng từ thực tiễn đổi mới đặt ra vấn đề phải xây dựng một hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ, đặc biệt là yêu cầu cấp thiết phải đổi mới hệ thống chính sách xã hội. Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự phát triển chính sách BHXH với việc triển khai thống nhất BHXH bắt buộc cho người lao động trong mọi thành phần kinh tế và sự ra đời của tổ chức BHXH Việt Nam.

Trên cơ sở Bộ luật Lao động được thông qua tại kỳ họp thứ 05, Quốc hội khóa IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995, Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và liên bộ ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách chế độ BHXH. Trong đó, văn bản chủ đạo về chế độ, chính sách BHXH là Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 quy định thực hiện BHXH bắt buộc đối với công chức, công nhân viên chức nhà nước và người lao động làm việc tại các doanh nghiệp. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để giúp Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý Quỹ BHXH và thực hiện thống nhất các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật.

Để chuẩn bị công tác nhân sự cho BHXH Việt Nam, ngay từ cuối năm 1994, Chính phủ đã tổ chức họp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, nghe hai đơn vị giới thiệu một số phương án nhân sự cho vị trí chủ chốt của BHXH Việt Nam. Sau khi nghe ý kiến của các bộ, ngành, Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ đạo: BHXH Việt Nam là đơn vị giúp Thủ tướng quản lý Quỹ BHXH là một quỹ tài chính lớn, người đứng đầu BHXH Việt Nam nên lựa chọn người có kiến thức quản lý tài chính, đồng thời am hiểu chính sách xã hội. Đồng chí Hồ Tế, Bộ trưởng Bộ Tài chính lúc bấy giờ đã giới thiệu đồng chí Nguyễn Văn Châu, Vụ trưởng Vụ Tài chính - Hành chính Văn xã, Bộ Tài chính, cử nhân Tài chính - Kế toán, đã từng theo học khóa bồi dưỡng kiến thức quản lý kinh tế ở Liên Xô và vừa hoàn thành luận án Phó Tiến sĩ về đề tài Kinh tế BHYT.

Ngày 03/04/1995, theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã ký Quyết định số 197/TTg về việc bổ nhiệm cán bộ. Theo đó, đồng chí Trần Đình Hoan, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam; đồng chí Hoàng Minh Chúc, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, kiêm giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Quản lý; đồng chí Tào Hữu Phùng, Thứ trưởng Bộ Tài chính, kiêm giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Quản lý; đồng chí Nguyễn Văn Châu, Vụ trưởng Vụ Tài chính-Hành chính Văn xã thuộc Bộ Tài chính, giữ chức ủy viên Hội đồng Quản lý, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam; đồng chí Phạm Thành, Phó Trưởng Ban BHXH thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, giữ chức Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.

Thực hiện Nghị định số 19/CP, ngày 24/06/1995, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Thông tư liên bộ số 125-TT/LB hướng dẫn việc bàn giao nhiệm vụ, tổ chức nhân sự BHXH của hệ thống Lao động-Thương binh và Xã hội và Liên đoàn Lao động Việt Nam sang BHXH Việt Nam, BHXH Việt Nam đã nhanh chóng tiếp nhận bàn giao, ổn định bộ máy, tổ chức và triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao. Ở Trung ương, BHXH Việt Nam tiếp nhận 48 cán bộ, viên chức từ Tổng Liên đoàn Lao động; 07 cán bộ, viên chức thuộc Phòng Quản lý hồ sơ, Vụ Bảo trợ xã hội thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; một số cán bộ từ Bộ Tài chính và các bộ, ngành khác. Cơ quan mới thành lập, trụ sở làm việc còn chưa có, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu bàn bạc với Phó Tổng Giám đốc Phạm Thành thuê tạm một số căn phòng tại Nhà khách Chính phủ số 37 Hùng Vương làm trụ sở BHXH Việt Nam. Trong nửa đầu năm 1995 này, cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương chỉ tập trung vào việc nhận bàn giao từ hai ngành Lao động-Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động và ổn định tổ chức. Ban lãnh đạo nhất trí phân công, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu thường trực tại Hà Nội, tập trung chỉ đạo ổn định tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam; Phó Tổng Giám đốc Phạm Thành đi công tác tại các địa phương, chỉ đạo việc nhận bàn giao tại các địa phương, làm việc với lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh về công tác nhân sự và đề nghị chính quyền địa phương quan tâm phối hợp chỉ đạo công tác BHXH, một lĩnh vực còn hết sức mới mẻ. Trước khối lượng công việc của Ngành BHXH, đòi hỏi phải được bổ sung nhân lực, đặc biệt là nhân sự chủ chốt. Ngày 28/06/1995, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 379/TTg về việc bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Thành Xuyên, Ủy viên kiêm Chánh Văn phòng Ủy ban Thanh niên Việt Nam giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.  

Đến cuối tháng 09/1995, 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 565 quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đã thành lập cơ quan BHXH trên cơ sở tiếp nhận nhiệm vụ, tổ chức và nhân sự từ 02 hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội, Liên đoàn Lao động và bắt đầu triển khai hoạt động để thực hiện nhiệm vụ trong toàn hệ thống từ 01/10/1995. Từ ngày 01/10/1995, toàn hệ thống BHXH Việt Nam từ Trung ương đến địa phương với số lượng 4.864 cán bộ, công chức, viên chức chính thức triển khai nhiệm vụ trong hoàn cảnh hết sức khó khăn: Đội ngũ cán bộ trẻ, tâm huyết với công việc là một trong những ưu thế; tuy nhiên, số cán bộ có trình độ trung, sơ cấp còn chiếm tỷ lệ tương đối cao, đặc biệt ở các huyện miền núi, Đồng bằng sông Cửu Long, cá biệt còn có cán bộ không có nghiệp vụ, chưa tốt nghiệp THPT. Phần lớn công chức, viên chức chưa được đào tạo cơ bản về công tác tài chính, lao động, tiền lương và nhất là về lĩnh vực BHXH nên không tránh khỏi những khó khăn trong triển khai nhiệm vụ. Tính đến hết năm 1995, BHXH 53 tỉnh, thành phố đã cơ bản hoàn thành việc tiếp nhận bàn giao, nhưng tài sản nhận bàn giao hết sức nghèo nàn. Chỉ có 02 địa phương có trụ sở làm việc là TP.Hà Nội và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; 06 tỉnh được nhận bàn giao ô tô, cùng với một số tài sản khác như bàn ghế, tủ, máy vi tính… trị giá theo đánh giá lại ước khoảng 2.547.586.890 đồng. Hầu hết BHXH các tỉnh, thành phố và BHXH cấp quận, huyện, thị xã phải đi thuê hoặc mượn tạm trụ sở, các phương tiện thiết yếu phục vụ công tác mới chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ so với yêu cầu công việc.

Cũng trong thời gian này, thực hiện Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, các bộ phận làm công tác BHXH Quân đội nhân dân (sau này là BHXH Bộ Quốc phòng) và BHXH Công an nhân dân đã được kiện toàn, nhân sự và tổ chức thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, chịu sự hướng dẫn và quản lý về nghiệp vụ của BHXH Việt Nam.

Trên cơ sở Nghị định 12/CP và Nghị định 19/CP, ngày 26/09/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 606/TTg về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Theo quy định tại Điều 6, Quyết định này: Tổ chức bộ máy BHXH Việt Nam như sau: 1- Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam; 2- BHXH Việt Nam được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương, gồm có: Ở Trung ương: BHXH Việt Nam. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) là BHXH tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam. Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) là BHXH huyện trực thuộc BHXH tỉnh. Tại cơ quan BHXH Việt Nam, có 08 tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc, gồm: Ban Quản lý chế độ chính sách BHXH; Ban Quản lý thu BHXH; Ban Quản lý chi BHXH; Ban Kiểm tra - Pháp chế; Ban Kế hoạch - Tài chính; Ban Tổ chức - Cán bộ; Văn phòng và Trung tâm Thông tin - Khoa học.

Theo Quyết định 606/QĐ-TTg, BHXH Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các cơ quan nhà nước về lĩnh vực có liên quan và sự giám sát của tổ chức công đoàn.

Sau 03 tháng đồng bộ triển khai nhiệm vụ, hệ thống BHXH Việt Nam đã khắc phục những khó khăn ban đầu, nhanh chóng ổn định tổ chức, bộ máy để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, không gây gián đoạn việc hưởng quyền lợi của đối tượng.

Công tác nhân sự tiến hành nhanh nhưng thận trọng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn và bảo đảm chất lượng đội ngũ cán bộ. Việc bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo tiến hành khẩn trương, đúng quy trình và thủ tục, có sự giới thiệu và thỏa thuận của cấp ủy và chính quyền địa phương. Ngay sau khi tiếp nhận bàn giao, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu đã ký Quyết định bổ nhiệm 53 Giám đốc và 64 Phó Giám đốc BHXH cấp tỉnh, 514 Giám đốc và 156 Phó Giám đốc BHXH huyện, trong đó có 63% có trình độ Đại học; 21% ở độ tuổi dưới 40 và 26% cán bộ nữ.

BHXH Việt Nam cũng sớm xây dựng và ban hành Quyết định quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH cấp tỉnh, huyện. Quy định việc phân cấp quản lý cán bộ, biên chế và tổng hợp danh sách công chức, viên chức, tiền lương thuộc hệ thống BHXH Việt Nam. Xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trực thuộc, từng bước bố trí, sắp xếp cán bộ cho phù hợp, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo các ban nghiệp vụ của BHXH Việt Nam: (1) đồng chí Nguyễn Kim Thái được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ; (2) đồng chí Đỗ Văn Sinh được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Ban Kế hoạch - Tài chính (đến tháng 06/2004, được bổ nhiệm là Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam đến nay); (3) đồng chí Kiều Văn Minh được bổ nhiệm Phó trưởng Ban Kế hoạch Tài chính (sau này có thời gian được bổ nhiệm Trưởng Ban Thu, Trưởng Ban Kế hoạch - Đầu tư và từ tháng 07/2014 được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Ban Tuyên truyền); (4) đồng chí Nguyễn Thị Mai, Phó trưởng Ban phụ trách Ban Thu (sau này được điều động, luân chuyển làm Phó trưởng Ban Kiểm tra); (5) đồng chí Nguyễn Xuân Bến, Phó trưởng Ban Quản lý Chế độ Chính sách - nay là Ban Thực hiện Chính sách BHXH (đến tháng 01/2003, đồng chí Bến được bổ nhiệm là Giám đốc Trung tâm Lưu trữ); (6) đồng chí Đinh Thị Như Ý, Phó trưởng Ban Chi - nay là Ban Tài chính Kế toán (đến tháng 01/2003, khi sáp nhập BHYT Việt Nam vào BHXH Việt Nam, đồng chí Như Ý được điều động, luân chuyển sang làm Phó trưởng Ban BHXH Tự nguyện); (7) đồng chí Hà Văn Chi, Phó Chánh Văn phòng BHXH Việt Nam (sau được bổ nhiệm Chánh Văn phòng rồi luân chuyển làm Trưởng Ban Quản lý Chế độ Chính sách - nay là Ban Thực hiện Chế độ BHXH). Sau khi thống nhất trong lãnh đạo, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu ký Quyết định bổ nhiệm Tiến sĩ Phạm Thành, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam kiêm nhiệm chức Giám đốc Trung tâm Thông tin khoa học. Đồng chí Phạm Chương Dương được bổ nhiệm Phó Giám đốc Trung tâm (sau này là Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin). Tháng 01/1996, đồng chí Nguyễn Hữu Đức được bổ nhiệm Phó Trưởng Ban Phụ trách Ban Kiểm tra. Tháng 05/1996, đồng chí Dương Xuân Triệu được bổ nhiệm Phó Trưởng ban, phụ trách Ban Chi (sau này là Viện trưởng Viện Khoa học BHXH, Trưởng Ban Hợp tác quốc tế). Tháng 02/1997, đồng chí Lê Quyết Thắng được bổ nhiệm Phó Chánh Văn phòng, phụ trách Văn phòng BHXH Việt Nam (sau là Trưởng Ban Kiểm tra).

Thời gian này, do yêu cầu nhiệm vụ, lãnh đạo BHXH Việt Nam thường xuyên phải công tác tại các tỉnh phía Nam. Được sự nhất trí của Bộ Nội vụ và sự đồng ý của Văn phòng Chính phủ, BHXH Việt Nam đã thành lập Văn phòng đại diện phía Nam trên cơ sở tiếp nhận 04 cán bộ từ Văn phòng đại diện phía Nam của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; 02 cán bộ của Công đoàn Ngành Cao su và 01 cán bộ của Ủy ban Thanh niên Việt Nam. Đồng chí Trần Ngọc Tấn, Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Thanh niên Việt Nam được bổ nhiệm giữ chức Trưởng đại diện Văn phòng phía Nam.

Bên cạnh việc kiện toàn bộ máy tổ chức, để tạo cơ chế tài chính cho các đơn vị chủ động trong thực hiện nhiệm vụ, BHXH Việt Nam đã tạm thời ban hành các quy định quản lý tài chính và tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong ngành nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn. Phối hợp với Vụ Chế độ kế toán-Kiểm tra, Bộ Tài chính, xây dựng chế độ kế toán BHXH (hệ thống tài khoản và hệ thống chứng từ, biểu mẫu kế toán) áp dụng từ ngày 01/10/1995. Tổ chức 07 lớp tập huấn nghiệp vụ cho gần 1.200 người là Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng, phó trưởng phòng BHXH các tỉnh, thành phố, Giám đốc BHXH huyện và cán bộ làm công tác kế toán về chế độ, chính sách BHXH và chế độ kế toán BHXH.

Chỉ trong 03 tháng cuối năm 1995, BHXH các tỉnh, thành phố đã tiếp nhận danh sách đối tượng từ Ngành Lao động-Thương binh và Xã hội để đảm bảo chi trả các chế độ BHXH hàng tháng với tổng số 1.781.858 đối tượng, trong đó: 166.976 người hưởng hưu quân đội; 1.030.517 người hưởng hưu công nhân viên chức; 402.081 người hưởng chế độ mất sức lao động; 6.480 người hưởng chế độ tai nạn lao động và người phục vụ TNLĐ; 174.438 người hưởng tuất công nhân viên chức; 1.366 người hưởng chế độ đối với công nhân cao su.

Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 1995 của BHXH Việt Nam, trong năm 1995, BHXH Việt Nam đã cấp kinh phí để BHXH các tỉnh, thành phố tổ chức chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng với tổng số tiền 1.173.379  triệu đồng, trong đó: chi cho đối tượng hưởng lương hưu từ ngân sách do Ngành Lao động -Thương binh và Xã hội bàn giao là 1.149.000 triệu đồng; chi từ nguồn Quỹ BHXH cho đối tượng nghỉ hưu trong Quý IV/1995 và chi các chế độ ốm đau, thai sản là 24.379 triệu đồng.

Mặc dù việc tiếp nhận bàn giao các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH chậm, nhưng BHXH các tỉnh, thành phố vẫn đảm bảo chi trả cho các đối tượng đúng kỳ, đủ số, tận tay và an toàn nguồn quỹ, ở một số nơi còn bảo đảm sớm hơn từ 05 đến 07 ngày so với thời gian chi trả trước đây. Để đạt được kết quả này, BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố hướng dẫn BHXH huyện rà soát toàn bộ danh sách đại lý chi trả và ký lại hợp đồng chi trả. Một số địa phương còn mạnh dạn thí điểm các bàn chi trả trực tiếp cho đối tượng hưởng BHXH như Thanh Hóa, Nam Hà (nay là Nam Định và Hà Nam), Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Hà Tĩnh, Ninh Bình… Một số địa phương tổ chức vận chuyển tiền đến tận phường, xã để chi trả, đảm bảo kịp thời và an toàn như Bắc Thái (nay là Bắc Kạn và Thái Nguyên), Thái Bình, Nam Hà, Hà Nội, Hà Tây… Bên cạnh việc chi trả các chế độ BHXH, hệ thống BHXH Việt Nam còn thực hiện việc chi trả các chế độ ưu đãi cho người có công theo Quyết định số 425/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tinh thần thái độ phục vụ đầy trách nhiệm và hết lòng vì đối tượng của đội ngũ cán bộ, công chức Ngành BHXH đã được đối tượng ghi nhận, khen ngợi, đồng tình, ủng hộ.

Ngay sau khi thành lập, dù việc nhận bàn giao còn dang dở nhưng BHXH Việt Nam đã khẩn trương triển khai nhiệm vụ thu BHXH từ ngày 01/07/1995 theo hướng dẫn tại Thông tư số 58-TC/HCSN của Bộ Tài chính. Công tác thu BHXH thời kỳ này hết sức khó khăn do người lao động và chủ sử dụng lao động đang quen với cơ chế bao cấp, nay chuyển sang thực hiện chế độ, chính sách BHXH theo nguyên tắc đóng - hưởng. Mặt khác, việc nâng tỷ lệ đóng BHXH từ 13% lên 20%, giảm tỷ lệ hưởng lương hưu từ 95% xuống còn 75% nhằm đảm bảo công bằng giữa mức đóng và mức hưởng đã gặp phải nhiều ý kiến trái chiều từ dư luận. Với quyết tâm thực hiện thành công công cuộc đổi mới chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, trong đó đổi mới chính sách BHXH đi tiên phong, toàn Ngành đã khắc phục mọi khó khăn, tính đến ngày 31/12/1995, toàn hệ thống BHXH đã thu vào Quỹ BHXH 696.866 triệu đồng, đạt 78,81% so với kế hoạch thu 06 tháng cuối năm 1995 được Bộ Tài chính giao cho các địa phương, đạt 49,02% kế hoạch năm 1995. Trong 53 BHXH tỉnh, thành phố có 32 đơn vị thu đạt tỷ lệ từ 100% trở lên so với kế hoạch. Đặc biệt, có 12 đơn vị thu đạt trên 150% kế hoạch như BHXH các tỉnh, Hà Nội, Nam Hà, Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, Hải Hưng (nay là Hải Dương và Hưng Yên), Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai, Tiền Giang, Trà Vinh, Tây Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Sóc Trăng. Tuy nhiên, cũng còn 21 tỉnh, thành phố đạt kết quả chưa tới 50%.

Một số BHXH tỉnh, thành phố tổ chức tốt việc quản lý, đôn đốc thu nộp đối với các đơn vị, tổ chức kinh tế liên doanh, liên kết, đầu tư nước ngoài và các đơn vị ngoài quốc doanh, đã đạt được những kết quả tốt như Hà Nội, Khánh Hòa, TP.HCM, Sông Bé (nay là Bình Dương và Bình Phước), Bà Rịa-Vũng Tàu, Lâm Đồng.

Sau khi ổn định tổ chức bộ máy, từ ngày 01/10/1995, BHXH Việt Nam đã xây dựng, hình thành và từng bước hoàn thiện cơ chế xét hưởng các chế độ BHXH theo nguyên tắc tập trung, chỉ BHXH cấp tỉnh mới có quyền thẩm định, xét duyệt hồ sơ hưởng chế độ BHXH theo đúng quy định của pháp luật, BHXH Việt Nam thẩm định lại việc xét hưởng các chế độ BHXH hàng tháng. Để thực hiện được quy định này, BHXH Việt Nam đã ban hành các văn bản hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quy trình xét duyệt, thành lập Phòng Quản lý Chế độ Chính sách (nay là Phòng Chính sách BHXH) ở BHXH cấp tỉnh.

Thực hiện cơ chế mới về quản lý các chế độ, chính sách BHXH đã đem lại một số kết quả nhất định. Theo báo cáo của BHXH các tỉnh, thành phố đã điều chỉnh từ hưởng lương hưu xuống hưởng mất sức lao động 154 người do khai man thời gian công tác, cắt tiền trợ cấp tuất hàng tháng của các đối tượng hưởng quá tuổi quy định. Chỉ riêng BHXH tỉnh Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ và Vĩnh Phúc) trong tháng 12/1995 đã quyết định dừng trợ cấp mất sức lao động của 119 người hưởng quá thời hạn từ 02 đến 03 năm ở huyện Mê Linh, thu hồi số tiền là 133 triệu đồng. BHXH tỉnh Ninh Bình quyết định thôi hưởng chế độ mất sức lao động hàng tháng do quá thời hạn 201 người. BHXH tỉnh Bình Thuận cắt hưởng 56 trường hợp tương tự...

Trong Quý IV/1995, 32 BHXH tỉnh, thành phố đã giải quyết kịp thời các chế độ BHXH cho 15.775 người, trong đó 3.897 hưu viên chức; 54 hưu lực lượng vũ trang; 770 trường hợp hưởng tuất một lần; 7.844 trường hợp hưởng trợ cấp một lần; 2.975 người hưởng trợ cấp tuất hàng tháng; 231 người hưởng trợ cấp tai nạn lao động hàng tháng; 04 người hưởng trợ cấp bệnh nghề nghiệp. Nhìn chung, công tác xét duyệt chế độ BHXH được thực hiện đúng quy định, giữ ổn định, đảm bảo tính liên tục và quyền lợi cho đối tượng trong quá trình chuyển giao và đổi mới tổ chức bộ máy thực hiện BHXH.   

Ngay từ rất sớm, công tác kiểm tra, pháp chế đã được BHXH Việt Nam hết sức coi trọng. Ban Kiểm tra-Pháp chế của BHXH Việt Nam và bộ phận kiểm tra của BHXH các tỉnh, thành phố đã từng bước triển khai hoạt động và đạt được những kết quả nhất định. Chỉ trong 03 tháng cuối năm 1995, BHXH các tỉnh, thành phố đã xây dựng và triển khai khá hiệu quả kế hoạch công tác kiểm tra việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân về BHXH. BHXH TP.HCM phát hiện 02 trường hợp khai man thời gian công tác hưởng BHXH, thu hồi trên 16 triệu đồng; BHXH tỉnh Quảng Bình phát hiện 245 trường hợp khai man thời gian công tác hưởng BHXH, giảm chi cho ngân sách 15,5 triệu đồng/tháng.

Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách BHXH có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ngành, ngay từ những ngày đầu thành lập, BHXH Việt Nam đã hết sức chú trọng đến công tác đặc biệt này. Ngay trong 03 tháng cuối năm 1995, mặc dù còn bộn bề công việc, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu đã chỉ đạo Phó Tổng Giám đốc Phạm Thành chủ trì các Ban nghiệp vụ biên soạn, in và phát hành tài liệu “Hệ thống các văn bản pháp quy về BHXH” để giới thiệu những văn bản mới nhất của Nhà nước, các bộ và BHXH Việt Nam về chế độ, chính sách BHXH, bộ máy tổ chức BHXH và hướng dẫn nghiệp vụ thực hiện các chế độ BHXH cho hệ thống và toàn xã hội.

Từ tháng 01/1996, BHXH Việt Nam đã cho ra mắt ấn phẩm Bản tin BHXH (sau này phát triển thành Thông tin BHXH và đến ngày 23/12/1998, chính thức được cấp phép xuất bản Tạp chí BHXH), phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách BHXH và các hoạt động của hệ thống BHXH trong cả nước. Phó Tổng Giám đốc Phạm Thành được bổ nhiệm kiêm nhiệm giữ chức Tổng Biên tập.

Cùng với việc phát hành ấn phẩm tuyên truyền của Ngành, BHXH Việt Nam trực tiếp phối hợp với các cơ quan báo chí Trung ương và chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ quan báo chí địa phương tuyên truyền sâu rộng về chính sách BHXH và hoạt động của Ngành.

Nhằm tăng cường quan hệ hợp tác và trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan BHXH của các nước và các tổ chức quốc tế, mặc dù vừa mới thành lập và còn không ít khó khăn, bỡ ngỡ trong một lĩnh vực công tác hết sức mới mẻ, BHXH Việt Nam đã có nhiều cuộc trao đổi, làm việc với Quỹ tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Tạp chí Viện hàn lâm khoa học của Thụy Điển, Cố vấn trưởng Dự án BHXH ở Việt Nam của Tổ chức Lao động Quốc tế; đặc biệt, BHXH Việt Nam đã ký kết “Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý những người đang hưởng các chế độ BHXH” với Cơ quan Tổng hợp liên nghề về hưu trí của người làm công (IGIRS).

Ngày 01/12/1995, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam họp phiên thứ 05 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hội đồng quản lý, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Trần Đình Hoan và các thành viên: đồng chí Tào Hữu Phùng, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản lý, Thứ trưởng Bộ Tài chính; đồng chí Hoàng Minh Chúc, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản lý, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đồng chí Nguyễn Văn Châu, Ủy viên Hội đồng Quản lý, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Phiên họp này có mời 02 đồng chí Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Phạm Thành và Nguyễn Thành Xuyên tham dự.

Sau khi nghe Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam trình bày về tình hình hoạt động của BHXH Việt Nam trong Quý IV/1995 và những vấn đề trình Hội đồng Quản lý (HĐQL) cho ý kiến chỉ đạo, Hội đồng quản lý đã thống nhất những nội dung sau: HĐQL đánh giá cao những cố gắng, nỗ lực của toàn hệ thống BHXH Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt trong điều kiện còn nhiều khó khăn ban đầu của một cơ quan mới được thành lập. Hệ thống BHXH Việt Nam đã dần dần thực hiện cơ chế quản lý sự nghiệp BHXH trong tình hình mới, từng bước hình thành Quỹ BHXH tập trung; đổi mới cơ chế quản lý thu BHXH, xét duyệt hồ sơ chính sách BHXH theo hướng tập trung, mở rộng dần đối tượng người lao động tham gia BHXH trong các thành phần kinh tế. HĐQL thông qua kế hoạch thu-chi BHXH năm 1996. Thông qua phương án về bảo toàn và phát triển quỹ BHXH để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét. Đề nghị Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quyết định về mẫu sổ BHXH để BHXH Việt Nam kịp in và phát hành sổ BHXH trong Quý I/1996. Đồng ý để BHXH Việt Nam nghiên cứu và thay đổi một số mẫu biểu, thủ tục và quy trình xét duyệt hồ sơ hưởng các chế độ BHXH cho phù hợp với tình hình mới. Đề nghị ngân sách nhà nước bảo đảm nguồn chi trả cho các đối tượng đang hưởng chế độ BHXH trước ngày 30/09/1995 và từ 01/10/1995 các chế độ BHXH do Quỹ BHXH chi trả. Thống nhất quy trình trong giải quyết các vấn đề bất hợp lý khi thực hiện chế độ BHXH. Thống nhất ý kiến về quản lý thu-chi và thực hiện các chế độ BHXH đối với các đối tượng tham gia BHXH của Bộ Quốc phòng. Cũng tại phiên họp này, HĐQL cho ý kiến về phương án trụ sở làm việc của BHXH Việt Nam. Đồng ý phê duyệt bản thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý những người đang hưởng chế độ BHXH giữa BHXH Việt Nam và cơ quan Tổng hợp liên nghề về hưu trí của người làm công (IGIRS) của Cộng hòa Pháp.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của HĐQL, năm 1996, BHXH Việt Nam chuyển trụ sở làm việc từ số 37 Hùng Vương sang địa chỉ 61 Đê La Thành. Mặc dù vẫn chỉ là trụ sở đi thuê nhưng diện tích làm việc rộng rãi hơn, đáp ứng được yêu cầu công việc, đặc biệt là việc lập kho lưu trữ hồ sơ hưởng lương hưu của gần 02 triệu đối tượng trong cả nước.

Phát huy những kết quả đạt được trong năm đầu tiên thành lập mà trên thực chất (thực tế, hoạt động nghiệp vụ chỉ diễn ra trong 03 tháng cuối năm 1995), năm 1996, toàn Ngành BHXH tiếp tục nỗ lực với quyết tâm cao đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu kế hoạch thu BHXH được Chính phủ giao với trên 2.500 tỷ đồng, bằng 150,71% kế hoạch, tăng gấp 3,59 lần so với số thu năm 1995. Nếu như ở năm đầu tiên, có tới 21 tỉnh, thành phố có tỷ lệ hoàn thành kế hoạch chưa tới 50%, thì trong năm thứ hai triển khai nhiệm vụ, 100% BHXH tỉnh, thành phố hoàn thành đạt và vượt mức chỉ tiêu kế hoạch. Trong đó có 26 đơn vị đạt từ 130% kế hoạch trở lên, có thể kể đến như BHXH TP.Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Gia Lai…

Trong năm 1996, một công tác trọng tâm được toàn Ngành triển khai hết sức tích cực, đó là việc cấp sổ BHXH cho gần 03 triệu người lao động đang tham gia BHXH. Xác định sổ BHXH là cơ sở pháp lý quan trọng để Ngành BHXH giải quyết chế độ đối với người lao động. Do vậy, quan điểm chỉ đạo của BHXH Việt Nam là khẩn trương nhưng tuyệt đối không chạy theo số lượng, bảo đảm trước hết là phải đúng và chính xác trong từng bước, từng khâu xét duyệt hồ sơ cấp sổ. Từ ngày 01/07/1996, công tác cấp sổ BHXH được triển khai trong cả nước. Đến hết năm 1996, chỉ sau 06 tháng triển khai, đã thực hiện phát 2,5 triệu tờ khai, duyệt trên 01 triệu tờ khai và tiến hành cấp được trên 600.000 sổ BHXH. Qua công tác này đã phát hiện được nhiều cơ quan, đơn vị không tham gia hoặc còn nợ, thiếu tiền đóng BHXH, đã góp phần thực hiện truy thu được gần 285 tỷ đồng.

Cũng trong năm 1996, việc chi trả các chế độ BHXH được BHXH các tỉnh, thành phố đảm bảo chi trả đủ số, kịp thời và đến tận tay đối tượng. Trong chi trả 02 chế độ ốm đau, thai sản, đã ứng trước từ Quỹ BHXH trên 22 tỷ đồng (khoảng 02 tháng chi các chế độ này) để làm quỹ luân chuyển thanh toán và thực hiện nguyên tắc chi trả theo chứng từ gốc hợp lệ nên đã giảm thiểu những thất thoát do chi sai chế độ, sai nguyên tắc trong phạm vi toàn quốc, hầu hết BHXH các tỉnh đã áp dụng mô hình chi trả trực tiếp tại các địa bàn mà điều kiện cho phép, qua đó quản lý chặt chẽ được số tăng, giảm đối tượng và phát hiện nhiều tiêu cực như khai man hồ sơ hoặc hưởng quá thời gian quy định, đã xử lý, thu hồi và giảm chi cho ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Trong năm 1996 đã thực hiện chi trả các chế độ BHXH với tổng số tiền là trên 4.791 tỷ đồng, được đông đảo người lao động tin tưởng, hoan nghênh, ủng hộ.

Với sự hình thành một hệ thống BHXH thống nhất và tập trung, mục tiêu Chính phủ đề ra cho Ngành BHXH là hình thành và phát triển Quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước. Chỉ sau 02 năm thành lập với trên 15 tháng chính thức triển khai các hoạt động nghiệp vụ, bước đầu đã thực hiện được mục tiêu ấy. Để tăng trưởng Quỹ BHXH, Chính phủ đã cho phép Ngành BHXH được thực hiện các biện pháp bảo tồn và tăng trưởng Quỹ như mua trái phiếu, tín phiếu, cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia vay… tính đến hết năm 1996, Quỹ BHXH đã cho ngân sách nhà nước vay trên 1.078 tỷ đồng, hệ thống ngân hàng quốc doanh vay 1.400 tỷ đồng và đã có một số lãi bước đầu trên 60 tỷ đồng.

Bộ máy tổ chức từng bước được ổn định, dù điều kiện làm việc còn hết sức khó khăn cả với cơ quan BHXH Việt Nam ở Trung ương và BHXH các địa phương, trụ sở làm việc hầu hết vẫn phải đi thuê hoặc mượn tạm, nhưng toàn hệ thống BHXH đã thực hiện tốt tất cả các mặt công tác. Bên cạnh việc hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu thu, tổ chức chi trả an toàn và từng bước thực hiện đầu tư tăng trưởng Quỹ theo chỉ đạo của Chính phủ, các mặt công tác khác như kiểm tra, giải quyết chính sách, tuyên truyền cũng được chú trọng. Qua công tác kiểm tra đã phát hiện nhiều trường hợp lập hồ sơ giả trong lĩnh vực hưu quân đội, hưu viên chức, nhiều chứng từ thanh toán 02 chế độ ngắn hạn không hợp lệ. Công tác kiểm tra đã góp phần chấn chỉnh, đưa công tác thu, chi, xét duyệt các chế độ chính sách BHXH vào nền nếp, đã tiếp nhận và giải quyết trên 2.300 đơn thư về chế độ chính sách BHXH.

Chỉ trong năm 1996, toàn Ngành đã thẩm định trên 75.000 hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH thường xuyên và một lần, bảo đảm tính chính xác và đầy đủ của hồ sơ, giảm tối đa những sai sót có thể gây ra hậu quả lâu dài. Ngành cũng đã áp dụng cơ chế xét duyệt hồ sơ mới: chủ sử dụng lao động chỉ ra quyết định cho người lao động nghỉ việc hưởng chế độ; BHXH tỉnh, thành phố tổ chức xét duyệt hồ sơ và chuyển về BHXH Việt Nam thẩm định. Mức hưởng lương hưu của người lao động do cơ quan BHXH quyết định trên cơ sở thời gian công tác và mức đóng của người lao động. Cơ chế này đã nhận được sự đồng tình, chấp thuận trong toàn hệ thống và đảm bảo sự chặt chẽ trong việc thực hiện chế độ chính sách BHXH.

Công tác thông tin tuyên truyền được toàn hệ thống BHXH quan tâm và bước đầu đạt được những kết quả nhất định. Bản tin BHXH phát hành đều đặn hàng tháng nhằm tuyên truyền, phổ biến những vấn đề về BHXH trong phạm vi toàn quốc. BHXH các tỉnh, thành phố thường xuyên phối hợp viết bài, cung cấp thông tin cho Bản tin cũng như các báo, đài ở Trung ương và địa phương để phản ánh hoạt động của ngành, cùng khó khăn, thuận lợi, những vấn đề cần giải quyết nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ BHXH. Qua đó, các cấp ủy đảng, chính quyền, người lao động, chủ sử dụng lao động và nhân dân hiểu rõ hơn về chính sách BHXH, từ đó ủng hộ và tạo điều kiện giúp đỡ Ngành BHXH hoàn thành nhiệm vụ.

Tháng 04/1997, tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 1996, triển khai nhiệm vụ năm 1997 của BHXH Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã khẳng định: “Chỉ trong chưa đầy 02 năm hoạt động, BHXH Việt Nam đã nhanh chóng ổn định tổ chức, bộ máy và cán bộ; thực hiện đúng các chế độ chính sách đối với những người tham gia và thụ hưởng BHXH; tổ chức thu BHXH đạt kết quả cao, đầy đủ cho các đối tượng hưởng BHXH và bước đầu đã hạch toán và hình thành được Quỹ BHXH tập trung, độc lập với ngân sách nhà nước, từng bước khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng của Đảng và Nhà nước”.

 

2. Nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định, từng bước phát triển

Chủ trương đổi mới chính sách xã hội, đặc biệt là đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa đã được Đảng và Nhà nước ta chỉ đạo  quyết liệt; nhưng phải đến kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, lần đầu tiên được Văn kiện Đại hội Đảng nhấn mạnh: “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế, áp dụng bắt buộc đối với các cơ quan, các doanh nghiệp. Tổ chức quản lý và sử dụng tốt các quỹ bảo hiểm; bảo đảm đời sống của người nghỉ hưu”. Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 26/5/1997 về “Tăng cường sự lãnh đạo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội”, trong đó yêu cầu các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban, đảng đoàn, ban cán sự đảng và đảng uỷ trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện chế độ BHXH, xác định trọng tâm là thu BHXH, đảm bảo nguyên tắc có tham gia thì mới được hưởng; kiểm tra, rà soát hồ sơ, cấp lại thẻ lĩnh lương hưu, trợ cấp, cấp sổ BHXH cho người lao động đảm bảo chặt chẽ, công bằng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chống các biểu hiện tiêu cực, gây thất thoát trong tổ chức thực hiện; kiện toàn tổ chức, bộ máy thực hiện BHXH; tổ chức sơ kết hoạt động BHXH trong thời gian qua, có những kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện các chế độ BHXH, tạo điều kiện mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế và sớm xây dựng Luật BHXH; quan tâm, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ và trang bị các phương tiện kỹ thuật cần thiết để nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và rộng hơn trên lĩnh vực này.

Trong nửa cuối năm 1996 và đầu năm 1997, Quốc hội quyết định chia tách địa giới hành chính của 08 tỉnh, thành phố: tỉnh Bắc Thái tách thành 02 tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên; tỉnh Hà Bắc tách thành 02 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh; tỉnh Nam Hà tách thành 02 tỉnh Hà Nam, Nam Định; tỉnh Hải Hưng tách thành 02 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên; tỉnh Vĩnh Phú tách thành 02 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ; tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và TP.Đà Nẵng; tỉnh Sông Bé tách thành 02 tỉnh Bình Dương và Bình Phước; tỉnh Minh Hải tách thành 02 tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau. Sự kiện này đã đặt ra yêu cầu thành lập cơ quan BHXH tại 08 tỉnh, thành phố mới, dẫn tới hệ thống cơ quan BHXH cấp tỉnh tăng từ 53 đơn vị lên 61 đơn vị.

Thực hiện Nghị định 06/CP ngày 21/01/1997 của Chính phủ về điều chỉnh mức lương hưu và trợ cấp đối với công chức, viên chức hành chính sự nghiệp, người nghỉ hưu, mất sức, cán bộ phường, xã và một số đối tượng hưởng chính sách xã hội, trong năm 1997, toàn Ngành đã tập trung hoàn thành việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp cho đối tượng, kết hợp rà soát lại thủ tục hồ sơ của từng đối tượng hưởng lương hưu; kiểm tra các thông số tính lương hưu, trợ cấp BHXH theo quy định của Chính phủ trước đây và thực hiện điều chỉnh lại cho đúng theo quy định của pháp luật làm cơ sở cho công tác đổi sổ, đổi giấy chứng nhận hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH. Qua đó đã phát hiện rất nhiều trường hợp tính sai chế độ cho người lao động, có trường hợp sai tăng và có trường hợp sai giảm chế độ, do giai đoạn trước đây khi thực hiện quản lý BHXH phân tán thiếu kiểm tra, giám sát trong công tác giải quyết chế độ, chính sách. BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố rà soát và tính lại chế độ, đảm bảo quyền lợi cho người lao động và chống thất thoát cho ngân sách.

Tháng 02/1997, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam có sự thay đổi về nhân sự chủ chốt khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 77/TTg ngày 03/02/1997 bổ nhiệm đồng chí Hồ Tế, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam thay đồng chí Trần Đình Hoan; đồng chí Lê Duy Đồng, Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội kiêm giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam, là đại diện của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tham gia Hội đồng Quản lý.         

Ngày 26/01/1998, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế Quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam. Theo đó, chi phí quản lý bộ máy của hệ thống BHXH Việt Nam được tính bằng 6% tổng số thu trong thời gian 05 năm trước mắt (1998-2002), gồm chi cho hoạt động bảo tồn, tăng trưởng Quỹ BHXH và chi khác. Kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của hệ thống BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước cân đối cấp dần trong một số năm, ngoài ra còn được bổ sung từ tiền sinh lời do thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ đem lại. Hằng năm, BHXH Việt Nam có trách nhiệm lập dự toán thu - chi quỹ BHXH, chi quản lý bộ máy, chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trình Hội đồng Quản lý BHXH thông qua và gửi Bộ Tài chính. Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam căn cứ vào dự toán đã được thông qua để giao chỉ tiêu thu-chi cho BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyết toán thu-chi và mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc theo chế độ kế toán BHXH do Bộ Tài chính ban hành và các chế độ quản lý tài chính khác do Nhà nước quy định. Việc Chính phủ ban hành Quy chế Quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu về cơ chế hoạt động tài chính cho một ngành có tính đặc thù như BHXH, tạo điều kiện để Ngành chủ động trong việc triển khai và hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao trong giai đoạn đầu mới thành lập hết sức khó khăn, thiếu thốn.

Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực BHXH tiếp tục được quan tâm. Ngày 13/02/1998, tại Bangkok, Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA) đã chính thức được thành lập với 05 thành viên chính thức là Indonesia, Malaysia, Philippines, Sigapore, Thailand và 02 quan sát viên là Lào và Việt Nam. Tại kỳ họp cuối năm 1998, ASSA đã quyết định kết nạp Việt Nam là thành viên chính thức. Ngay sau khi trở thành thành viên ASSA, ngày 14/5/1999, BHXH Việt Nam đã đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành ASSA lần thứ 03 tại Hà Nội. Như vậy, chỉ sau chưa đầy 04 năm thành lập và đi vào hoạt động, BHXH Việt Nam không những khẳng định vị trí, vai trò trong việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động trong nước mà còn từng bước khẳng định trong các tổ chức an sinh xã hội khu vực và trên trường an sinh xã hội quốc tế.

Một trong những khó khăn lớn nhất trong những năm đầu đổi mới chính sách BHXH là sau gần 50 năm hưởng chính sách bao cấp về BHXH, trong tư duy của người lao động và chủ sử dụng lao động chưa thích nghi với việc trích một khoản từ lương và doanh số để đóng BHXH. Sự chậm chuyển biến trong nhận thức của các cấp, các ngành, người lao động, chủ sử dụng lao động về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách BHXH theo cơ chế mới dựa trên nguyên tắc có đóng, có hưởng đòi hỏi công tác tuyên truyền về chính sách BHXH cần được quan tâm thích đáng và đi vào chiều sâu. Trong thư Chủ tịch nước Trần Đức Lương gửi Hội nghị liên ngành về công tác BHXH tháng 02/1998, có nêu rõ: “…BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, mang tính xã hội và nhân đạo sâu sắc, thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Nhà nước ta đối với người lao động. Các đồng chí phải có biện pháp tuyên truyền để mọi người lao động, người sử dụng lao động ý thức được đầy đủ bản chất của BHXH, để trong một thời gian không xa BHXH phải được xã hội hoá rộng rãi hơn, mọi người lao động đều được tham gia BHXH với tính tự nguyện cao, vì lợi ích của chính mình và lợi ích chung của cộng đồng…”. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch nước, trong năm 1998, BHXH Việt Nam tập trung mạnh mẽ vào công tác tuyên truyền. Tiếp tục duy trì xuất bản ấn phẩm Thông tin BHXH và từng bước nâng cấp lên thành Tạp chí BHXH, mở rộng diện phát hành nhằm tuyên truyền sâu rộng chính sách BHXH đến các cấp, các ngành, người lao động, người sử dụng lao động và nhân dân. Ngày 23/12/1998, Tạp chí BHXH chính thức được thành lập và thực hiện xuất bản số đầu tiên vào tháng 01/1999. Thời gian đầu, đồng chí Phạm Thành, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam trực tiếp kiêm nhiệm Tổng Biên tập Tạp chí, sau do yêu cầu công tác quản lý, từ tháng 11/2009, Phó Tổng Giám đốc Phạm Thành thôi kiêm nhiệm chức danh Tổng Biên tập Tạp chí, đồng chí Trần Xuân Vinh, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin - Khoa học kiêm nhiệm chức vụ Tổng Biên tập Tạp chí (sau này, đồng chí Vinh được điều động, luân chuyển làm Hiệu trưởng Trường Đào tạo nghiệp vụ BHXH, Trưởng Ban Tuyên truyền); đồng chí Dương Xuân Nguyên được bổ nhiệm Phó Tổng Biên tập Tạp chí BHXH. Bên cạnh đó, BHXH Việt Nam còn hợp tác với các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương như Báo Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam triển khai nhiều chương trình phối hợp tuyên truyền về BHXH.       

Trong bối cảnh toàn Ngành đang ra sức khắc phục những khó khăn của buổi đầu thành lập, nỗ lực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó thì khó khăn lại đến khi giữa năm 1997, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu phát hiện mắc bệnh nan y. Trong ký ức của nhiều cán bộ BHXH Việt Nam thế hệ ấy, vẫn còn lưu giữ hình ảnh cố Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu trên giường bệnh, dù rất mệt mỏi nhưng đồng chí vẫn gắng gượng làm việc, đọc các tài liệu, báo cáo và xử lý công việc ngay tại phòng điều trị. Đến cuối năm 1997, khi bệnh diễn biến ngày càng xấu đi, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu phải sang Singapore chữa bệnh. Trước bối cảnh này, Chính phủ hết sức quan tâm đến công tác nhân sự vì BHXH Việt Nam vừa mới thành lập, công việc còn bộn bề, cần phải có phương án bổ sung nhân sự chủ chốt, vừa chủ động trong công tác chỉ đạo, điều hành, vừa giúp Tổng Giám đốc yên tâm trị bệnh. Tháng 02/1998, trong một buổi làm việc với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải yêu cầu đồng chí Trần Đình Hoan, Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xem xét việc điều động, đưa đồng chí Nguyễn Huy Ban, Vụ trưởng Vụ BHXH, Tiến sĩ Luật chuyên ngành BHXH, là người đã tham gia vào quá trình đổi mới chính sách BHXH từ những ngày đầu sang BHXH Việt Nam, cùng với 02 đồng chí Phạm Thành và Nguyễn Thành Xuyên giúp việc đồng chí Nguyễn Văn Châu. Sau khi có ý kiến thống nhất của Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam, ngày 27/03/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 198/QĐ-TTg về việc bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Huy Ban giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.

Tháng 06/1998, sau một thời gian chữa trị ở Singapore nhưng bệnh tình không thuyên giảm, đồng chí Nguyễn Văn Châu về nước, điều trị tại một bệnh viện lớn ở TP.HCM một thời gian ngắn thì qua đời. Ngay sau đó, để đảm bảo việc điều hành công việc của Ngành BHXH, Hội đồng Quản lý đã tổ chức phiên họp khẩn cấp, đề cử nhân sự cho chức danh Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Ngày 08/07/1998, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 568/QĐ-TTg về việc bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Huy Ban giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản lý, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.  

Năm 1998, mặc dù có sự thay đổi về nhân sự chủ chốt và đây cũng là giai đoạn bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế của các nước trong khu vực dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không ổn định, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Ngành, nhưng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức Ngành BHXH đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị. Đến ngày 31/12/1998, BHXH các tỉnh, thành phố, cơ quan BHXH thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ban Cơ yếu Chính phủ đã thu và chuyển về tài khoản thu của BHXH Việt Nam trên 3.824 tỷ đồng, đạt 108% kế hoạch được giao. Ngoài ra còn truy thu được trên 99 tỷ đồng nợ đọng BHXH từ các năm trước. Có 14 địa phương đạt từ mức thu 110% trở lên, gồm: BHXH TP.HCM, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiên Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Nghệ An, trong đó BHXH tỉnh Bình Dương đạt tỷ lệ cao nhất, bằng 137% kế hoạch. 

Công tác thu năm 1998 của toàn Ngành được đánh dấu bằng điểm nhấn quan trọng là tập trung vào khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh. BHXH Việt Nam đã tổ chức Hội thảo với sự tham gia của BHXH 17 tỉnh, thành phố có số lao động thuộc doanh nghiệp ngoài quốc doanh lớn và Hội nghị toàn quốc về công tác thu BHXH đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Kết quả, năm 1998, toàn quốc có 112.223 lao động ngoài quốc doanh tham gia BHXH, tăng 34,2% so với năm 1997 với số thu đạt trên 101 tỷ đồng, tăng 40,5% so với năm 1997. TP.HCM và Bình Dương là 02 địa phương thực hiện tốt công tác thu BHXH ngoài quốc doanh. Số lao động ngoài quốc doanh tham gia BHXH của TP.HCM chiếm 58,6% lao động ngoài quốc doanh tham gia BHXH trong toàn quốc. Bình Dương tuy là một tỉnh mới thành lập nhưng cũng đạt được con số khá ấn tượng với 11.147 lao động ngoài quốc doanh tham gia BHXH, chiếm gần 10% lao động NQD tham gia BHXH của toàn quốc.

Cùng với công tác thu, trong năm 1998, công tác cấp sổ BHXH, xét duyệt hồ sơ và chi trả các chế độ BHXH cũng tiếp tục được quan tâm và thực hiện hiệu quả với 95,6% người lao động đăng ký tờ khai đã được cấp sổ BHXH. Đối với các địa phương có số lao động ít, việc cấp sổ BHXH cơ bản đã được hoàn thành. Thẩm định và xét duyệt 42.909 hồ sơ hưởng BHXH hàng tháng, 102.022 hồ sơ hưởng BHXH một lần. Chi trả các chế độ BHXH với tổng số tiền lên tới 6.019 tỷ đồng. Trong điều kiện nhiều BHXH tỉnh, thành phố chưa có trụ sở làm việc ổn định, nơi làm việc còn chật hẹp, nhưng BHXH các tỉnh vẫn quan tâm phân loại, sắp xếp và lưu trữ, bảo quản hồ sơ hưởng chế độ BHXH của đối tượng hết sức cẩn thận. Đặc biệt, một số địa phương đã triển khai chương trình quản lý hồ sơ đối tượng hưởng BHXH và danh sách chi trả trên máy vi tính, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chi trả và quản lý đối tượng, có thể kể đến như BHXH TP.Hà Nội, TP.HCM, TP.Hải Phòng, Yên Bái, Quảng Trị, Lào Cai, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng và Cần Thơ,… Cũng ngay từ năm 1998 này, BHXH Việt nam đã từng bước hướng tới công tác cải cách thủ tục hành chính, nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đến giao dịch, giải quyết chế độ, chính sách tại cơ quan BHXH thông qua việc triển khai nghiên cứu Đề án Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hưởng BHXH theo mô hình “một cửa”, bước đầu áp dụng tại BHXH TP.Hà Nội và TP.HCM, hai địa bàn có đối tượng tham gia và thụ hưởng chế độ BHXH lớn nhất trong toàn quốc và được các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn đánh giá hết sức tích cực.

Để tạo điều kiện cho các địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Ngành, trong năm 1998, BHXH Việt Nam đã đầu tư xây mới 123 trụ sở làm việc của BHXH cấp quận, huyện; xây dựng 33 trụ sở BHXH tỉnh; xây dựng, sửa chữa 133 trụ sở làm việc của BHXH cấp huyện, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Ở Trung ương, cơ quan BHXH Việt Nam lúc này vẫn làm việc tại trụ sở đi thuê. Cùng với sự phát triển của Ngành, trụ sở 61 Đê La Thành ngày càng chật hẹp. Hơn nữa là trụ sở đi thuê nên cũng khó có thể sửa chữa, cải tạo, nâng cấp. BHXH Việt Nam đã xin phép và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho xây dựng trụ sở tại 291 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội, trên diện tích gần 1.000m2 đất chuyển giao từ Ủy ban Thanh niên Việt Nam. Năm 1997, Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Châu đã động thổ khởi công công trình. Đến cuối năm 1998, trụ sở đã xây dựng xong và chuẩn bị đưa vào sử dụng. Giữa lúc đó, trong một lần Tổng Giám đốc Nguyễn Huy Ban và đồng chí Đỗ Văn Sinh, Trưởng Ban Kế hoạch - Tài chính sang làm việc với Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Quang Trung, được biết Bộ Nội vụ đang trả lại trụ sở số 07 Tràng Thi (trước đó là trụ sở của Bộ Công nghiệp nhẹ) cho Nhà nước, Tổng Giám đốc Nguyễn Huy Ban và đồng chí Đỗ Văn Sinh đã báo cáo ngay với Chủ tịch Hội đồng Quản lý Hồ Tế. Sau khi thống nhất trong Hội đồng Quản lý, đồng chí Hồ Tế lên báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Phan Văn Khải về nguyện vọng xin trụ sở số 07 Tràng Thi để BHXH Việt Nam có nơi làm việc ổn định. Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, ngay trong Quý IV năm 1998, BHXH Việt Nam khẩn trương sửa chữa, cải tạo trụ sở số 07 Tràng Thi và chuyển về làm việc trước Tết Nguyên đán Kỷ Mão 1999.

Tháng 05/1999, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam tiếp tục có sự thay đổi nhân sự khi đồng chí Hoàng Minh Chúc, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam nghỉ hưu, Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định bổ nhiệm đồng chí Đặng Ngọc Chiến, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, kiêm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam, là đại diện của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tham gia Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam.

Chuẩn bị hướng tới kỷ niệm 05 năm Ngày thành lập Ngành, ngay từ cuối năm 1998, BHXH Việt Nam tổ chức phát động cuộc thi sáng tác mẫu biểu trưng BHXH Việt Nam. Chỉ sau một thời gian ngắn phát động, Ban Tổ chức cuộc thi đã nhận được 395 tác phẩm của 226 tác giả dự thi. Trên cơ sở kết quả chấm của Hội đồng nghệ thuật và Ban Tổ chức, ngày 19/01/1999, Tổng Giám đốc Nguyễn Huy Ban đã ký Quyết định trao Giải Nhất cho tác phẩm “Bông hoa tặng người lao động” của họa sỹ Nguyễn Thủy Liên, Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và chính thức công bố đây là mẫu biểu trưng của Ngành BHXH. Biểu trưng BHXH Việt Nam hình tròn, màu xanh lam, biểu hiện sự thanh bình, an sinh xã hội mà BHXH Việt Nam lấy làm tôn chỉ mục đích phục vụ người lao động. Trên nền xanh là một hình tượng nghệ thuật đa nghĩa: Cây đại thụ với tán lá hình bông hoa như chở che cho thân cây là hình tượng người lao động được cách điệu bởi chữ V (Việt Nam). Cây đại thụ ấy sinh sôi, nảy nở trong sự trường tồn của sự nghiệp BHXH nhờ sự đóng góp dựng xây của chính những người lao động. Bông hoa sen 05 cánh tượng trưng cho vẻ đẹp bình dị, gần gũi của dân tộc Việt Nam cũng là tượng trưng cho các chế độ BHXH Việt Nam đang tổ chức thực hiện. Giữa bông hoa là hình tượng người lao động vươn lên chắc khỏe trong sự bảo đảm của các chính sách BHXH. Dòng chữ BHXH Việt Nam theo hình vòng cung phía dưới là vành đai pháp lý của cơ quan quản lý và tổ chức các hoạt động của BHXH - cơ quan tin cậy nhất bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động trong cả nước.

Ngày 15/07/1999, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã có cuộc làm việc với Chủ tịch Hội đồng Quản lý và Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Cùng với các ý kiến chỉ đạo về công tác nghiệp vụ, Phó Thủ tướng Thường trực đồng ý với đề nghị của BHXH Việt Nam, lấy ngày 16/02/1995 - ngày Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập BHXH Việt Nam làm ngày truyền thống của Ngành BHXH. Hướng tới kỷ niệm 05 năm Ngày thành lập BHXH Việt Nam, tháng 10/1999, BHXH Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông, trong đó nổi bật là cuộc thi viết với chủ đề “BHXH  - Nghĩa vụ và quyền lợi” đã thu hút hàng trăm ngàn người lao động trong cả nước tham gia.

Nhằm kiện toàn Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam, sau khi đồng chí Hồ Tế nghỉ hưu, tháng 01/2000, Thủ tướng Chính phủ Quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam; điều động và bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Bường, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam.

Sau 05 năm hình thành và phát triển (1995-2000), tổ chức bộ máy BHXH Việt Nam từ Trung ương đến cấp tỉnh, thành phố và quận, huyện, thị xã đã cơ bản được kiện toàn. Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các bộ, ngành chức năng, BHXH Việt Nam đã xây dựng chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị trực thuôc và kịp thời có những sửa đổi, bổ sung nhằm kiện toàn và hoàn thiện dần cơ cấu tổ chức của các đơn vị trong toàn Ngành. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 03 khóa VIII về Chiến lược công tác cán bộ, BHXH Việt Nam đã cụ thể hóa tiêu chuẩn của từng chức danh cán bộ lãnh đạo, hướng dẫn và triển khai công tác đào tạo, quy hoạch cán bộ trong toàn Ngành. Đội ngũ công chức, viên chức của toàn Ngành đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ được giao. Tính đến 31/12/1999, toàn Ngành có 5.627 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó 0,23% có trình độ trên Đại học; 30,7% có trình độ Đại học; 46,6% có trình độ Cao đẳng, Trung cấp; 22,47% có trình độ sơ cấp. Độ tuổi bình quân dưới 30 tuổi chiếm 25,25%; từ 30 đến 50 tuổi chiếm 67,52%; trên 50 tuổi chiếm 7,23%. Cán bộ nữ chiếm 46,18%; tỷ lệ đảng viên chiếm 49,13%. Cán bộ là người dân tộc thiểu số chiếm 5,11%.

Trong 05 năm (1995-2000), BHXH Việt Nam đã vượt qua chặng đường khó khăn đầu tiên, hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ trên tất cả các mặt công tác, từng bước khẳng định việc thực hiện đổi mới chính sách BHXH đồng bộ với đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện trên một số kết quả chủ yếu như: Công tác thu BHXH từ tháng 06/1995 đến hết ngày 31/12/1999 đạt 14.665 tỷ đồng, trong đó: năm 1995, trên 778 tỷ đồng; năm 1996, gần 2.570 tỷ đồng; năm 1997, gần 3.555 tỷ đồng; năm 1998, trên 3.824 tỷ đồng; năm 1999, 4.188 tỷ đồng. So với năm 1994 - thời điểm trước khi đổi mới chính sách BHXH, các năm 1998, 1999 đều có số thu BHXH gấp hơn 10 lần. Với kết quả này, BHXH Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc hình thành Quỹ BHXH tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước, làm giảm gánh nặng cho ngân sách trong việc chi trả các chế độ BHXH, dành nguồn vốn đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế-xã hội thiết yếu khác. Cùng với số thu BHXH, số lao động tham gia BHXH cũng ngày một tăng lên. Nếu đầu năm 1995, toàn quốc có 3.174.197 người lao động tham gia BHXH thì đến cuối năm 1999, số lao động tham gia BHXH đã tăng gần 25%. Trong đó, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng mạnh nhất, trung bình mỗi năm tăng 60%. Công tác chi trả được toàn Ngành quan tâm chú trọng. Trong 05 năm, BHXH các tỉnh, thành phố đã chi trả kịp thời, đầy đủ và an toàn trên 24.076 tỷ đồng, trong đó chi từ ngân sách nhà nước trên 20.838 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH trên 3.238 tỷ đồng. Ngoài ra, bình quân mỗi năm còn chi trả khoảng 200 tỷ đồng cho hàng triệu lượt người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản. Riêng đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng được nhận lương hưu sớm hơn so với trước từ 10 đến 15 ngày. Những cán bộ làm công tác chi trả phải thường xuyên tiếp xúc với một lượng tiền mặt lớn, nhưng trong 05 năm, toàn Ngành không có trường hợp nào chiếm dụng tiền của đối tượng, là một thành tích rất đáng trân trọng. Công tác xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH được đảm bảo kịp thời, chặt chẽ, đúng pháp luật với 161.888 hồ sơ hưởng BHXH hàng tháng và 347.943 hồ sơ hưởng trợ cấp một lần đã được giải quyết. Công tác quản lý hồ sơ đối tượng hưởng BHXH đã được BHXH Việt Nam từng bước ổn định và đi vào nền nếp. Năm 1995, khi tiếp nhận hồ sơ đối tượng hưởng BHXH từ Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội chuyển sang, chỉ có danh sách người hưởng mà chưa có hồ sơ. BHXH Việt Nam đã nỗ lực bổ sung hồ sơ, tổ chức phân loại, sắp xếp và bảo quản khoa học, tạo điều kiện cho công tác quản lý đối tượng, khai thác và sử dụng hồ sơ sau này. Trong giai đoạn 1995-1997, mặc dù BHXH nhiều tỉnh, thành phố chưa có trụ sở ổn định, nơi làm việc chật hẹp nhưng hồ sơ của đối tượng vẫn được bảo quản cẩn thận trong mọi trường hợp, đặc biệt là các tỉnh hay có lũ lụt và mưa bão kéo dài. Để đưa các hoạt động của Ngành vào nền nếp, góp phần thực hiện đúng chế độ quản lý tài chính, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hiện tượng sai phạm, tiêu cực trong thực hiện chế độ, chính sách, BHXH Việt Nam đã tăng cường kiểm tra trên tất cả các mặt công tác của Ngành. Công tác đầu tư, bảo toàn và tăng trưởng Quỹ BHXH được thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ và Hội đồng Quản lý. Trong 05 năm, đã đầu tư trên 10.628 tỷ đồng, số lãi thu được qua các năm đạt trên 1.351 tỷ đồng. Kết quả bước đầu này là cơ sở để BHXH Việt Nam nghiên cứu, đề xuất với Hội đồng Quản lý và Chính phủ những biện pháp đầu tư hiệu quả và an toàn… Có thể thấy, nét nổi bật nhất trong 05 năm đầu hoạt động của BHXH Việt Nam là Ngành đã tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách BHXH theo cơ chế mới, dần dần xoá bỏ tính bao cấp trong chính sách BHXH của giai đoạn trước đây, tạo điều kiện mở rộng dần BHXH đến mọi người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thông qua việc huy động nhiều nguồn đóng góp vào Quỹ BHXH, từng bước thực hiện cân đối thu, chi BHXH. Đổi mới chính sách BHXH có vai trò hết sức quan trọng trong đổi mới hệ thống chính sách xã hội, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước, thực hiện công bằng, an toàn, tiến bộ. Đáng lưu ý là ngay từ giai đoạn khởi điểm này, xuất phát từ thực tiễn tổ chức thực hiện BHXH tập trung, đã có nhiều ý kiến đề xuất mở rộng loại hình BHXH tự nguyện bên cạnh BHXH bắt buộc nhằm đảm bảo công bằng trong hưởng thụ chính sách giữa khu vực lao động chính thức và phi chính thức, đặc biệt là đối tượng người lao động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; các vấn đề về mức đóng góp vào Quỹ BHXH, tuổi nghỉ hưu của nữ giới làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp, cơ quan đảng, đoàn thể,… cần được nâng lên ngang bằng với nam giới; tiền lương làm cơ sở đóng BHXH; cách tính hưởng lương hưu; các vấn đề về BHXH tự nguyện và BHTN; giao chức năng thanh tra cho BHXH Việt Nam nhằm tăng thẩm quyền kiểm soát việc tuân thủ chính sách, pháp luật về BHXH tại các đơn vị sử dụng lao động… đã được đặt ra.

Năm 2000, kỷ niệm 05 năm ngày thành lập BHXH Việt Nam, Chủ tịch nước đã ký Quyết định tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất cho cán bộ, công chức, viên chức Ngành BHXH Việt Nam vì đã có thành tích xuất sắc trong nhiều năm công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 01/03/2000, tại Hà Nội, BHXH Việt Nam đã tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất và kỷ niệm 05 năm ngày thành lập Ngành. Đến dự và chia vui với tập thể cán bộ, công chức, viên chức Ngành BHXH, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ghi nhận những nỗ lực, cố gắng của toàn Ngành, đồng thời, Phó Thủ tướng Thường trực chỉ đạo: “Trên cơ sở những định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước tới năm 2010, BHXH Việt Nam khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ thông qua chiến lược phát triển Ngành BHXH Việt Nam đến năm 2010; trong đó phải cụ thể từng mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình, theo hướng: mở rộng đối tượng tham gia BHXH, quản lý toàn bộ số lao động cần và phải tham gia BHXH, cơ chế chính sách về thu, chi BHXH, tổ chức bộ máy… và giải pháp thực hiện. Đề án phải rõ, có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi và có khả năng vươn rộng phạm vi hoạt động của mình”.  

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, BHXH Việt Nam đã xây dựng Đề án và tổ chức nhiều cuộc Hội thảo ở các cấp, lấy ý kiến của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và hoàn thiện Đề án. Với quan điểm phát triển hệ thống BHXH phải phù hợp với chiến lược phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển BHXH cần tuân thủ 03 nguyên tắc cơ bản: BHXH phải được phát triển trong tổng thể hệ thống các chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước; Quỹ BHXH phải được huy động từ nhiều nguồn đóng góp và có khả năng cân đối dài hạn; hệ thống BHXH Việt Nam phải xây dựng từng bước hiện đại hóa để đủ sức thực hiện chức năng quản lý các chế độ BHXH hiệu quả, bảo đảm tốt vai trò bảo vệ xã hội, góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị. Đề án cũng đưa ra các định hướng và giải pháp phát triển BHXH đến năm 2010: (1) Hoàn thiện các cơ sở pháp lý thực hiện BHXH, trong đó nội dung chủ yếu là khẩn trương xây dựng Luật BHXH theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết của Quốc hội khóa IX; (2) Coi trọng phát triển BHXH cả về chiều rộng (bao gồm mở rộng đối tượng tham gia BHXH) lẫn chiều sâu (mở rộng các hình thức BHXH, các chế độ BHXH); (3) Xúc tiến thiết lập và mở rộng quan hệ của BHXH Việt Nam với BHXH các nước trong khu vực và trên thế giới; (4) Phát triển và hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của Ngành BHXH nhằm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Năm 2001, năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới, trong không khí toàn Đảng, toàn dân thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Đại hội lần này của Đảng đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong cả chặng đường dài đến năm 2010 và 2020. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ của Ngành BHXH là góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước, rất nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang. Sau khi tổ chức Lễ Kỷ niệm 05 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất, đã tạo ra một khí thế mới trong toàn Ngành BHXH. Trong năm 2000, toàn hệ thống BHXH Việt Nam thu đạt 109% kế hoạch giao; thu BHXH khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng thêm 200.000 lao động so với năm 1999; chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng với số tiền trên 7.566 tỷ đồng; giải quyết chế độ cho 58.335 người hưởng BHXH thường xuyên; trên 01 triệu người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản với số tiền trên 200 tỷ đồng. Năm 2001, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, toàn Ngành BHXH tiếp tục hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch với tỷ lệ thu BHXH đạt 103,6%; BHXH 61 tỉnh, thành phố và BHXH Quốc phòng, An ninh đều đạt từ 100% kế hoạch trở lên. Số lao động tham gia BHXH đạt 4.403.870 người, tăng 161.140 người (tương ứng 3,8%) so với năm 2000, trong đó, khối doanh nghiệp nhà nước tăng 54.281 người, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 49.873 người và các đơn vị ngoài công lập tăng 12.917 người. Chi các chế độ BHXH với số tiền trên 9.215 tỷ đồng; thẩm định hồ sơ, giải quyết chế độ BHXH hàng tháng cho 65.076 đối tượng và 137.094 lượt người hưởng trợ cấp BHXH ngắn hạn... Đây là nền tảng vững chắc để Ngành BHXH bước vào thiên niên kỷ mới với tâm thế và quyết tâm mới. 

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHXH tiếp tục được tăng cường.Vai trò của BHXH Việt Nam trong Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN tiếp tục được nâng cao. Ngày 02/8/2002, BHXH Việt Nam đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành ASSA lần thứ 10 tại TP. Hồ Chí Minh. Trong nhiệm kỳ Chủ tịch đầu tiên 2002 - 2003, BHXH Việt Nam đã hoàn thành tốt trọng trách của mình, ghi dấu bằng việc mở rộng Hiệp hội thông qua việc kết nạp thêm 02 thành viên mới là cơ quan BHXH Lào và Cơ quan BHYT Philipines và đón nhận các quan sát viên ngoài ASEAN.

Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới và gần 05 năm tổ chức thực hiện chính sách BHXH theo mô hình tập trung, độc lập, thống nhất, Đảng ta đã xác định kiên định mục tiêu đổi mới toàn diện, đặc biệt là trong lĩnh vực chính sách xã hội. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) đã chỉ ra “Thực hiện các chính sách xã hội nhằm tạo ra sự an toàn trong cuộc sống cho mọi thành viên của cộng đồng, bao gồm BHXH cho mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế”, “Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp”; đồng thời, Đại hội đã thông qua Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2001-2005, trong đó xác định “Cải cách cơ chế BHXH và bảo đảm xã hội, cải cách và tăng cường chất lượng hệ thống BHXH, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho nhân dân, nhất là cho người nghèo, vùng nghèo. Ban hành Luật BHXH”.

Nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHXH, ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động 1994, trong đó có sửa đổi, bổ sung 06 điều quy định về BHXH theo hướng mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; đưa ra định hướng mở rộng các loại hình BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp. Đặc biệt, sau hơn một năm triển khai BHXH nông dân tại Nghệ An và Hà Tây, tháng 02/2000, BHXH tỉnh Nghệ An đã tổ chức trao sổ hưu cho người nông dân đầu tiên được nhận lương hưu trong cả nước là bà Hồ Thị Quyền ở xóm 06, xã Quỳnh Lộc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An với mức lương hưu 100.000 đồng/tháng. Sự kiện này đã thu hút sự quan tâm của nông dân cả nước. Nhiều nông dân bày tỏ nguyện vọng được tham gia BHXH để có một khoản thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động, đảm bảo cuộc sống tối thiểu. Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để thiết kế chính sách BHXH tự nguyện khi xây dựng Luật BHXH sau này.

Thực hiện Nghị quyết của kỳ họp thứ 02 Quốc hội khóa X và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, trong năm 2001 và 2002, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, BHXH Việt Nam đã chủ trì phối hợp với các ban, bộ, ngành… khởi động nhiều hoạt động chuẩn bị cho việc xây dựng Dự thảo Luật BHXH. Mở đầu cho chuỗi hoạt động này có thể kể đến Hội thảo về xây dựng Luật BHXH ở Việt Nam do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với Viện nghiên cứu chính sách xã hội Cộng hòa Liên bang Đức (FES) tổ chức. Tham dự Hội thảo này có đại diện lãnh đạo Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, BHXH Việt Nam, Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam… Về cơ bản, đại diện các ban, bộ, ngành, tổ chức… đều đồng tình cao với sự cần thiết phải ban hành Luật BHXH nhằm tăng hiệu lực pháp lý thực hiện BHXH. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, có nhiều ý kiến muốn tách Quỹ BHXH ra các quỹ thành phần, do từng cơ quan quản lý theo các chế độ BHXH như trước đây. Việc xây dựng Luật BHXH vì vậy gặp rất nhiều khó khăn.

Ngày 28-29/03/2001, tại phiên họp thường kỳ của Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã trình Thủ tướng Chính phủ Dự thảo Luật BHXH lần thứ nhất, xin ý kiến các thành viên Chính phủ. Đa số các thành viên Chính phủ thống nhất cao, Quỹ BHXH cần phải được quản lý tập trung, thống nhất, xuất phát cả từ góc độ lý luận và thực tiễn. Cũng tại phiên họp này, đã có nhiều ý kiến đưa ra vấn đề, theo Công ước 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì BHYT thực chất là một nội dung của BHXH. Vì vậy, đã đến lúc cần xem xét đưa BHYT về một đầu mối với BHXH.

Ngày 22/05/2001, tại Hội trường Ba Đình (Hà Nội), kỳ họp thứ 09 Quốc hội khóa X đã được khai mạc. Trong kỳ họp lần này, Quốc hội thông qua nhiều dự án Luật quan trọng, đặc biệt là đã xem xét và cho ý kiến với Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động và Dự thảo Luật BHXH. Mặc dù được trình lần đầu và là vấn đề mới, nhưng Dự thảo Luật BHXH với phạm vi ảnh hưởng rộng lớn đến mọi người lao động đã thu hút sự quan tâm của đại biểu với trên 200 lượt ý kiến đóng góp. Bên cạnh những đóng góp vào những quy định về chế độ, chính sách BHXH, nhiều ý kiến đại biểu cho rằng, thực hiện Nghị định 19/CP, cơ quan BHXH Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và các cơ quan nhà nước về lĩnh vực có liên quan nên có nhiều khi hoạt động BHXH bị động và phụ thuộc, nay ban hành Luật BHXH và có chủ trương sáp nhập Bảo hiểm y tế (BHYT) vào BHXH thì cần thành lập một bộ hoặc cơ quan ngang bộ là thành viên của Chính phủ để nâng cao trách nhiệm và vị thế của Ngành BHXH cho tương xứng với nhiệm vụ, cũng là tạo điều kiện để BHXH tổ chức thực hiện tốt Luật BHXH. Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng, Đoàn đại biểu TP.HCM phát biểu: “Với tên gọi, phạm vi và quy mô khác nhau, song hầu như nước nào cũng có Luật BHXH, An sinh xã hội. Dự thảo Luật BHXH mà chúng ta đang xây dựng có tính ưu việt hơn hẳn, vì mục tiêu của nó là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Luật BHXH của ta mở rộng đến toàn bộ người lao động nhằm động viên họ chuẩn bị tốt cho cuộc sống về sau. Các chính sách BHXH của ta rất rộng. Hiện nay chúng ta để tách riêng BHYT chỉ là tạm thời và về mặt tổ chức; còn thực tế trong hệ thống chính sách xã hội, BHYT chính là một chế độ của BHXH. Người lao động không chỉ được nghỉ hưu, mà còn được quan tâm đến mọi mặt trong đời sống, trong đó có chăm sóc sức khỏe…”.

Do còn nhiều vấn đề chưa thống nhất, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X quyết định chưa thông qua Dự án Luật BHXH để Chính phủ có thêm thời gian tập hợp ý kiến đóng góp của các tổ chức, quần chúng, nhân dân, người lao động trong các thành phần kinh tế, tiếp tục hoàn thiện Dự án Luật BHXH, trình Quốc hội vào những kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XI./.

 

 

 

SỰ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN BHYT Ở VIỆT NAM

          

1. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân những năm đầu đổi mới

Tháng 12/1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội VI đã đánh giá, phân tích chỉ rõ nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội từ nhiều năm trước, đề ra các định hướng lớn đưa đất nước vượt khó khăn, thách thức.

Để ổn định tình hình và đưa cách mạng nước ta tiếp tục đi lên. Nghị quyết Đại hội xác định “đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực”, “trọng tâm trước mắt là đổi mới chính sách kinh tế”, giữ vững ổn định chính trị là tiền đề để bảo đảm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Phải đổi mới tư duy, “trước hết là tư duy kinh tế”, “từ đổi mới tư duy mà có chủ trương chính sách mới”, đồng thời “đổi mới về tổ chức, về cán bộ” để thực hiện tốt những nhiệm vụ đã đề ra.

Tình hình kinh tế sau vài năm đầu đổi mới gặp vô vàn khó khăn. Từ giữa năm 1988 trở đi, các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế và đời sống nhân dân dần dần được cải thiện, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, đã xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực. Lối làm ăn chạy theo lợi nhuận bất kể giá nào, dẫn đến vi phạm pháp luật, lừa đảo, hối lộ, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, xâm phạm nghiêm trọng tài sản xã hội chủ nghĩa và công dân... Xu hướng chạy theo buôn bán nhiều hơn sản xuất, thương mại hóa tràn lan, xâm nhập vào cả các cơ quan văn hóa, y tế, giáo dục...; kỷ luật, kỷ cương và pháp luật không nghiêm, bất công xã hội tăng lên.

Việc thực hiện chính sách xã hội tuy có một số tiến bộ nhưng chưa được quan tâm đúng với tầm quan trọng của nó và còn nhiều thiếu sót. Đời sống của một bộ phận nhân dân so với 05 năm trước ổn định hơn, có được cải thiện nhưng nhìn chung còn khó khăn, vẫn có khoảng trên dưới 10% hộ nông dân còn thường xuyên khó khăn, túng thiếu. Ở những vùng hay bị thiên tai, một số vùng núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số, ở những nơi có nhiều gia đình thuộc diện chính sách, các gia đình neo đơn thì tỷ lệ trên còn cao hơn. Một bộ phận không nhỏ nhân dân ta còn sống dưới nhu cầu tối thiểu. Khó khăn gay gắt và mức sống bị giảm sút nhiều nhất là ở những đối tượng mà nguồn thu nhập chính dựa vào tiền lương và trợ cấp xã hội.

Trong tình hình đổi mới, chống quan liêu bao cấp, đẩy mạnh cơ chế thị trường, ngành y tế nói chung và bệnh viện nói riêng gặp nhiều khó khăn, bất cập do cơ chế cũ cần xóa bỏ và cơ chế mới chưa hình thành, các cơ sở khám, chữa bệnh (KCB) lâm vào tình trạng khó khăn trầm trọng về kinh phí duy trì hoạt động, không có điều kiện để củng cố và phát triển. Tâm lý người bệnh cũng dần thay đổi và trở nên thực dụng hơn, đòi hỏi chăm sóc y tế thiết thực, nhanh chóng và có hiệu quả, để có nhiều thời gian đầu tư cho hoạt động kinh tế. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu có một số tiến bộ nhưng còn nhiều vấn đề phải giải quyết. Đa số các bệnh viện từ Trung ương đến tỉnh, huyện xuống cấp nhiều. Bệnh sốt rét phát triển ở một số huyện, xã miền núi. Kinh phí của Nhà nước không đủ cho nhu cầu của y tế, nhưng chưa có những hình thức và biện pháp thích hợp để giải quyết. Vệ sinh môi trường như cung cấp nước sạch, giải quyết chất thải công nghiệp, bảo vệ môi trường sống là những vấn đề tồn tại lớn.

Trong khi đó, chi phí khám, chữa bệnh ngày một tăng do áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật y tế, các trang thiết bị máy móc hiện đại đắt tiền sử dụng trong chẩn đoán, điều trị. Việc sử dụng các biệt dược, thuốc men đắt tiền, đa dạng trong điều trị cũng là một trong các nhân tố làm tăng nhanh chi phí khám, chữa bệnh. Các cơ sở khám, chữa bệnh ở nước ta đứng trước những khó khăn rất lớn do nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng, trong khi đó khả năng tài chính Nhà nước cấp cho Ngành Y tế tăng không kịp với tình hình trượt giá và lạm phát. Ngân sách nhà nước dành cho y tế chỉ đủ để trả lươg duy trì và vận hành bộ máy hoạt động của các cơ sở y tế. Các cơ sở y tế tiếp tục xuống cấp, đời sống cán bộ, nhân viên y tế gặp nhiều khó khăn.

Do thiếu kinh phí cho hoạt động y tế, Nhà nước phải giảm phát triển sự nghiệp y tế, giường bệnh không tăng, nhu cầu KCB nhiều mặt bị cắt giảm, kìm hãm sự phát triển y học: các dịch vụ y tế giảm nhanh dẫn đến tình trạng bệnh nhân tự chi trả dịch vụ KCB, nảy sinh nhiều tiêu cực trong y tế và nhân dân; lãng phí lao động xã hội; y tế ở nông thôn chưa được chăm sóc tốt; các tuyến y tế bị phá vỡ, người bệnh “tràn” lên tuyến trên, làm cho y tế các tuyến hoạt động kém hiệu quả, luôn thụ động đối phó với yêu cầu trước mắt. Cũng một phần do thiếu kinh phí nên y học chuyên sâu phát triển chậm, chưa phục vụ đắc lực cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh cho nhân dân. Tình hình sức khỏe, bệnh tật của nhân dân có nhiều vấn đề đáng lo ngại. Những tiêu cực trong y tế làm xói mòn lương tâm và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ y tế. Có không ít nơi người bệnh bị phân biệt đối xử, tạo ra những bất công xã hội, làm cho người dân ngày càng giảm lòng tin đối với cơ sở KCB.

Theo thống kê 05 năm 1986-1990, nhu cầu khám, chữa bệnh của một cán bộ công nhân viên tại chức bình quân là 2,5 lần/năm, của người nghỉ hưu, mất sức là 16 lần/năm, chí phí KCB bình quân cho một người/năm lúc đó khoảng 50.000đ. Trong khi đó ngân sách nhà nước cấp cho ngành y tế hàng năm có hạn. Từ 1991, mặc dù đầu tư của ngân sách nhà nước tăng nhanh (từ 130 tỷ đồng năm 1991 đến 650 tỷ đồng năm 1992) nhưng so với nhu cầu chi phí thực tế của Ngành Y tế cũng mới chỉ đáp ứng được từ 50 - 54%, do vậy ngân sách y tế bị thiếu hụt rất lớn.

Thực hiện chủ trương đổi mới trên lĩnh vực y tế với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Để bổ sung nguồn kinh phí và giảm bớt sức ép căng thẳng của các cơ sở khám, chữa bệnh, ngày 24/04/1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 45/HĐBT cho phép các cơ sở khám, chữa bệnh thu một phần viện phí. Ngày 15/06/1989, liên Bộ Y tế - Tài chính ban hành Thông tư số 14 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 45/HĐBT nêu rõ: “Ở những nơi có điều kiện, có thể áp dụng thử chế độ bảo hiểm sức khỏe hoặc ký hợp đồng khám, chữa bệnh với các tổ chức y tế trong quốc doanh và ngoài quốc doanh, lập các quỹ bảo trợ y tế địa phương hoặc y tế cơ sở giúp đỡ người bệnh không có khả năng trả một phần viện phí”. Đó là những dấu hiệu quan trọng ban đầu của quá trình đổi mới, tìm tòi một giải pháp phù hợp đòi hỏi của thực tiễn công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Do nhiều năm được Nhà nước bao cấp, nên Ngành Y tế lúng túng trước cơ chế thu một phần viện phí. Biểu hiện rõ nhất là công suất giường bệnh các tuyến đều thấp. Vào thời điểm này, có địa phương công suất giường bệnh tuyến huyện chỉ đạt 30%, ở tuyến thành phố đạt 50 - 60% kế hoạch năm.

Đánh giá về tình hình công tác bảo vệ sức khỏe những năm đầu đổi mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 14/01/1993  đã chỉ rõ về những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân:  “... Những năm gần đây, Ngành Y tế có nhiều biểu hiện xuống cấp, có mặt khá nghiêm trọng. Công tác vệ sinh phòng bệnh kém, chưa quan tâm đầy đủ các hoạt động mang tính quần chúng. Y tế cơ sở suy yếu. Nhiều bệnh viện xuống cấp cả về cơ sở vật chất, tổ chức quản lý, điều trị và tinh thần phục vụ.

Một số chủ trương như thu viện phí, cho các cơ sở y tế nhà nước KCB ngoài giờ... tuy có giải quyết được một phần khó khăn, nhưng lại làm nảy sinh những vấn đề mới, những tiêu cực, việc thu viện phí còn tùy tiện, gây nhiều khó khăn, phiền hà cho nhân dân, nhất là cho những bệnh nhân nghèo. Các cơ sở y tế tư nhân phát triển nhanh, giúp cho nhân dân KCB thuận lợi hơn, nhưng quản lý không chặt chẽ nên cũng gây ra  những ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Những biểu hiện tiêu cực trên đây đã làm tổn hại đến đạo lý, uy tín của Ngành Y tế và đạo đức của người thầy thuốc dưới chế độ ta, gây bất bình trong nhân dân”.

Những nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân được Ban Chấp hành Trung ương nêu ra là: “Ngành Y tế chậm đổi mới. Công tác quản lý còn nhiều yếu kém, ít quan tâm đến các giải pháp xã hội như giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh. Chưa động viên tốt các tiềm năng của cộng đồng, của nền y học cổ truyền dân tộc; chưa có các biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực. Các cấp bộ đảng và chính quyền còn xem nhẹ việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác chăm sóc sức khỏe. Cơ cấu các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội chưa chú trọng tổ chức và vận động nhân dân tham gia các phong trào vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe. Đầu tư của Nhà nước còn hạn chế. Không kịp thời có chính sách hỗ trợ cho y tế cơ sở ở nông thôn khi thực hiện cơ chế khoán mới trong nông nghiệp. Tâm lý ỷ lại, hậu quả của nhiều năm thực hiện các chính sách bao cấp còn khá phổ biến. Kinh tế phát triển chậm, dân số tăng nhanh, hậu quả chiến tranh và thiên tai nặng nề, là những khó khăn đối với sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân”.

Thực hiện Quyết định 45 của Hội đồng Bộ trưởng, các bệnh viện khắc phục được một phần nào khó khăn. Nhưng thực tế giải pháp thu một phần viện phí chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu khám, chữa bệnh của một số đối tượng, chủ yếu là những người có thu nhập khá. Còn đại bộ phận những người có thu nhập thấp không được bao cấp như trước, khi ốm đau không có điều kiện tài chính để được khám, chữa bệnh, đặc biệt đối với những trường hợp bệnh nặng chi phí cao. Người có công với cách mạng, người hưu trí mất sức, người thu nhập thấp, người nghèo là các đối tượng gặp nhiều khó khăn nếu chẳng may ốm đau, bệnh tật.

Làm gì và làm như thế nào để thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân là câu hỏi lớn đặt ra trong thời điểm lúc đó. Yêu cầu của thực tiễn đã tới lúc đòi hỏi phải đổi mới tư duy, nhanh chóng cần có cơ chế chính sách mới cho tất cả các bệnh viện trong cả nước. Qua kinh nghiệm của thế giới, rất ít nước để cho một người phải gánh chịu mọi chi phí về khám, chữa bệnh, nhất là những lúc ốm đau (trừ những người có khả năng muốn chữa bệnh theo yêu cầu) mà thường là nhiều người góp tiền để giúp 01 người qua hình thức BHYT, coi đó là nghĩa vụ của mọi người với đồng loại và rồi đến lúc mình ốm lại được mọi người giúp đỡ. Cùng một nguyên lý như vậy, không một Nhà nước nào lại bao cấp toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh, làm như vậy sẽ dẫn đến trì trệ, xuống cấp, gây ra tình trạng ỷ lại. Các nước có nền kinh tế phát triển, phần Nhà nước đầu tư cho y tế không quá 60%, còn 40% là qua BHYT.

Xuất phát từ ý nghĩ như vậy, một số cấp ủy, chính quyền và y tế địa phương đã mạnh dạn tìm cách tháo gỡ khó khăn để duy trì hoạt động của bệnh viện địa phương bằng cách vận động, quyên góp trong nhân dân dưới nhiều hình thức để có thêm nguồn tài chính cho y tế phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh cho dân và hướng tới tổ chức BHYT. Đặc biệt là ở các nơi dân cư còn nghèo đã xuất hiện giải pháp này sớm nhất như huyện Sông Thao (Vĩnh Phú), KrôngBông (Đắc Lắc), Cầu Ngang (Trà Vinh)...

Năm 1987, nhằm quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, nghiên cứu đường lối đổi mới của Đảng, Vụ Y tế - Ban khoa giáo Trung ương đã nghiên cứu từ thực tiễn phong trào “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và giới thiệu đề án thí điểm bảo hiểm sức khỏe do BS.Trần Khắc Lộng, Phó Vụ trưởng Vụ Y tế chủ trì. Tạp chí Thông tin khoa giáo số tháng 4/1987 của Ban Khoa giáo Trung ương đã công bố bài viết của BS.Trần Khắc Lộng nêu vấn đề phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong y tế, thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, huy động tiềm năng của xã hội, tiến tới bảo hiểm sức khỏe nhân dân… Được lãnh đạo Ban Khoa giáo cho phép bàn với Bộ Y tế xin phép Hội đồng bộ trưởng triển khai tổ chức thí điểm ở một số vùng miền để tổng kết, rút kinh nghiệm tiến tới tổ chức chính sách BHYT ở Việt Nam.

Theo đề nghị của Bộ Trưởng Bộ Y tế, ngày 26/10/1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Thông tri số 3504/KG chỉ đạo UBND các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, Bộ Y tế tổ chức thí điểm BHYT và yêu cầu chỉ đạo chặt chẽ, từ đó tổng kết đúc rút kinh nghiệm để tổ chức BHYT phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện nước ta.

 

 2.  Vĩnh Phú xây dựng Quỹ khám, chữa bệnh nhân đạo tự nguyện ở Bệnh viện huyện Sông Thao

Bệnh viện huyện Sông Thao Vĩnh Phú là huyện khởi xướng thành lập Quỹ bảo hiểm khám chữa bệnh nhân đạo có sự chỉ đạo của Giám đốc sở y tế Vĩnh Phú. Công việc đã triển khai và đi vào hoạt động  được một thời gian thì chủ trương thí điểm BHYT được công bố. Tháng 05/1989, theo đề nghị của Bộ Y tế, Sở Y tế Vĩnh Phú (sau này chia tách thành Phú Thọ và Vĩnh Phúc) và Thường vụ huyện ủy Sông Thao đã bàn bạc và thống nhất chỉ đạo tổ chức thí điểm Bảo hiểm y tế theo đề án hướng dẫn chung .. Là công việc hoàn toàn mới nên huyện uỷ Sông Thao cùng với lãnh đạo Sở Y tế dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã nghiên cứu tham khảo tài liệu về BHYT, các định hướng của Trung ương, cùng với hoàn cảnh thực tiễn của địa phương để xây dựng dự án và quy chế hoạt động.

Sông Thao là một huyện vùng rừng núi, chiêm trũng, cách biệt với tỉnh bởi con sông Hồng, đi lại hết sức khó khăn. Khi đó, huyện có 41 xã, dân số 27 nghìn người. Trong đó có 17 xã có đồng bào công giáo. Đời sống nông dân gặp rất nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân đầu người không nổi 200 kg thóc/năm. Kinh phí định mức theo giường bệnh thấp, trả lương cho CBCNV y tế đã khó khăn, nhưng tiền phụ cấp, tiền trực cho cán bộ, nhân viên còn khó khăn hơn. Làm  thế nào để nâng được định mức giường bệnh lên và làm thế nào để chăm sóc tốt hơn sức khỏe cho người bệnh, đặc biệt với những người nghèo là những suy nghĩ trăn trở của Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế Sông Thao.

Ngày 22/08/1989, Huyện ủy Sông Thao ban hành Nghị quyết số 56/NQ-HU thành lập Ban vận động xây dựng Quỹ bảo hiểm khám, chữa bệnh nhân đạo, do đồng chí Nguyễn Văn Lịch, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy làm Trưởng ban, đồng chí Phó Chủ tịch phụ trách khối VHXH làm Phó Trưởng ban và bác sỹ Tô Hạ, Giám đốc TTYT huyện Sông Thao làm Phó Trưởng ban Thường trực, cùng với một số thành viên đại diện các ngành hữu quan như công đoàn, nông dân, phụ nữ, thanh niên, thông tin văn hóa, tài chính...

Bước đầu huyện Sông Thao làm điểm tại 03 xã Tuy Lộc, Phương Xá, Sai Ngạ. Đó là 03 xã đông dân, điều kiện kinh tế có khá hơn, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền xã chặt chẽ và thống nhất cao. Cách vận động là phân tích cho nông dân rõ kinh phí của Nhà nước dùng cho y tế còn nhiều khó khăn. Cho nên phải huy động thêm sức dân để chăm lo sức khỏe cho mình và cho cộng đồng. Mức đóng góp tỷ lệ thuận với mức được hưởng, quy định cụ thể cho các mức khác nhau. Tất cả những nội dung đó đều được đưa xuống tận thôn, xóm để người dân họp thảo luận, đề đạt ý kiến, nguyện vọng, thống nhất thực hiện. Sau một tuần tuyên truyền vận động tại 03 xã, Ban Chỉ đạo mở hội nghị rút kinh nghiệm và triển khai ra 11 xã khác cùng với tất cả các cơ quan đóng trên địa bàn huyện. Từ tháng 08/1989 đến tháng 11/1990, huyện Sông Thao phát hành loại phiếu cho cá nhân với mức mua là 1.200 đồng và 600 đồng. Mức bảo hiểm tối đa là 20.000 đồng cho phiếu 1.200 đồng và 10.000 đồng cho phiếu 600 đồng. Phiếu cá nhân chỉ dùng cho chính người có phiếu. Sau khi nghiên cứu xem xét nhu cầu của bà con nông dân, từ tháng 12/1990, Ban Chỉ đạo Bảo hiểm khám, chữa bệnh Sông Thao phát hành loại phiếu theo hộ gia đình với 03 loại: loại hộ độc thân mức mua 2.000 đồng, được hưởng bảo hiểm gấp 10 lần, loại 2-4 khẩu mức mua 4.000 đồng, được hưởng bảo hiểm gấp 10 lần, loại từ 05 khẩu trở lên mức mua 5.000 đồng, được hưởng bảo hiểm gấp 12 lần. Quyền lợi và trách nhiệm thực hiện là 12 tháng kể từ ngày mua bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm đảm bảo tiền thuốc, vật tư dạng thuốc cho bệnh nhân điều trị nội trú. Kết quả sau 03 đợt thực hiện từ tháng 08/1989 đến 31/12/1991, tỷ lệ người mua bảo hiểm cá nhân bằng 4,59% dân số trong huyện và mua theo hộ gia đình bằng 7,4% dân số. Tổng thu cả 03 đợt là 16.960.660 đồng, tổng chi là 8.580.432 đồng, còn dư 8.380.220 đồng (bằng 49,9%).

Qua thực tế làm điểm ở 03 xã và nhân diện rộng trên quy mô toàn huyện, cán bộ và nhân dân nhận thức được bảo hiểm khám, chữa bệnh là một chủ trương đúng, cần thiết, phù hợp tình hình thực tiễn. Nhân dân thấy rõ lợi ích của bảo hiểm là mọi người chủ động lo kinh phí cho mình đi bệnh viện từ khi còn khỏe. So sánh 03 nguồn: nguồn ngân sách của nhà nước, nguồn viện phí và nguồn thu từ bảo hiểm khám, chữa bệnh lúc đó, thì nguồn kinh phí của bảo hiểm chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 46%, nguồn thu viện phí là 16,38%, nguồn định mức nhà nước cấp là 37,2%. Bảo hiểm khám, chữa bệnh mang lại giá trị cao về mặt kinh tế, ý nghĩa nhân đạo giúp đỡ lẫn nhau của mọi người trong cộng đồng, đóng góp nguồn tài chính quan trọng để mua thuốc, mua vật tư y tế phục vụ bệnh nhân.

Tiếp theo Sông Thao, huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú cũng tiến hành triển khai thí điểm bảo hiểm khám, chữa bệnh ở 04 xã (Vũ Dy, Tứ Trung, Ngũ Kiên, Bình Dương). Ngày 09/11/1990, UBND tỉnh Vĩnh Phú ra Quyết định số 752/QĐ-UB thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Quỹ BHYT tỉnh Vĩnh Phú. Ông Nguyễn Kim Trân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban, BS. Nguyễn Kim Chất, Giám đốc Sở Y tế, Phó ban Thường trực, các thành viên khác thuộc Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động, Hội Phụ nữ tỉnh. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo thí điểm có kết quả ở huyện Sông Thao và huyện Vĩnh Lạc về xây dựng Quỹ BHYT; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện, sơ kết rút kinh nghiệm ở điểm chỉ đạo, báo cáo UBND tỉnh và Bộ Y tế trước khi mở rộng ở các địa phương trong tỉnh. Tình hình thực hiện thí điểm ở Sông Thao đã cho thấy nhờ có nguồn quỹ đóng góp của nhân dân mà nhiều người mắc phải những căn bệnh nặng đã được chữa trị kịp thời. Nguồn Quỹ khám, chữa bệnh BHYT cũng đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cấp các cơ sở khám, chữa bệnh, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh tốt hơn, được nhân dân tin tưởng. Công suất hoạt động của Trung tâm Y tế tăng đáng kể.

Năm 1991, thực hiện Nghị quyết 04 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phú, mô hình “Quỹ Bảo hiểm y tế” đã được triển khai ở 78 xã và các cơ sở quan trọng trong toàn tỉnh, qua một thời gian thực hiện đã thu được những kết quả nhất định.  Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Khánh đã về thăm, kiểm tra đánh giá tình hình. Bộ trưởng Bộ Y tế trong một báo cáo trước Chính phủ chuẩn bị cho việc hoạch định chính sách BHYT năm 1991 đã nhận định: “Việc thí điểm mô hình BHYT ở Vĩnh Phú và ở các địa phương khác đã cho kết quả rất tốt, đáng khích lệ, cho phép mở ra một chính sách mới trong việc khám, chữa bệnh của toàn dân”.

3. Thí điểm xây dựng Quỹ Bảo hiểm sức khỏe ở Hải Phòng

Trong cuộc họp giao ban của Ban Giám đốc Sở Y tế Hải Phòng giữa năm 1989, bài báo “Hiểu và thực hiện đúng việc thu một phần viện phí để tiến tới bảo hiểm khám chữa bệnh” của Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Song (đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 01/06/1989) được đưa ra bàn luận sôi nổi. Bài báo nêu tình hình khó khăn về kinh phí, sự cần thiết thu viện phí tại các bệnh viện và trong tương lai vấn đề BHYT cần được đặt ra. Ban Giám đốc Sở Y tế Hải Phòng đã trao đổi và đi đến thống nhất đăng ký với Bộ Y tế nghiên cứu triển khai vấn đề này.

Nhận thức của lãnh đạo Sở Y tế Hải Phòng khi đó là cần sớm cụ thể hóa chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Theo đó, cần phải hiểu chăm lo sức khỏe cho nhân dân là trách nhiệm của các cấp chính quyền, đồng thời cũng là nhiệm vụ của mỗi người. Làm tốt Bảo hiểm sức khỏe sẽ tăng cường được mối quan hệ cộng đồng, tương thân tương ái, đẩy mạnh nền y tế nhân dân. Làm tốt chủ trương này sẽ có Quỹ Bảo hiểm sức khỏe thường trực, giải quyết được khó khăn cho người nghèo khi đau ốm, cũng như những khó khăn của bệnh viện về thu viện phí. Ban Lãnh đạo Sở Y tế Hải Phòng cũng lường đến trở ngại lớn nhất là sự hiểu biết về công tác bảo hiểm còn hạn chế, nên việc đưa ra chủ trương này chưa chắc đã được sự hưởng ứng rộng rãi của các ngành, các cấp, và mọi tầng lớp nhân dân. Câu hỏi được đặt ra là nếu chờ thuận lợi mới làm thì biết đến bao giờ? Vấn đề mấu chốt là có cán bộ nhiệt tình, hiểu biết về quản lý kinh tế và thấy được lợi ích của vấn đề, có quyết tâm cao, với tinh thần vừa làm, vừa tìm hiểu, khó khăn đến đâu giải quyết đến đó.

Đồng chí Bùi Thành Chi, Trưởng phòng Hành chính - Tổng hợp của Sở Y tế Hải Phòng lúc đó được Ban Giám đốc giao nhiệm vụ khẩn trương nghiên cứu ,tiếp thu đề án nàyđể triển khai thí điểm ở hải Phòng. Hội nghị cử thêm đồng chí Lê Đình Cúc, Phó Giám đốc Sở Y tế và một số cán bộ khác cùng tham gia.

Trong phương án: “Những công tác y tế cấp bách” trình với Thường vụ Thành ủy, Bảo hiểm sức khỏe cũng được đặt ra và được Ban Thường vụ Thành ủy, thường trực UBND phê duyệt, được đưa vào Nghị quyết của Thành ủy, HĐND thành phố.

Ngày 29/08/1989, Ban Thường vụ Thành ủy họp dưới sự chủ trì của Bí thư Thành ủy Lê Danh Xương, bàn toàn diện về công tác y tế và cho phép triển khai Bảo hiểm sức khỏe ở Hải Phòng. Ngày 23/09/1989, Quyền Chủ tịch UBND thành phố Cao Văn, ký Quyết định số 976/TCCQ thành lập Trung tâm Bảo hiểm sức khỏe Hải Phòng, làm nhiệm vụ quản lý và chỉ đạo phát triển Bảo hiểm sức khỏe trên địa bàn toàn thành phố. Đồng chí Bùi Thành Chi được thành phố bổ nhiệm là Giám đốc Trung tâm.

Ngày 27/09/1989, Trung tâm Bảo hiểm sức khỏe thành phố triển khai công tác với sự có mặt của Giáo sư Phạm Song, Bộ trưởng Bộ Y tế; BS Trần Khắc Lộng Phó Vụ trưởng Vụ Y tế Ban Khoa giáo trung ương; Quyền Chủ tịch UBND thành phố Cao Văn; Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Bảy; đại diện các cơ quan, ban ngành ở Trung ương và địa phương; các đồng chí lãnh đạo các quận huyện; Ban Giám đốc Sở Y tế và các đơn vị trong toàn Ngành Y tế Hải Phòng.

Trung tâm Bảo hiểm sức khỏe Hải Phòng bắt tay vào triển khai làm thí điểm. Khi đó có ý kiến nên triển khai đại trà, song Ngành Y tế đã thận trọng chọn phương án thực hiện ở phạm vi một huyện để rút kinh nghiệm. Huyện Thủy Nguyên được chọn làm thí điểm. Để phát huy sự tập trung chỉ đạo tối đa và sự thống nhất cao trong lãnh đạo huyện, nhân một cuộc họp của Ban Thường vụ Huyện ủy, các cán bộ bảo hiểm đã “đột kích” xin hội nghị dành cho một số thời gian để làm việc. Sau khi trao đổi một số ý kiến ngắn, Ban Thường vụ đã nhất trí thực hiện công tác Bảo hiểm sức khỏe và yêu cầu Sở Y tế giúp đỡ.

Quỹ Bảo hiểm sức khỏe Thủy Nguyên được UBND huyện quyết định thành lập ngày 28/12/1989, sau 03 tháng Trung tâm Bảo hiểm sức khỏe Hải Phòng ra đời, được chọn triển khai thí điểm Bảo hiểm sức khỏe tự nguyện. Huyện Thủy Nguyên lúc bấy giờ có 36 xã, thị trấn với 25 vạn dân, có 36 trạm y tế. Buổi đầu thành lập còn bỡ ngỡ về phương pháp chỉ đạo, quản lý và phát hành thẻ bảo hiểm. Nhưng được UBND huyện hỗ trợ cho 03 triệu đồng tiền mặt cùng với Bảo hiểm sức khỏe thành phố cấp cho 02 vạn thẻ đã in nội dung sẵn và một xe Babetta, nhờ đó chi nhánh đã có kinh phí và phương tiện xuống các xã vận động nhân dân mua thẻ Bảo hiểm sức khỏe. Bệnh viện huyện Thủy Nguyên được mượn làm trụ sở của chi nhánh. Trong một tháng làm điểm tại xã Đông Sơn, Quỹ Bảo hiểm sức khỏe Thủy Nguyên đã thực hiện các bước hoạt động: kết hợp với Ban Tuyên giáo Huyện ủy xây dựng chương trình tuyên truyền vận động, phát trên loa đài của xã liên tục vào các giờ nghỉ trưa và tối của nhân dân; họp với Đảng bộ, các đoàn thể nhân dân, UBND xã về mục đích, ý nghĩa và quyền lợi của người có thẻ Bảo hiểm sức khỏe; quy định mức mua mỗi thẻ cá nhân là 3.000 đồng, nếu gia đình từ 02 người trở lên mua thì giảm dần cho 1/3 số tiền. Thẻ cá nhân mỗi năm mua một lần liên tục đến năm thứ 04 nếu không sử dụng KCB lần nào thì cấp miễn phí thẻ năm đó, gia đình mua liên tục 02 năm thì đến năm thứ 03 được cấp thẻ miễn phí; khám bệnh ở bệnh viện và trạm y tế xã Đông Sơn không mất tiền khám nhưng thuốc chữa ngoại trú phải mua. Nằm điều trị ở trạm y tế được từ 05-07 ngày không mất tiền thuốc chữa bệnh và giường nằm. Ở bệnh viện huyện thì chữa bệnh không mất tiền, bệnh nhân chuyên khoa hoặc quá nặng chuyển sang thành phố chữa bệnh, được Bảo hiểm sức khỏe thành phố thanh toán toàn bộ viện phí. Tai nạn giao thông, tự tử, chó dại cắn, dịch vụ thẩm mỹ bản thân, bệnh nhân tự túc, Quỹ Bảo hiểm sức khỏe không thanh toán.

Nói về nỗi khổ của người cán bộ Bảo hiểm sức khỏe khi đi tuyên truyền vận động, BS.Vũ Quang Điềm, nguyên Giám đốc Trung tâm Y tế Thủy Nguyên đã có lần kể lại đây là việc làm khó khăn nhất, vất vả nhất, đôi lúc khổ nhục bởi những lời mỉa mai: “có tiền tôi mời thầy thuốc về nhà chữa bệnh hoặc đi bệnh viện tự trả viện phí, cần gì mảnh giấy của các người ...”, thậm chí họ không thèm tiếp, khát nước họ không cho uống hoặc xua chó trong nhà ra đuổi cắn. Đội quân vận động là cả ban giám đốc, cán bộ các khoa phòng của bệnh viện chia ra các mũi vào từng đội sản xuất, từng nhà để vận động mua thẻ bảo hiểm sức khỏe. Trời mưa to, gió lớn là lúc người dân không ra đồng, ở nhà, đoàn cán bộ vận động phải che mưa đi chân đất vào từng nhà, có người bị ngã bẩn hết quần áo, có người bị chó cắn rách quần áo, chảy máu phải về tiêm phòng dại. Người nhận tấm thẻ bảo hiểm sức khỏe đầu tiên của huyện Thủy Nguyên là Chủ tịch Đào Xuân Thạo. Qua một tháng vất vả đội nắng, dầm mưa mới phát hành được 30% số dân trong xã mua bảo hiểm sức khỏe. Khi có thẻ bảo hiểm sức khỏe mọi người đua nhau đi KCB tại trạm y tế xã, và bệnh viện. Bệnh nhân vào nằm điều trị thì đòi hỏi thuốc nhiều, thuốc ngoại theo ý thích không theo phác đồ điều trị. Nếu không được thì nói xấu là “lừa đảo lấy tiền, cho ít thuốc đểu...”. Đáng buồn là có người có chức sắc, có học nhưng cũng nói năng thiếu trách nhiệm. Thầy thuốc, y tá phải cực nhọc, chỉ còn biết nhẫn nhục chịu đựng. Kết thúc 01 tháng thí điểm, UBND huyện đã tổ chức sơ kết và mời đại diện 36 xã gồm Bí thư, Chủ tịch UBND, Trưởng trạm Y tế xã, Chủ nhiệm HTX, các ban, ngành của Huyện nghe báo cáo kết quả đã làm ở huyện Đông Sơn, UBND huyện quyết định phát hành thẻ bảo hiểm sức khỏe trên cả 36 xã và các cơ quan xí nghiệp đóng trên địa bàn huyện.

Ngày 30/03/1990, Đoàn đại biểu Quốc hội do GS.Tâm Đan, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế - Xã hội của Quốc hội làm Trưởng đoàn đến tìm hiểu về Bảo hiểm sức khỏe Hải Phòng. Đoàn đã gặp Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND thành phố, hoan nghênh cách làm của Hải Phòng và mong muốn Hải Phòng rút ra được nhiều kinh nghiệm cho cả nước.

Từ kết quả ban đầu của Quỹ Bảo hiểm sức khỏe Thủy Nguyên, ngày 18/05/1990, Chủ tịch UBND TP.Hải Phòng Đào An ký Chỉ thị số 30/CT-VX của UBND thành phố về việc phát triển Bảo hiểm sức khỏe ra toàn thành phố. Sau Chỉ thị của UBND thành phố lần lượt các quận nội thành, thị xã Kiến An, Đồ Sơn và các huyện An Lão, An Hải, Tiên Lãng và hàng trăm cơ quan, xí nghiệp, trường học tham gia.

Ngày 09-10/11/1990, đồng chí Nguyễn Khánh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) kiểm tra tình hình thực hiện công tác Bảo hiểm sức khỏe của TP. Hải Phòng.

Để có cơ sở thực tế cho việc quyết định chủ trương chính sách Bảo hiểm sức khỏe trên phạm vi cả nước, đồng chí Nguyễn Khánh trực tiếp tìm hiểu tình hình thực hiện Bảo hiểm sức khỏe ở huyện Thủy Nguyên, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp; nghe cán bộ chính quyền và y tế các địa phương khác như An Lão, Lê Chân, Hồng Bàng, Ngô Quyền báo cáo tình hình đã và đang thực hiện.

Đồng chí Nguyễn Khánh hoan nghênh và biểu dương các cấp, các ngành của TP.Hải Phòng có quyết tâm cao, cố gắng triển khai công việc mới và khó khăn này. Trong điều kiện cụ thể, công tác Bảo hiểm sức khỏe là cần thiết, ưu việt nhưng thực hiện không phải là dễ dàng. Đây thực sự là một phương thức mới, có ảnh hưởng sâu rộng đến chính sách kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, phải được nghiên cứu kỹ, đầy đủ và toàn diện nhất là trước khi áp dụng trên phạm vi rộng ra cả nước.

Đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nhắc nhở các cấp, ngành Hải Phòng tiếp tục nghiên cứu triển khai công tác Bảo hiểm sức khỏe rộng rãi trong toàn dân. Đồng thời, cơ quan Bảo hiểm sức khỏe các cấp cần chấn chỉnh lại công tác quản lý, sử dụng Quỹ sao cho đúng mục đích, đạt yêu cầu, tránh khuynh hướng kinh doanh. Đồng chí Nguyễn Khánh chỉ đạo: Hải Phòng tiếp tục thí điểm triển khai công tác Bảo hiểm sức khỏe này trong toàn dân và kịp thời rút kinh nghiệm báo cáo Bộ Y tế, Hội đồng Bộ trưởng để sớm có những chủ trương chính sách phù hợp  trên phạm vi cả nước.

 

4. Mở rộng thí điểm BHYT tới các miền và một số ngành

Thí điểm BHYT tự nguyện ở Mỏ Cầy, Bến Tre

Mỏ Cầy là một huyện lớn của tỉnh Bến Tre, diện tích tự nhiên là 34.447 ha, dân số 175.725 người (12/1994). Trong kháng chiến chống Mỹ, Mỏ Cầy là cái nôi của phong trào Đồng khởi, mặc dù chiến tranh qua đi, song hậu quả để lại cho nơi đây rất nặng nề. Sau tháng 04/1975, đời sống người dân rất nghèo, đa số sống bằng nghề nông, đường sá giao thông khó khăn, trình độ dân trí ở nông thôn còn thấp. Thực hiện Quyết định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc thu một phần viện phí, trước nhu cầu bức thiết trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bến Tre đã sớm quan tâm chỉ đạo việc thành lập Quỹ BHYT tự nguyện trên địa bàn địa phương. Để thực hiện nhiệm vụ trên, Hội nghị HĐND tỉnh khoá VI lần III ngày 17/08/1990 quyết định thí điểm thành lập Quỹ BHYT tự nguyện huyện Mỏ Cầy, với sự chỉ đạo của Sở Y tế Bến Tre, do đồng chí Phạm Thanh Phong, Giám đốc Sở Y tế làm Trưởng ban chỉ đạo. Đồng thời, Hội đồng quản trị BHYT huyện được thành lập do đồng chí Lê Văn Tâm, Phó Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban; đồng chí Lương Văn Chiến, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện làm Phó Trưởng ban Thường trực cùng với 11 thành viên là đại diện các ban, ngành, đoàn thể huyện. Tổ chuyên trách BHYT được thành lập với 03 đồng chí, thuộc biên chế của Trung tâm Y tế huyện.

Tháng 09/1990, Đề án xây dựng Quỹ BHYT tự nguyện huyện Mỏ Cầy được thông qua HĐND huyện và công tác vận động tuyên truyền về BHYT được tiến hành rộng khắp trên mọi phương tiện thông tin đại chúng trong toàn huyện. Đồng thời, Sở Y tế kết hợp với Hội đồng Quản trị BHYT huyện cử nhiều đoàn cán bộ xuống tận hộ gia đình để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và triển khai công tác tuyên truyền, vận động. Tài liệu tuyên truyền Hỏi - Đáp về quyền lợi BHYT, phạm vi bảo hiểm, trách nhiệm của các cơ sở điều trị với bệnh nhân BHYT được phổ biến tới các tầng lớp nhân dân. Tháng 12/1990, BHYT tự nguyện ở Mỏ Cầy triển khai bán phiếu trên phạm vi toàn huyện theo Đề án được HĐND phê duyệt. Đề án nêu rõ, đối tượng phát hành phiếu BHYT tự nguyện bao gồm tất cả cán bộ công nhân viên và nhân dân có hộ khẩu thường trú trong huyện. Phạm vi bảo hiểm chỉ thực hiện đối với trường hợp điều trị nội trú; mức độ quyền lợi bảo hiểm được hưởng theo giá trị 02 loại phiếu: phiếu 4.000 đồng được bảo hiểm cao nhất là 100.000 đồng; phiếu 2.000 đồng được bảo hiểm cao nhất là 50.000 đồng. Không bảo hiểm những hành vi vi phạm pháp luật gây thương tích, những trường hợp thuộc phạm vi bảo hiểm tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thẩm mỹ... Thời gian sử dụng phiếu là 12 tháng và phiếu có giá trị sử dụng sau khi mua 01 tháng.

Ngày 15/08/1992, Nghị định 299/HĐBT được ban hành, ở Bến Tre thực hiện từ ngày 01/01/1993, BHYT tự nguyện Mỏ Cầy được sáp nhập vào chi nhánh BHYT huyện Mỏ Cầy (diện bắt buộc), đồng thời tiếp tục đảm nhiệm thí điểm BHYT tự nguyện. Đến đầu năm 1995, chi nhánh BHYT huyện Mỏ Cầy tạm ngừng thí điểm để chờ kế hoạch triển khai BHYT tự nguyện của BHYT tỉnh. Qua 04 năm thực hiện BHYT tự nguyện ở huyện Mỏ Cầy (1991-1994), kết quả tham gia BHYT hàng năm không quá 5% dân số trong toàn huyện; tỷ lệ thâm hụt quỹ bình quân hàng năm là 10% tổng tiền thu được từ bán phiếu bảo hiểm.

 Để giúp cho công việc thí điểm BHYT, Ban dự thảo Pháp lệnh BHYT có sự tài trợ của tổ chúc SIDA Thuy Điển. đã mời chuyên gia về BHYT của tổ chức y tế thế giới sang trao đổi kinh nghiệm và đã đến Vĩnh Phú và Bến Tre khảo sát thực tế. Các chuyên gia này hầu hết chưa hiểu nhiều về văn hoá, đới sống của nhân dân Việt Nam, khi tổng kết chuyến thăm các chuyên gia đều chưa tin tưởng Việt Nam có thể làm được BHYT trong thời điểm đó. 

Thí điểm BHYT tự nguyện ở Quảng Trị

Ở Quảng Trị, Trung tâm BHYT được thành lập ngày 27/11/1990 theo Quyết định số 1308/QĐ-UB của UBND tỉnh. Trung tâm BHYT tỉnh là đơn vị sự nghiệp lấy thu bù chi, chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Y tế và sự chỉ đạo chuyên môn của Bộ Y tế. Trung tâm xây dựng quỹ qua phát hành phiếu BHYT, thanh toán viện phí cho các đối tượng tham gia khi đi khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế trên địa bàn. Trung tâm BHYT là đơn vị có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng để giao dịch, có nhiệm vụ chỉ đạo chuyên môn, định hướng hoạt động, giúp UBND các huyện thành lập các trung tâm BHYT từ cấp huyện đến cơ sở. Trung tâm BHYT được xây dựng và quản lý theo nguyên tắc tập trung thống nhất: Trung tâm BHYT tuyến tỉnh trực thuộc Sở Y tế; Trung tâm BHYT tuyến huyện thuộc Trung tâm Y tế huyện; Quỹ BHYT xã, phường do Trung tâm, Phòng Y tế huyện trực tiếp quản lý.

Ngày 12/07/1990, HĐND tỉnh Quảng Trị ra Nghị quyết số 03a/NQ-HĐ về lập Quỹ BHYT thay viện phí. Ngày 01/02/1991, UBND tỉnh Quảng Trị ra Quyết định số 170/QĐ-UB lập Quỹ BHYT thay viện phí, thống nhất triển khai kế hoạch thí điểm BHYT trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Trị từ Quý II năm 1991. Người tham gia BHYT được khám, chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở khám, chữa bệnh của Nhà nước. Mỗi năm chỉ được khám và điều trị 03 lần, mức chi tối đa một lần 150 ngàn đồng. Mức đóng bảo hiểm mỗi năm tương đương 10kg thóc một nhân khẩu. Do hoàn cảnh khó khăn, trước mắt tạm thời thu 5.000 đồng (năm 1991). Suốt gần 02 năm thí điểm số phiếu bán ra được 3% dân số, số tiền thu được là 80 triệu đồng.

Xây dựng Quỹ khám, chữa bệnh ở bệnh viện ngành Đường sắt.

Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân, khi chế độ bao cấp trong khám, chữa bệnh không còn, một vấn đề hết sức khó khăn đối với y tế ngành Đường sắt phải tìm cách trả lời, đó là tìm nguồn kinh phí để thực hiện chi phí khám, chữa bệnh cho người lao động trong ngành. Có sự hướng dẫn của Ban Dự thảo Pháp lệnh và hướng dẫn thí điểm BHYT của Bộ Y tế; với tinh thần dám nghĩ dám làm, ngay từ những năm đầu 1990, Y tế Đường sắt đã đề xuất với lãnh đạo ngành thành lập Quỹ khám, chữa bệnh. Ngày 22/11/1991, Tổng Giám đốc Liên hiệp Đường sắt Việt Nam ra Quyết định số 421/ĐS-TS thành lập Quỹ khám, chữa bệnh Đường sắt, nhằm huy động sự đóng góp tự giác của cộng đồng cán bộ, công nhân viên giúp đỡ những người không may ốm đau bệnh nặng trong phạm vi ngành Giao thông - Vận tải. Trong những ngày đầu thành lập, Quỹ khám, chữa bệnh Đường sắt gặp vô vàn khó khăn. Bộ máy chỉ có 05 người, chưa có một văn bản hướng dẫn, quy định nào của Nhà nước. Cơ sở vật chất không có, nhận thức, hiểu biết về BHYT của cán bộ, công nhân viên trong ngành rất hạn chế, đã phải vất vả đi đến từng đơn vị, kiên trì thuyết phục, vận động từ lãnh đạo đơn vị đến người lao động tham gia. Bên cạnh đó phải phối hợp chặt chẽ với hệ thống y tế ngành để tổ chức khám, chữa bệnh chu đáo cho người tham gia. Kết quả thí điểm Quỹ khám, chữa bệnh Đường sắt có 40.000 người tham gia, với số thu trên 400 triệu đồng. Vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, Quỹ khám, chữa bệnh Đường sắt không những tồn tại mà ngày càng lớn mạnh, đóng góp những kinh nghiệm để thử nghiệm mô hình đặc thù là chế độ khám chữa bệnh theo BHYT thực tế hết sức quý báu cho Ngành Y tế tham mưu xây dựng chính sách BHYT bắt buộc sau này.

Quỹ bảo trợ y tế ở Bệnh viện Bưu điện

Cuối năm 1989, được sự hỗ trợ của Ban Dự thảo Pháp lệnh và hướng dẫn thí điểm BHYT; lãnh đạo Bệnh viện Bưu điện, thuộc Ngành Bưu chính viễn thông đã trăn trở suy nghĩ làm thế nào để bệnh viện trụ vững được trong bối cảnh mới. Câu trả lời thật đơn giản: “cạnh tranh” bằng chất lượng và hiệu quả mới tồn tại và phát triển được. Muốn vậy phải trên cơ sở khám, điều trị bao cấp hoàn toàn sang khám, điều trị theo chế độ BHYT. Đón bắt trước tình hình, tháng 06/1992, Bệnh viện Bưu điện nhanh chóng triển khai BHYT, lúc đó gọi là Bảo trợ y tế, nhờ đó Bệnh viện Bưu điện đã được nâng cấp cơ sở vật chất khá hơn trước nhiều. Với Quy chế quản lý mới nghiêm túc và chất lượng phục vụ bệnh nhân tốt hơn đã làm cho bộ mặt của bệnh viện thay đổi rõ rệt để chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để có thể thực hiện tốt chính sách BHYT khi được Chính phủ ban hành.

 

5. Đóng góp của hoạt động thí điểm đối với việc hình thành chính sách BHYT ở nước ta

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, huy động mọi nguồn lực đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân trong tình hình mới, với phương châm là BHYT “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, từ cuối năm 1989 đến tháng 06/1991 đã có 03 tỉnh, thành phố tổ chức thí điểm BHYT toàn tỉnh: Hải Phòng, Quảng Trị, Vĩnh Phú; 04 tỉnh có cơ quan BHYT cấp tỉnh: Hải Phòng, Quảng Trị, Bến Tre và 24 quận, huyện của 14 tỉnh, thành phố trong cả nước thí điểm BHYT không kể các hình thức bảo hiểm chữa bệnh do một số bệnh viện tổ chức.

Để chuẩn bị triển khai thí điểm BHYT ra cả nước, từ ngày 30/05 - 01/06/1991, Được phép của Bộ Y tế và sự tài trợ của tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), Ban Dự thảo Pháp lệnh - Bộ Y tế tổ chức tập huấn cán bộ lãnh đạo thí điểm BHYT toàn quốc tại Hải Phòng, gồm 21 tỉnh phía Bắc và các cơ quan cục, vụ, viện trực thuộc dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Phạm Song nhằm tăng cường nhận thức, thống nhất quan điểm, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp tiến hành thí điểm BHYT, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện trên diện rộng khi Nhà nước chính thức ban hành chính sách BHYT. Hội nghị thống nhất đánh giá chủ trương làm thí điểm BHYT là đúng đắn, chứng tỏ một hướng mới không chỉ tạo thêm nguồn tài chính mà còn tạo điều kiện để từng bước chuyển đổi cơ chế khám, chữa bệnh phù hợp với điều kiện mới, hiệu quả và chất lượng. BHYT là một chính sách xã hội mới mẻ, nhưng có khả năng đi vào cuộc sống, mặc dù chưa được đông đảo nhân dân hoan nghênh nhưng vẫn nhìn thấy triển vọng, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cơ bản, lâu dài với chất lượng ngày một tốt hơn. Số lượng các đơn vị làm thí điểm có kết quả ngày càng tăng đã nói lên một xu thế, hướng đi đúng và có triển vọng của BHYT.

Qua thực hiện thí điểm, bước đầu có tác động và chuyển biến về tổ chức quản lý y tế. Để thí điểm BHYT, một số trung tâm y tế huyện, quận đã sắp xếp lại tổ chức các khoa phòng hợp lý hơn, có nơi đã giảm số giường bệnh từ 50 giường xuống 30 giường để tăng cường chất lượng điều trị cho người bệnh; chuyển bớt cán bộ ở Trung tâm y tế huyện về phòng khám đa khoa hoặc về cơ sở để phù hợp với việc phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của người tham gia BHYT. Đặc biệt qua thí điểm BHYT là một bước tập dượt chuyển dần sang cơ chế quản lý y tế bằng biện pháp kinh tế. Có nơi ở Vĩnh Phú đã tổ chức khám bệnh theo vùng dân cư thuận tiện cho người được BHYT.

Nhiều nơi đã từng bước đi vào hạch toán kinh tế trong quản lý bệnh viện để nâng cao hiệu quả quản lý, tiết kiệm lao động, vật tư, tài chính. Việc quản lý và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn hơn trước.

Nhờ thực hiện BHYT, có thêm một nguồn tài chính giải quyết được một số yêu cầu cấp bách của bệnh viện. Tuy nguồn tài chính này còn rất khiêm tốn, nơi nhiều nhất có vài ba trăm triệu, nơi ít nhất có được 10-20 triệu nhưng do tập trung, nên đã lo được đủ thuốc và vật tư tiêu hao cho khám, chữa bệnh; tăng cường thêm phương tiện phục vụ người bệnh. Có nơi đã sửa sang lại bệnh viện, chống được xuống cấp; cải thiện điều kiện làm việc của cán bộ, nhân viên y tế; cải thiện quan hệ tin cậy giữa bệnh nhân và thầy thuốc.

Từ thực tế thí điểm cho thấy, nơi nào được cấp ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo, các ngành, các đoàn thể tích cực tham gia thí điểm BHYT thì nơi đó dù khó khăn, cũng sáng tạo được cách làm hữu hiệu, nhiều huyện vẫn duy trì và tiếp tục phát triển hoàn thiện BHYT như Hải Phòng, Vĩnh Phú, Quảng Trị, Bến Tre, Kiên Giang, Quảng Nam... không những ở 01-02 huyện mà đã cho phép triển khai ra toàn tỉnh, thành phố.

Tuy nhiên, hạn chế trong thời gian hơn 01 năm thí điểm là: Chưa làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ lợi ích của BHYT, không ít người nghĩ rằng kinh tế còn nghèo, lương còn thấp nên không làm BHYT được. Chất lượng khám, chữa bệnh và phục vụ người bệnh ở những cơ sở y tế chưa lấy lại được lòng tin của dân. Tuy nhân dân hoan nghênh BHYT nhưng chưa chấp nhận tham gia BHYT vì dịch vụ y tế còn nhiều khó khăn và tiêu cực. Từ đó các địa phương làm thí điểm BHYT gặp không ít khó khăn. Nếu không có quyết tâm cao, thiếu lòng tin thì khó có thể vượt qua. Phải vừa làm, tự bồi dưỡng, vừa rút kinh nghiệm và tự hoàn thiện, không thể chủ quan duy ý chí, đốt cháy giai đoạn mà phải có bước đi thích hợp mới đem lại kết quả thực sự.

Trong thời gian hơn 02 năm, hoạt động thí điểm BHYT đã được triển khai ở nhiều vùng, miền với các quy mô khác nhau, hình thức và biện pháp cũng đa dạng. Khó khăn, hạn chế còn nhiều, nhưng kết quả bước đầu của hoạt động thí điểm BHYT đã mở ra một hướng đi đúng, phù hợp. Qua thực hiện thí điểm cho thấy, để BHYT phát triển được cần có văn bản pháp quy của Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý để sớm hình thành và có một hệ thống tổ chức BHYT chuyên trách có chuyên môn nghiệp vụ đủ sức tổ chức thực hiện chính sách mới mẻ này. Đánh giá về đóng góp của hoạt động thí điểm BHYT, Giáo sư Viện sĩ Phạm Song, Bộ trưởng Bộ Y tế khi đó đã nhận định: “Do có thêm nguồn tài chính nên chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân được cải thiện trên các mặt: trách nhiệm, ý thức phục vụ của cán bộ, nhân viên y tế trước người bệnh, hạn chế tiêu cực trong khám, chữa bệnh. Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, thuốc men được đảm bảo, điều kiện làm việc và phục vụ bệnh nhân được cải thiện, đời sống cán bộ nhân viên y tế cũng được lãnh đạo địa phương quan tâm chăm lo hơn trước. Từ đó hạn chế được tình hình xuống cấp của bệnh viện, dần dần lấy lại được lòng tin của nhân dân đối với y tế. Đặc biệt, ở những nơi làm thí điểm đã giảm được những khó khăn phức tạp trong việc thu viện phí, nhân dân hoan nghênh việc lấy BHYT thay cho việc thu viện phí, để người bệnh yên tâm chữa bệnh. Những quyền lợi khám, chữa bệnh của bệnh nhân được cơ quan BHYT bảo vệ, quan hệ giữa bệnh nhân và thầy thuốc có phần được tôn trọng, văn minh hơn. Từ làm thí điểm BHYT đã tác động đến một tư duy mới trong quản lý y tế là tư duy quản lý y tế bằng biện pháp kinh tế. Các bệnh viện có hợp đồng với BHYT đã dần dần tổ chức hạch toán kinh tế nội bộ để nâng cao hiệu quả quản lý lao động, vật tư, tài chính... Trong lĩnh vực sử dụng thuốc chữa bệnh đã dần dần đi vào quản lý sử dụng hợp lý, an toàn hơn, do đó bắt đầu xuất hiện cơ chế quản lý có năng suất, chất lượng và tiết kiệm chi tiêu hơn”.

Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Song cho rằng những kết quả bước đầu qua việc thực hiện thí điểm BHYT còn rất khiêm tốn và còn nhiều mặt hạn chế do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như: Chưa có quy định của pháp luật, chưa làm đồng bộ từ cơ sở đến Trung ương, chưa có đầu tư ban đầu, chưa chuẩn bị được đội ngũ cán bộ thích hợp, chưa có tiền đề để có nhiều nội dung tuyên truyền giải thích cho cán bộ và nhân dân, chưa có một hệ thống tổ chức đủ sức chuyên lo... Từ thực tiễn tổ chức hoạt động thí điểm, Bộ Y tế đề xuất, để khắc phục những hạn chế, tồn tại trên chỉ có thể làm được sau khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh BHYT.

Trong khi chờ có Pháp lệnh, thực hiện thông báo của Hội đồng Bộ trưởng cho phép các địa phương tiếp tục làm thí điểm BHYT rộng hơn nữa để sớm có kinh nghiệm tiếp thu và thực hiện Pháp lệnh BHYT khi Nhà nước ban hành.

 

6. Bước chuẩn bị cho sự ra đời chính sách BHYT

Trong phiên họp ngày 15/04/1992, kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VIII đã biểu quyết thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi. Tại Điều 39, Hiến pháp quy định: “Thực hiện BHYT tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe”. Đây là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng, là tiền đề cho việc triển khai thực hiện chính sách BHYT ở nước ta.

Trước kết quả khả quan triển khai thí điểm BHYT tại nhiều vùng, miền, địa phương trong cả nước, ngày 12/02/1991, sau khi làm việc với lãnh đạo Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Song đã ban hành Quyết định thành lập Ban nghiên cứu Dự thảo Pháp lệnh về BHYT. BS.Trần Khắc Lộng, Phó Vụ trưởng Vụ Y tế, Ban Khoa giáo Trung ương - người đã có ý tưởng và trực tiếp viết các đề cương hướng dẫn làm thí điểm và trực tiếp chỉ đạo thí điểm BHYT cho các địa phương được bổ nhiệm làm Trưởng Ban. Bên cạnh nhiệm vụ chuẩn bị Dự thảo Pháp lệnh BHYT, Ban còn có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng tiếp tục hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện thí điểm BHYT tại các địa phương; tổ chức khảo sát, đúc rút và phổ biến kinh nghiệm của các địa phương làm thí điểm để các đơn vị có sự học hỏi lẫn nhau; tổ chức tuyên truyền, giải thích cho cán bộ, nhân dân và toàn xã hội hiểu được ý nghĩa nhân đạo cao cả của BHYT và việc tổ chức thực hiện BHYT là đòi hỏi tất yếu của quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước gắn chặt với việc đổi mới hệ thống chính sách xã hội. Trong thời gian 02 năm, Ban đã triển khai tổ chức thu thập tài liệu, số liệu có liên quan để xây dựng phương án mức đóng góp BHYT của các đối tượng có mức thu nhập khác nhau; sưu tầm tài liệu thực hiện BHYT ở nước ngoài để tham khảo và phổ biến kiến thức về BHYT; đi thực tế tại địa phương để có được cái nhìn khái quát về việc triển khai BHYT trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam; tổ chức các cuộc hội thảo cho nhiều đối tượng khác nhau… Thời gian này, Ban nghiên cứu Dự thảo Pháp lệnh BHYT chỉ có 01 biên chế là Trưởng Ban, các cán bộ, nhân viên đều là kiêm nhiệm. Có thể nói, tổ chức tiền thân của BHYT Việt Nam đã hoạt động với “bảy không”: Không người, không có kiến thức chuyên ngành về BHYT, không có đầu tư từ ngân sách, không có trụ sở, không có kinh nghiệm và không có tiền lệ và kế thừa. Để giúp cho Ban có kinh phí hoạt động, Bộ trưởng Phạm Song đã bố trí cho Ban một dự án phụ của tổ chức SIDA Thụy Điển. Với nguồn kinh phí ít ỏi này, Ban đã tổ chức biên dịch cuốn “Tài liệu tham khảo BHYT nước ngoài”, biên soạn và xuất bản cuốn sách “Bảo hiểm y tế Việt Nam” để cung cấp cho các cơ quan, cán bộ lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương làm tài liệu tham khảo về BHYT; trang bị một số thiết bị phục vụ công việc của Ban và BHYT địa phương.

Tháng 06/1991, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, chỉ ra những việc làm được, vấn đề mới nảy sinh cùng ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và kinh nghiệm trên các lĩnh vực chủ yếu. Trên cơ sở đó hoàn chỉnh, bổ sung và phát triển các chủ trương đổi mới của Đại hội VI, đề ra các phương hướng, nhiệm vụ lớn cho 05 năm 1991 - 1995. Tiếp tục chủ trương đổi mới trên lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Nghị quyết Đại hội VII của Đảng xác định: “Bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực của nhân dân phải trở thành hoạt động tự giác của mỗi người, với sự quan tâm của Nhà nước và của toàn xã hội. Phát triển các hoạt động y tế bằng khả năng của Nhà nước và của nhân dân, theo hướng dự phòng là chính; kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc... Phát triển bảo hiểm khám, chữa bệnh, tăng ngân sách cho hoạt động khám, chữa bệnh”.

Tại Hội nghị tổng kết công tác Ngành Y tế năm 1991 tổ chức ở TP.Huế, trước hơn 800 đại biểu dự hội nghị, Ban Dự thảo Pháp lệnh BHYT do bác sĩ Trưởng Ban Trần Khắc Lộng lần đầu tiên đã trình bày một bản báo cáo giới thiệu về BHYT và những kinh nghiệm của một số địa phương đã thực hiện thí điểm BHYT. Cùng với bản báo cáo minh họa kinh nghiệm thí điểm BHYT của TP.Hải Phòng, đã được hội nghị đặc biệt quan tâm và nhiều ý kiến hoan nghênh chủ trương này, đồng thời nhiều kiến nghị Ngành Y tế cần quyết tâm thực hiện cho được BHYT, bởi đây là đổi mới quan trọng trong chính sách tài chính y tế và cũng sẽ là giải pháp quan trọng giúp cho Ngành Y tế thoát khỏi những khó khăn trước tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của các cơ sở khám, chữa bệnh.

Ngày 26/05/1992, Chủ tịch nước Võ Chí Công chủ tọa phiên họp của Hội đồng Nhà nước xem xét dự án ban hành Pháp lệnh BHYT. Đồng chí Nguyễn Thị Thân, Chủ nhiệm Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội đã trình bày trước Hội đồng Nhà nước báo cáo thẩm tra Dự án Pháp lệnh BHYT. Báo cáo nêu rõ: Thực hiện nhiệm vụ do Quốc hội và Hội đồng Nhà nước giao, ngay từ năm 1990, Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội tiến hành nhiều hoạt động xem xét, nghiên cứu và đánh giá về vấn đề BHYT; tổ chức nhiều đoàn công tác đến tất cả các địa phương đang thực hiện thí điểm BHYT để nắm bắt tình hình cụ thể; tổ chức nhiều cuộc họp lấy ý kiến nhân dân và đại diện các cơ quan, ban ngành ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Trong 02 ngày 21 và 26/03/1992, Ủy ban đã họp với sự tham gia của bà Ngô Bá Thành, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và đại diện các Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để chính thức thẩm tra Dự án Pháp lệnh BHYT do Hội đồng Bộ trưởng trình Hội đồng Nhà nước.

Về sự cần thiết thực hiện chế độ BHYT, Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội cho rằng, ngay từ giữa những năm 1980, khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, các cơ sở y tế đã tiến hành thu một phần viện phí đối với bệnh nhân vào điều trị. Vấn đề viện phí đã có tác dụng hỗ trợ tích cực cho hoạt động của Ngành Y tế, tuy nhiên, do ta thiếu chính sách xã hội đồng bộ đi kèm, nên nảy sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực, dư luận nhân dân một số nơi không đồng tình. Thực tế trong xã hội, có những người giàu lên song cũng không ít người còn đang sống trong điều kiện kinh tế eo hẹp, khó khăn, thiếu thốn, không có đủ khả năng nộp viện phí khi ốm đau. Vì vậy, phải có cơ chế, chính sách và biện pháp mới để tạo điều kiện giúp đỡ các đối tượng này. Bên cạnh đó, các cơ sở y tế đang có tình trạng bị xuống cấp nhiều mặt, cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cũng như tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ, nhân viên y tế. Ngân sách nhà nước dành cho y tế chỉ đảm bảo được một phần cho hoạt động của các cơ sở y tế nên bệnh nhân phải hứng chịu nhiều hậu quả tiêu cực. Do đó, phải tìm ra cơ chế kinh tế thích hợp nhằm khuyến khích thầy thuốc chăm sóc bệnh nhân, cũng như tạo thêm nguồn kinh phí để có điều kiện phục vụ người bệnh được tốt hơn. Để chăm sóc sức khỏe cho mọi người, xu hướng chung ở nhiều nước trên thế giới là thực hiện chế độ BHYT, mỗi người tự lo trước bản thân mình để khi ốm đau được chăm sóc chu đáo và thuận tiện. Thực tế cho thấy, xã hội càng phát triển thì các hình thức bảo hiểm càng mở rộng. BHYT là loại bảo hiểm đặc biệt, mang ý nghĩa nhân đạo, thực hiện chế độ BHYT sẽ góp phần ổn định và đảm bảo công bằng xã hội. Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội cho rằng, Việt Nam nên thực hiện BHYT càng sớm càng tốt.

Về việc ban hành Pháp lệnh BHYT, ngay trong nội bộ Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội cũng có ý kiến khác nhau. Một số ý kiến đề nghị Hội đồng Nhà nước nên xem xét và ban hành ngay Pháp lệnh BHYT với những lý do như sau: Tại Điều 39 và 61 của Hiến pháp năm 1992 mà Quốc hội khóa VIII vừa thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 đã quy định về việc thực hiện chế độ BHYT; việc thực hiện thí điểm BHYT ở một số địa phương đã đạt được kết quả ban đầu. Để có cơ sở pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ BHYT trên phạm vi toàn quốc, Nhà nước cần sớm thể chế hóa bằng một văn bản pháp luật; trong tình hình thực tế hiện nay, nhiều cơ sở y tế đang xuống cấp, ngân sách nhà nước dành cho công tác y tế hàng năm chỉ đảm bảo 40% yêu cầu chi tiêu (mà phần ngân sách này chủ yếu để chi lương, phụ cấp và chi phí hành chính). Vì vậy, phải có phương thức huy động thêm nguồn kinh phí để các cơ sở y tế có điều kiện phục vụ bệnh nhân tốt hơn. Ở chiều ngược lại, đa số ý kiến lại cho rằng trong thời gian này chưa nên ban hành Pháp lệnh BHYT với lý do người dân chưa quen với hình thức BHYT, thực tế qua các địa phương tiến hành thí điểm BHYT, tỷ lệ người tham gia mua phiếu BHYT rất thấp, chỉ đạt vài phần trăm (chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức do bắt buộc phải mua). Chỉ số hấp dẫn của BHYT chưa cao cả về trang thiết bị kỹ thuật cũng như tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân của cán bộ, nhân viên y tế. Nhiều cơ sở y tế chưa muốn thực hiện chế độ BHYT, bởi vì nếu có thực hiện BHYT, cán bộ y tế cũng không được khuyến khích cả về vật chất cũng như tinh thần. Như vậy, nếu không cẩn thận thì ngay chính cán bộ và nhân viên y tế, những người có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại, sẽ phá vỡ chế độ BHYT. Để khắc phục những khó khăn này, cần có thời gian để nâng cấp các cơ sở y tế, đồng thời Nhà nước phải có chế độ đãi ngộ thích hợp đối với cán bộ y tế... đó là những vấn đề cốt lõi để thực hiện BHYT mà không thể giải quyết ngay trong một thời gian ngắn. Có rất nhiều người cũng như nhiều cơ quan, xí nghiệp đang gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, thu nhập của cán bộ, nhân viên rất thấp, do đó họ khó có thể thực hiện nghĩa vụ BHYT cho bản thân cũng như cán bộ công nhân, viên chức của mình. Với tính chất khó khăn và phức tạp nêu trên, đề nghị Hội đồng Bộ trưởng nên ban hành Nghị định quy định việc thực hiện chế độ BHYT để vừa thực hiện, vừa rút kinh nghiệm.

Để nhân dân đồng tình với chủ trương BHYT, tham gia BHYT một cách tự nguyện không phải là dễ, do đó Ủy ban Y tế và Xã hội của Quốc hội đề nghị Hội đồng Nhà nước lưu ý Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo công tác này hết sức chu đáo, tỉ mỉ, thận trọng, từng bước vững chắc, cố gắng tránh mọi sự lạm dụng và đổ vỡ làm cho nhân dân thiếu tin tưởng vào Nhà nước. Đề nghị cần phải quy định khống chế mức chi phí cho hoạt động và tổ chức hành chính, lương cán bộ của các quỹ bảo hiểm để góp phần làm cho người tham gia BHYT an tâm và cũng giúp cho Quỹ BHYT tự hạch toán độc lập, tự sắp xếp bộ máy và tổ chức sao cho gọn nhẹ, có hiệu quả, không lạm dụng vào tiền đóng góp của nhân dân. Tại cuộc họp, Chủ tịch nước Võ Chí Công kết luận, việc ra Pháp lệnh về BHYT là cần thiết nhưng trong tình hình hiện nay chưa thật chín muồi, Hội đồng Bộ trưởng nên tiếp tục chỉ đạo mở rộng thí điểm, có tổng kết, hoàn chỉnh thêm Dự án Pháp lệnh BHYT để Hội đồng Nhà nước xem xét ban hành. Ngày 28/05/1992, Ban Dự thảo Pháp lệnh BHYT đề xuất với Bộ Y tế để các địa phương tổ chức thực hiện BHYT cho đối tượng có lương, tiếp tục mở rộng thí điểm trong nhân dân và để phù hợp với ý kiến của các ngành liên quan, đề nghị Hội đồng Bộ trưởng ra một Nghị định (hay Quyết định) ban hành quy chế về BHYT. Ngày 30/05/1992, Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Song đồng ý với ý kiến của Ban Dự thảo Pháp lệnh BHYT và xúc tiến việc trình Chính phủ ban hành Nghị định về BHYT.

Để chuẩn bị cho việc triển khai thực hiện BHYT trên phạm vi cả nước khi Chính phủ ban hành Nghị định, được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Y tế  và được sự tài trợ của Tổ chức Y tế thế giới (OMS), Ban Dự thảo Pháp lệnh BHYT - Bộ Y tế cùng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và Trường Đại học Tài chính - Kế toán TP. Hồ Chí Minh phối hợp mở lớp đào tạo nghiệp vụ quản lý kinh tế chuyên ngành BHYT cho cán bộ thuộc sở y tế các tỉnh và thành phố trong toàn quốc. Một lớp tổ chức tại Hà Nội (tại Trường Cán bộ Quản lý y tế), thời gian từ ngày 05/05 - 13/06/1992, đào tạo cho cán bộ 25 tỉnh và thành phố phía Bắc từ Quảng Trị trở ra, với 50 đồng chí tham dự. Một lớp tại TP. Hồ Chí Minh (Viện Vệ sinh y tế công cộng), thời gian từ ngày 16/05 - 25/06/1992, đào tạo cho cán bộ 28 tỉnh và thành phố phía Nam từ Thừa Thiên - Huế trở vào với 49 đồng chí tham dự. Theo kế hoạch đào tạo mỗi tỉnh 02 đồng chí, sau khi học về sẽ là lãnh đạo BHYT tỉnh, thành phố. Có một số tỉnh chỉ cử được một cán bộ là Tuyên Quang, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Sóc Trăng, Gia Lai, Vĩnh Long... Ngoài ra, còn đào tạo cho Cục Quân y, Sở Y tế Đường sắt, Bệnh viện Tổng cục Bưu chính viễn thông mỗi cơ quan 01 đồng chí. Các cán bộ về dự lớp đào tạo chủ yếu là bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư kinh tế, có một số là y sĩ, trung cấp kinh tế và trung cấp tài chính kế toán. Nội dung đào tạo gồm 02 phần cơ bản, phần 01 về nghiệp vụ quản lý kinh tế, gồm Khoa học quản lý, Luật Kinh tế, Marketing, Nghiệp vụ tín dụng, Kế toán và Phân tích kinh tế, Tài chính Nhà nước, Tài chính doanh nghiệp; phần 02 về nghiệp vụ BHYT, gồm Đại cương về BHYT, Tổ chức hoạt động BHYT, Cơ chế thanh toán của hoạt động BHYT, Phương pháp xây dựng luận chứng kinh tế BHYT. Kết thúc khóa học, 100% cán bộ đạt yêu cầu và được Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, Trường Đại học Tài chính Kế toán TP. Hồ Chí Minh cấp chứng chỉ tốt nghiệp. Trong đó có 11 đồng chí đạt loại giỏi, 80 đồng chí đạt loại khá và 08 đồng chí đạt yêu cầu. Các học viên đã được trang bị một cách đại cương về nghiệp vụ quản lý kinh tế theo chuyên ngành BHYT; nắm và hiểu được cách tổ chức hoạt động của Quỹ BHYT và biện pháp phối hợp với các cơ quan, tổ chức kinh tế - xã hội, các cơ sở điều trị trong việc thực hiện BHYT ở địa phương. Kết thúc lớp học ở Hà Nội, Giáo sư, Bộ trưởng Phạm Song đến dự và nói chuyện với lớp học, quán triệt về tất yếu khách quan của cơ chế khám, chữa bệnh theo BHYT ở Việt Nam và chỉ thị những nội dung công việc thực hiện BHYT. Cũng trong thời gian học, ông Har Mander Singh - Giám đốc Hiệp hội BHXH khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã đến thăm và nói chuyện với lớp học phía Bắc, giúp cho các học viên có điều kiện tìm hiểu về hoạt động BHYT trên thế giới và khu vực. Tất cả học viên sau khóa học đều quyết tâm, mong muốn về tổ chức thực hiện BHYT ở địa phương và kiến nghị Nhà nước sớm có một văn bản pháp quy về thực hiện BHYT để làm cơ sở cho việc tổ chức hoạt động BHYT một cách thống nhất, đồng bộ.

Để phục vụ cho công tác giao dịch, truyền thông, đối ngoại, tháng 04/1992, Ban BHYT - Bộ Y tế đã cùng họa sĩ của Báo Sức khỏe phác thảo Biểu trưng BHYT Việt Nam (tham gia thiết kế mẫu có BS.Trần Khắc Lộng và họa sĩ Trần Tường Vân), Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Song đã chọn mẫu biểu trưng là biểu tượng có hình khối như một tam giác cân với hai màu xanh – trắng với ý nghĩa BHYT được xây dựng và đảm bảo bởi mối quan hệ ba bên: Nhà nước, chủ sử dụng lao động và người lao động. Họa tiết trong biểu trưng là đôi bàn tay cách điệu như hai bông sen nâng chữ Việt Nam viết tắt (VN), phía dưới là 04 chữ Bảo hiểm y tế viết tắt (BHYT). Thoạt nhìn, biểu tượng giống như một con thuyền có cánh buồm trắng, với ý nghĩa BHYT cần sự chung tay, góp sức của nhiều người để “con thuyền” BHYT vững vàng ra khơi, quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được đảm bảo. Hai bàn tay ôm lấy hai chữ Việt Nam viết tắt, là thể hiện ý nghĩa tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách, mình vì mọi người, mọi người vì mình của BHYT, cũng là đạo lý truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Bông hoa sen trắng như một lười nhắc nhở, người làm chính sách BHYT là nghề nhân đạo, nhân văn nên cần giữ cho mình cái tâm trong sáng, thanh sạch như đóa hoa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”…  Mẫu biểu trưng này đã được sử dụng từ năm 1992 đến hết năm 2001, cho đến khi BHYT Việt Nam chính thức tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng quy mô trên phạm vi cả nước, chọn mẫu biểu trưng mới (tháng 01/2002).

 

7. Chính sách BHYT chính thức triển khai trên phạm vi cả nước

Với sự chuẩn bị tích cực của Ban Dự thảo Pháp lệnh BHYT - Bộ Y tế, cùng với kết quả, bài học kinh nghiệm sau trên 02 năm thực hiện thí điểm ở một số địa phương, ngày 15/08/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 299/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT, khai sinh ra chính sách BHYT ở Việt Nam. Qua tổng kết thí điểm ở những nơi đã và đang làm BHYT tự nguyện đều gặp không ít khó khăn và sắp vỡ quỹ. Do đó Điều lệ BHYT quy định, đối tượng tham gia BHYT bắt buộc là những cán bộ, công nhân viên chức tại chức và hưu trí ở các đơn vị thuộc khu vực hành chính sự nghiệp, người lao động khu vực sản xuất kinh doanh còn các đối tượng khác sẽ tham gia BHYT theo khả năng và nhu cầu tự nguyện như BHYT học sinh, BHYT nhân đạo…

Để thực hiện đúng thời gian Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1992, ngày 26/08/1992 Bộ Y tế ra Chỉ thị số 05/BYT/CT chỉ đạo các Sở Y tế về những việc cấp bách để chuẩn bị triển khai thực hiện Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về BHYT. Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế khẩn trương bàn bạc với các cơ quan chức năng báo cáo với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để chuẩn bị cho việc thành lập cơ quan BHYT tỉnh, các chi nhánh BHYT huyện, quận. 

Ngày 01/09/1992, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 935/BYT-QĐ triển khai Nghị định số 299/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành Điều lệ BHYT. Tại Quyết định này, Bộ Y tế quy định BHYT của cấp nào trực thuộc cấp đó: BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế; BHYT các tỉnh, thành phố trực thuộc các Sở Y tế; BHYT các ngành nào trực thuộc ngành đó. BHYT các tỉnh và ngành đều trực thuộc BHYT Việt Nam.

Cũng trong ngày 01/09/1992, Bộ Y tế ra Chỉ thị số 06/BYT/CT chỉ đạo các bệnh viện và viện có giường bệnh về những việc cần triển khai để thực hiện Nghị định của Chính phủ về BHYT. Bộ Y tế yêu cầu Giám đốc các bệnh viện thực hiện ngay một số công việc: Củng cố và tổ chức sắp xếp lại các khoa, phòng đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ người bệnh được BHYT. Tổ chức học tập cho toàn thể cán bộ công nhân viên chức của bệnh viện, quán triệt Điều lệ BHYT và trách nhiệm của bệnh viện trong việc hợp tác với BHYT tổ chức tốt việc phục vụ bệnh nhân có BHYT mà Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng đã quy định. Thực hiện việc ký kết hợp đồng khám, chữa bệnh với các cơ quan BHYT khi có yêu cầu trên tinh thần họp tác hỗ trợ lẫn nhau theo các thông tư hướng dẫn của các Bộ Tài chính, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế. Tổ chức việc tiếp nhận, khám chữa bệnh cho bệnh nhân thuận lợi, an toàn, hợp lý. Không gây phiền hà đối với người bệnh. Không được thu bất cứ lệ phí nào đối với người được BHYT khi vào khám, chữa bệnh. Bệnh viện tạo điều kiện thuận lợi cho bộ phận thường trú và cộng tác viên của cơ quan BHYT hoạt động tại bệnh viện để có thể giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến bệnh nhân được BHYT khi vào khám, chữa bệnh. Để bảo đảm yêu cầu khám, chữa bệnh cho bệnh nhân được BHYT, bệnh viện sẽ được cơ quan BHYT tạm ứng trước tiền để mua thuốc, hoá chất xét nghiệm và các trang thiết bị, dụng cụ y tế. Tổ chức tốt công tác tài chính kế toán bệnh viện để giải quyết các quyền lợi cho người được BHYT nhanh chóng kịp thời theo chế độ đã được quy định và thanh toán với cơ quan BHYT theo đúng quy định của Bộ. Thường xuyên giám sát việc sử dụng thẻ BHYT của bệnh nhân để phát hiện, ngăn chặn các hiện tượng vi phạm quy định sử dụng thẻ; xây dựng các quy tắc chế độ khám, chữa bệnh và phục vụ người bệnh được BHYT theo đúng Điều lệ BHYT và hợp đồng khám, chữa bệnh với cơ quan BHYT. Khi có vi phạm, phải quy rõ trách nhiệm để xử lý nghiêm minh đối với người vi phạm. Tùy mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật từ phê bình cảnh cáo, thu bằng cấp chuyên môn, chuyển làm việc khác đến buộc thôi việc, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Khi có khiếu nại hoặc tranh chấp xảy ra, giám đốc bệnh viện cùng giám đốc cơ quan BHYT bàn bạc xem xét giải quyết.

Bộ Y tế giao nhiệm vụ cho các Giám đốc viện có giường bệnh, các bệnh viện ở Trung ương, địa phương và các ngành khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện để ngày 01/11/1992 bắt đầu tiếp bệnh nhân có BHYT đến khám, chữa bệnh. Theo đó BHYT ở một số địa phương còn thí điểm tổ chức phòng khám bệnh của BHYT để phục vụ trước hết cho bệnh nhân có BHYT như Hải Phòng, Bình Định, Cần Thơ……

Ngày 01/09/1992, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 934/BYT-QĐ bổ nhiệm BS.Trần Khắc Lộng, Trưởng ban Dự thảo Pháp lệnh BHYT, Bộ Y tế giữ chức vụ Giám đốc BHYT Việt Nam. PTS. Lê Đức Chính, Phó Vụ trưởng Vụ quản lý sức khoẻ, Bộ Y tế giữ chức vụ Phó Giám đốc BHYT Việt Nam.

Ngày 11/09/1992, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 958/BYT-QĐ thành lập BHYT Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế trên cơ sở Ban Dự thảo Pháp lệnh BHYT. BHYT Việt Nam đặt trụ sở tại 28 Nguyễn Bỉnh Khiêm, TP.Hà Nội. Thực hiện Quyết định này, BHYT Việt Nam có nhiệm vụ hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ BHYT cho các cơ sở BHYT từ Trung ương đến các địa phương và các ngành.

Ngày 17/09/1992, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 11/BYT-TT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về hệ thống tổ chức của BHYT Việt Nam, từ Trung ương đến địa phương và các ngành. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, Vụ Quản lý sức khỏe của Bộ Y tế là đầu mối, chịu trách nhiệm tham mưu giúp cho Bộ trưởng Bộ Y tế về lĩnh vực BHYT. Hệ thống BHYT Việt Nam được thành lập từ Trung ương đến địa phương và BHYT ngành. Các tổ chức BHYT tỉnh, thành phố và ngành trực thuộc BHYT Việt Nam về chuyên môn nghiệp vụ.

Bộ Y tế thành lập Hội đồng Quản trị BHYT để giám sát mọi hoạt động của BHYT Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng Quản trị do một Thứ trưởng Bộ Y tế phụ trách, một Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý sức khỏe (Bộ Y tế) làm Phó Chủ tịch, các ủy viên gồm có Giám đốc BHYT Việt Nam, Vụ trưởng Vụ Tài chính kế toán (Bộ Y tế), đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đại diện Bộ Tài chính, đại diện Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, đại diện bệnh viện lớn, doanh nghiệp lớn... ở các tỉnh, thành phố thành lập Hội đồng Quản trị BHYT để giám sát các hoạt động của BHYT địa phương bao gồm: đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố phụ trách khối văn xã làm Chủ tịch hội đồng, các thành viên khác có các ngành Tài chính, Lao động, Y tế, doanh nghiệp, Liên đoàn Lao động...

Ngày 18/09/1992, liên Bộ Tài chính - Y tế - Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 12/TT-LB, hướng dẫn việc tổ chức thi hành Nghị định làm cơ sở cho các bộ, ngành và địa phương thực hiện BHYT.

Ngày 29/9/1992, Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Song và Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Trần Đình Hoan cắt băng khai trương Văn phòng BHYT Việt Nam tại trụ sở 28 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nội. Cùng ngày, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 1098/BYT-QĐ ban hành mẫu thẻ BHYT phát hành trong cả nước cho các đối tượng của Điều lệ BHYT; ban hành danh mục mã số cơ quan BHYT Trung ương, BHYT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và BHYT ngành.

Cũng trong tháng 09/1992, Bộ Y tế đã mở hội nghị tại Hà Nội cho các phó chủ tịch tỉnh, thành phố, Giám đốc sở y tế, Sở lao động thương binh và xã hội và Giám đốc BHYT tỉnh thành phố trên cả nước để triển khai Nghị định về BHYT và tập huấn kỹ thuật nghiệp vụ cho cán bộ chuyên môn.

Ngày 15/12/1992, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 16/BYT-TT hướng dẫn tổ chức khám, chữa bệnh và nguyên tắc thanh toán BHYT. Cùng ngày 15/12/1992, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 82/TC về việc đóng BHYT và hạch toán phần đóng BHYT vào tài khoản.

Tính đến ngày 31/12/1992, có 38 tỉnh, thành phố và ngành xây dựng được đề án khai thác BHYT và 14 tỉnh, thành phố và ngành ra chỉ thị cho các đơn vị thuộc quyền thực hiện BHYT. Hết Quý IV năm 1992, toàn quốc mới có 13 tỉnh, thành phố phát hành thẻ BHYT với tổng số gần 100.000 thẻ và thu được trên 04 tỷ đồng.

 Đến ngày 10/02/1993, đã có 49 đơn vị BHYT tỉnh và thành phố được thành lập, trong đó có BHYT ngành Đường sắt do đặc điểm và tính chất hoạt động nên được phép thành lập. 05 tỉnh chưa thành lập BHYT là: Hải Hưng, Yên Bái, Gia Lai, Đắk Lắk và Long An.

Những đơn vị đã thành lập BHYT tiến hành công tác chuẩn bị để phát hành thẻ BHYT cho năm 1993, thành lập Hội đồng Quản trị, bổ nhiệm cán bộ quản lý, kiện toàn bộ máy, xây dựng đề án, khảo sát tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương như nhu cầu chi phí y tế, mức thu nhập và khả năng tham gia BHYT của đối tượng. Hệ thống văn bản, thông tư hướng dẫn cơ bản được hoàn thiện để đảm bảo từng bước cho việc thực hiện BHYT. Song song với những công việc đó, BHYT còn tập trung giải quyết những biện pháp kỹ thuật cơ bản để phục vụ cho việc thực hiện BHYT như xây dựng hệ thống phác đồ hướng dẫn điều trị, quy định danh mục thuốc thiết yếu và những quy chế kỹ thuật tổ chức giám định khám, chữa bệnh BHYT…

Tháng 12/09/1992 và tháng 01/1993, BHYT Việt Nam tổ chức hội nghị phổ biến Thông tư 16 của Bộ Y tế và Thông tư 82/TC của Bộ Tài chính tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Quảng Nam, Đà Nẵng. Qua các đợt tập huấn và hội nghị, đã giúp các địa phương xúc tiến một bước việc tổ chức hoạt động và giải quyết sơ bộ những yêu cầu cấp thiết cho việc thực hiện quan hệ giữa BHYT với các cơ sở điều trị trong tổ chức khám, chữa bệnh cho người có BHYT.

Ở các địa phương, sau khi thành lập, BHYT đã mở các đợt bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày cho cán bộ chuyên môn về nội dung điều lệ BHYT, kỹ thuật khai thác, đăng ký, nắm đối tượng và kỹ thuật ghi chép phát hành thẻ BHYT. Nhiều tỉnh đến cuối Quý I, đầu Quý II năm 1993 mới đi vào khai thác BHYT.

Ngày 14/01/1993, Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII ra Nghị quyết số 04/NQ-HNTW về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong Nghị quyết này, Trung ương Đảng đã nêu rõ định hướng: “Tạo nguồn kinh phí để phát triển sự nghiệp y tế, thực hiện thu một phần viện phí, phát triển BHYT”...

Ngày 21/01/1993 (tức ngày 29 tết Quý Dậu), Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh đến thăm, chúc Tết và nói chuyện với cán bộ, nhân viên cơ quan BHYT Việt Nam. Phó Thủ tướng gửi lời chúc mừng tới toàn thể cán bộ viên chức Ngành BHYT nhân đầu xuân mới. Phát biểu với cán bộ viên chức cơ quan BHYT Việt Nam, Phó Thủ tướng nhấn mạnh: “BHYT là một chính sách mới ở nước ta, về cơ bản, mọi người đều thấy sự cần thiết phải có hệ thống BHYT để tổ chức việc chăm sóc sức khỏe nhân dân phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Đúng là đưa một chính sách mới vào cuộc sống có nhiều khó khăn, mà trước hết là từ nhận thức, từ thói quen bao cấp nay phải thay đổi để thực hiện một chính sách mới phù hợp với bước phát triển của nền kinh tế đất nước quả là không dễ dàng. Mong rằng với những kinh nghiệm qua thực hiện thí điểm, các đồng chí thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. BHYT không chỉ là trách nhiệm của ngành BHYT, của Bộ Y tế mà là nhiệm vụ chung của các bộ, các ngành, các đoàn thể, UBND các địa phương và của cộng đồng xã hội. Các đồng chí phải cùng các cơ quan thông tin tuyên truyền giải thích sâu rộng để cán bộ và nhân dân hiểu biết về lợi ích của BHYT và tích cực tham gia. Cùng với BHYT, các cơ sở khám, chữa bệnh của Nhà nước phải thực sự đổi mới về chất mà trước hết là tinh thần thái độ phục vụ người bệnh, chặn đứng các tiêu cực và xoá bỏ những thủ tục phiền hà trong chăm sóc người bệnh. Tới đây Chính phủ sẽ quy định lại việc thu viện phí và tiền thu được từ viện phí phải được quản lý chặt chẽ hơn để phục vụ tốt cho việc khám, chữa bệnh.

Ngành BHYT mới hình thành trên phạm vi cả nước được mấy tháng, song đã làm được một số việc tốt, vừa xây dựng hệ thống tổ chức, vừa ban hành một hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện, nhiều địa phương đã phát hành thẻ khám, chữa bệnh... đó là những cố gắng và dấu hiệu tốt của buổi ban đầu. Có thể nói rằng, BHYT là một sự nghiệp có đầy triển vọng, hy vọng trong 03 năm tới chúng ta có thể đưa được 40 - 50% số dân cả nước tham gia BHYT. Được như vậy thì BHYT sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhân dân”…

Để chủ động thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, ngày 27/02/1993, nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam, BHYT Việt Nam đã xuất bản Bản tin nội bộ. Được lãnh đạo Bộ Y tế, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa Thông tin ủng hộ và tạo điều kiện giúp đỡ, ngày 28/07/1993 Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin đã cấp giấy phép xuất bản báo chí số 2174/BC-GPXB cho phép BHYT Việt Nam được xuất bản Thông tin BHYT Việt Nam. Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 10/1993, Thông tin BHYT Việt Nam đã xuất bản số đầu tiên. Ngày 16/10/1993, BHYT Việt Nam ra Quyết định số 02/BHYT-QĐ thành lập Ban Biên tập Thông tin BHYT Việt Nam, BS. Trần Khắc Lộng - Giám đốc BHYT Việt Nam làm Tổng Biên tập, PTS. Trần Văn Tiến - Trưởng phòng Giám định làm Phó Tổng Biên tập và Thư ký Tòa soạn là đồng chí Dương Văn Thắng (nay là Tổng Biên tập Tạp chí BHXH).

Tháng 9/1993, KS.Đoàn Văn Thân, Phó Giám đốc Bệnh viện E, Hà Nội được Bộ trưởng Bộ Y tế điều động và bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Giám đốc BHYT Việt Nam (Tháng 7/1998 đồng chí được nghỉ hưu theo chế độ).

Đến tháng 10/1993, đã có 56 cơ quan BHYT các tỉnh, thành phố, bao gồm 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 02 đơn vị BHYT ngành là Đường sắt và Dầu khí, Cơ quan BHYT Việt Nam (có chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh).

Sau 01 năm thực hiện BHYT theo Nghị định 299/HĐBT, hệ thống BHYT Việt Nam đã phát hành được trên 3,79 triệu thẻ BHYT (trong đó 0,32 triệu người tham gia các chương trình BHYT tự nguyện, nhân đạo); Quỹ BHYT thu được trên 111 tỷ đồng; trên 02 triệu lượt người đã khám, chữa bệnh do BHYT chi trả viện phí, thể hiện sự cố gắng lớn của hệ thống BHYT Việt Nam trong điều kiện vừa xây dựng, vừa củng cố tổ chức, vừa triển khai nhiệm vụ thu chi Quỹ BHYT. Đã có hàng triệu lượt người có BHYT được cơ quan BHYT chi trả chi phí khám, chữa bệnh.

Nhân dịp về dự kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa IX, 26 đại biểu Quốc hội thuộc Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội do đồng chí Nguyễn Thị Thân, Chủ nhiệm Ủy ban, dẫn đầu đã đến thăm và làm việc tại cơ quan BHYT Việt Nam. Cùng đi với đoàn có Thứ trưởng Bộ Y tế Lê Văn Truyền. BS. Trần Khắc Lộng - Giám đốc BHYT Việt Nam đã báo cáo kết quả 01 năm triển khai Nghị định 299/HĐBT của Chính phủ về BHYT. Các đại biểu hoan nghênh những thành tích bước đầu đã khích lệ hệ thống BHYT. Đồng chí Nguyễn Thị Thân nhấn mạnh: “Ở nước ta BHYT là một việc làm mới còn gặp nhiều khó khăn, lại không có kế thừa, chưa có kinh nghiệm hoạt động nhưng bước đầu BHYT, một chính sách mới về khám, chữa bệnh của Đảng và Nhà nước đã thực sự đi vào cuộc sống. Cán bộ và nhân dân ở nhiều nơi đang thích nghi dần với cơ chế này”.

Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội bày tỏ quan điểm ủng hộ việc thực hiện BHYT, vì đó là một chính sách đúng đắn, cần thiết, phù hợp với sự đổi mới của nước ta. Các đại biểu ghi nhận sẽ đề xuất với Chính phủ, Bộ Y tế khẩn trương nghiên cứu sửa đổi một số điểm trong Điều lệ BHYT cho phù hợp với tình hình, để thực hiện tốt hơn nữa công tác BHYT trong những năm tới.

 

8. Triển khai BHYT tới học sinh, sinh viên và người có công

Nhằm thực hiện nghiêm túc Nghị định của Chính phủ, chống thất thu BHYT, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp, ngày 07/01/1994, liên Bộ Y tế - Tài chính ban hành Thông tư số 02/TTLB về việc triển khai thực hiện truy thu BHYT năm 1993. Thực hiện Thông tư này, UBND nhiều địa phương kịp thời ra quyết định chỉ đạo truy thu BHYT. Các tỉnh Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ, Vĩnh Phúc), Thái Bình, Sông Bé (nay là Bình Dương, Bình Phước) nhanh chóng xây dựng biện pháp và thực hiện có kết quả. Riêng Vĩnh Phú đã truy thu 39 đơn vị, 12 đơn vị hành chính, 27 doanh nghiệp, thu về 278 triệu đồng trong số 1,6 tỷ đồng phải truy thu. Việc làm này được dư luận đồng tình, hoan nghênh. BHYT các địa phương trong cả nước cũng khẩn trương phối hợp cùng Sở Tài chính Vật giá, Cục Thuế, Chi cục Kho bạc và Ngân hàng tổ chức thực hiện tốt truy thu BHYT năm 1993, nhằm thực hiện nghiêm Nghị định của Chính phủ, đảm bảo quyền lợi được chăm sóc sức khỏe của người lao động.

Từ ngày 20 - 25/01/1994, Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ của Đảng đã được tiến hành. Trên lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Hội nghị chỉ rõ: “Chăm lo thích đáng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là chăm sóc sức khỏe ban đầu, coi phòng bệnh là bước đi trước tích cực... Thực hiện tốt chế độ BHYT, ban hành chính sách miễn giảm viện phí cho các đối tượng chính sách và cho người nghèo”.

Thực tế triển khai thực hiện BHYT theo Nghị định 299/HĐBT trong hơn 01 năm, cho thấy một số nhược điểm, hạn chế trong công tác thu nộp BHYT bắt buộc. Nhiều cơ quan, đơn vị chấp hành không nghiêm Nghị định của Chính phủ, lẩn trốn trách nhiệm đóng BHYT cho người lao động, gây thất thu cho Quỹ BHYT. Để sớm khắc phục tồn tại, đưa hoạt động BHYT đi dần vào nền nếp, phát huy tính nhân đạo cộng đồng xã hội, đóng góp tích cực cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngày 06/06/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 47/CP sửa đổi một số điều của Điều lệ BHYT ban hành theo Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng.

Ngày 23/06/1994, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa IX thông qua Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại Điều 142 quy định: “Khi ốm đau, người lao động được khám và điều trị tại các cơ sở y tế theo chế độ BHYT”.

Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh theo định hướng của Đảng và Nhà nước, cần phải chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho những chủ nhân tương lai của đất nước ngay từ khi còn trên ghế nhà trường và có giải pháp huy động nguồn lực, thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho học sinh. Với phương châm “BHYT học sinh vì sức khỏe học sinh”, ngày 19/09/1994, liên Bộ Giáo dục và Đào tạo - Y tế ban hành Thông tư liên bộ số 14/TTLB hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho học sinh, đây là văn bản pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của công tác BHYT học sinh. 

Ngày 20/09/1994, Bộ Y tế ra Quyết định số 810/BYT-QĐ ban hành mẫu thẻ BHYT và phiếu khám, chữa bệnh BHYT mới dùng chung cho các loại hình BHYT (trừ BHYT học sinh phát hành trên phạm vi cả nước từ ngày 01/01/1995). Thẻ và phiếu khám, chữa bệnh BHYT mới khắc phục hạn chế của loại cũ, giúp cho công tác quản lý của cơ quan BHYT hiệu quả hơn, giảm bớt phiền hà cho người tham gia và thuận lợi cho các cơ sở y tế khi tiếp nhận bệnh nhân đến khám, chữa bệnh. Đặc biệt mẫu mới có dấu hiệu chống làm giả do Cục Kỹ thuật, Bộ Nội vụ, thiết kế và quản lý.

Ngày 20-21/09/1994, tại Hà Nội và ngày 11-12/10/1994, tại Bà Rịa - Vũng Tàu, BHYT Việt Nam  tổ chức Hội nghị sơ kết 02 năm hoạt động BHYT và triển khai Nghị định số 47/CP của Chính phủ về sửa đổi một số điểm của Điều lệ BHYT. Tại hội nghị này, liên Bộ Y tế - Giáo dục phổ biến Thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 19/09/1994 hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho học sinh.

Nhằm phát huy những mặt tích cực và khắc phục những hạn chế trong việc thu một phần viện phí theo Quyết định số 45/HĐBT ngày 24/04/1989, ngày 27/08/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 95/CP về việc thu một phần viện phí. Ngày 27/11/1994, liên Bộ Y tế-Tài chính- Lao động-Thương binh và Xã hội-Ban Vật giá Chính phủ ban hành Thông tư liên bộ số 20/TTLB hướng dẫn thực hiện Nghị định 95/CP. Đây là những văn bản pháp lý quan trọng quy định về chế độ thu một phần viện phí, với những điểm đáng lưu ý là: xác định rõ đối tượng thu, đối tượng miễn thu một phần viện phí; đảm bảo cho các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước cấp kinh phí để mua thẻ BHYT, người bệnh nghèo được miễn nộp một phần viện phí; bảo đảm cho người bệnh có thẻ BHYT khi khám, chữa bệnh được đối xử như người bệnh nộp một phần viện phí, trên cơ sở này sẽ khuyến khích mọi người tích cực tham gia BHYT.

BHYT Việt Nam đã tranh thủ quan hệ với một số tổ chức BHXH và BHYT của một số nước, do có mối quan hệ tốt với các tổ chức ILO, WHO, ISSA cũng như một số tổ chức BHXH ở một số nước, nên đã nhận được tài trợ kinh phí để đưa một số cán bộ quản lý của BHYT ở các địa phương đi trao đổi kinh nghiệm ở Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Pháp, Đức, Úc, Hàn Quốc… và dự các hội nghị quốc tế của tổ chức ISSA.

Tính đến năm 1994, đã có 27/59 BHYT các tỉnh, thành phố, ngành có trụ sở riêng; nhiều nơi đã trang bị được phương tiện đi lại để phục vụ công tác, mua sắm dụng cụ làm việc. Ngành đã trang bị được máy tính và thực hiện chương trình quản lý, in ấn thẻ, phiếu BHYT trên máy. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất của BHYT nhiều tỉnh, thành phố còn rất nghèo nàn, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Hệ thống tổ chức BHYT từ Trung ương đến địa phương được hình thành, bao gồm 59 cơ quan BHYT (53 tỉnh, thành phố; 04 BHYT các ngành Giao thông, Dầu khí, Cao su, Than, BHYT Việt Nam và chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh). Nhiều BHYT các tỉnh, thành phố, ngành đã tổ chức được hệ thống chi nhánh BHYT của mình tại các huyện và khu vực, những nơi triển khai BHYT tự nguyện đã có mạng lưới đại lý BHYT ở xã, phường. Trong toàn hệ thống BHYT có trên 1.800 cán bộ viên chức, trong đó trình độ đại học chiếm 52,2%, trung học 32,7%, sơ học 15,1%. Đội ngũ cán bộ, viên chức BHYT chủ yếu được đào tạo cơ bản trong các trường lớp của Nhà nước, tập trung ở các chuyên ngành y, dược, kinh tế, tài chính, ngân hàng, pháp lý. Đội ngũ cán bộ chủ chốt của BHYT từ phó trưởng phòng đến giám đốc hầu hết được qua các lớp tập huấn về nghiệp vụ BHYT, được trang bị những kiến thức tối thiểu để thực hiện nhiệm vụ. Được phép của các cấp có thẩm quyền, BHYT cả nước đã chi phí hàng chục tỷ đồng hỗ trợ cho các cơ sở y tế mua sắm trang thiết bị, vật dụng để phục vụ bệnh nhân. Nguồn kinh phí tuy không lớn song được đầu tư tập trung, có mục đích rõ ràng nên đã phần nào đổi mới bộ mặt của hệ thống y tế, đặc biệt y tế cấp huyện đã hoạt động trở lại có hiệu quả.

Thực trạng hoạt động năm 1994 cũng đặt ra một số vấn đề cần có giải pháp giải quyết để BHYT tiếp tục phát triển. Đó là, bên cạnh các bộ, ngành, cơ quan đơn vị thực hiện nghiêm túc Nghị định của Chính phủ, khắc phục khó khăn, tuyên truyền, giải thích, giáo dục người lao động của đơn vị mình tích cực tham gia BHYT thường xuyên, đúng mức... thì vẫn còn không ít các đơn vị hành chính sự nghiệp và hưu trí mất sức, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp quốc doanh còn có gần 01 triệu người chưa tham gia BHYT. Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như chưa thực hiện; khối liên doanh và văn phòng đại diện nước ngoài tham gia với tỷ lệ rất thấp; còn những đơn vị trong lực lượng vũ trang làm kinh tế hiện vẫn chưa thực hiện BHYT theo như Nghị định 299/HĐBT. Phần đông các doanh nghiệp thực hiện BHYT kê khai mức thu nhập của người lao động trong đơn vị không đúng với thu nhập thực tế để đóng BHYT thấp. Chỉ riêng khu vực Hà Nội, kể cả Trung ương và địa phương, năm 1993 thu được khoảng 13 tỷ đồng, theo thông báo của Cục thuế Hà Nội, số thất thu còn đến trên 09 tỷ đồng.

Việc tổ chức khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT còn nhiều tồn tại và có sự phân biệt đối xử. Tình hình lạm dụng Quỹ BHYT trong khám, chữa bệnh có nguy cơ phát triển, là nỗi lo cho sự an toàn quỹ và cộng đồng xã hội. Không hiếm trường hợp bệnh nhân điều trị tại các bệnh viện, đã được BHYT chi trả, song khi ra viện vẫn xin hóa đơn, chứng từ mang đến cơ quan BHYT yêu cầu thanh toán. Việc lạm dụng quỹ phát sinh, phát triển ở cả hai phía (người tham gia BHYT, cán bộ, nhân viên y tế) với nhiều hình vẻ khác nhau, làm thiệt hại Quỹ BHYT và gây bất bình trong công luận. Ngày 07/05/1994, Bộ trưởng Bộ Y tế đã có Công văn số 3029/KH-TC yêu cầu các giám đốc bệnh viện phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc chống lạm dụng của cán bộ, công nhân viên y tế.

Thực hiện Nghị định 299, Quỹ BHYT phân cấp quản lý, phí quản lý không phù hợp, không thực hiện được sự điều tiết. Trong kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa IX, một số đại biểu Quốc hội đã có tham luận yêu cầu cần phải thống nhất quản lý BHYT để tăng hiệu quả của hoạt động BHYT.

Từ ngày 10-11/01/1995, tại TP. Hồ Chí Minh, BHYT Việt Nam tổ chức hội nghị giám đốc BHYT các tỉnh, thành phố và ngành bàn phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch BHYT năm 1995, mục tiêu tổng quát đặt ra là: “Tiếp tục củng cố, xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức và công tác cán bộ theo hướng quản lý thống nhất toàn ngành. Tạo hành lang pháp lý cho hoạt động BHYT bằng việc hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý. Hoàn thành tốt chỉ tiêu thu BHYT ở khu vực đối tượng bắt buộc, mở rộng BHYT tự nguyện dưới nhiều hình thức, bảo đảm tốt hơn quyền lợi người bệnh có thẻ BHYT khi khám, chữa bệnh. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua 3 chống của ngành BHYT Việt Nam mục tiêu chống thất thu ở khâu khai thác - chống lạm dụng ở khâu thực hiện quyền lợi người bệnh và chống tiêu cực trong nội bộ ngành BHYT. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hoạt động đối ngoại của hệ thống BHYT Việt Nam”.

Ngày 27/02/1995, phát biểu tại buổi lễ Kỷ niệm ngày Thầy thuốc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trọng Nhân đánh giá: “Chúng ta cũng thấy một hiện tượng là nhờ có BHYT ngày càng phát triển cho nên công suất giường bệnh tuyến tỉnh, tuyến huyện ngày càng cao hơn. Khác với những năm trước kia có thời kỳ những giường bệnh đó bị trống, bởi vì dân không đến khám, chữa bệnh do e ngại không có đủ tiền. Nhưng bây giờ có chính sách đãi ngộ của Chính phủ và có BHYT, cho nên người dân được hưởng khám, chữa bệnh công bằng, đầy đủ mà không lo lắng về phải trả kinh phí khám, chữa bệnh tại các bệnh viện, các cơ sở y tế của Nhà nước”. Về mục tiêu của Ngành Y tế những năm tiếp theo, Bộ trưởng Nguyễn Trọng Nhân nêu rõ: “Cần phải làm sao để BHYT ngày càng rộng khắp, thực hiện được nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân công bằng, hợp lý hơn. BHYT thực hiện bắt buộc đối với một số cán bộ công nhân viên chức của Nhà nước, một phần là nhân dân tự nguyện tham gia. Nhưng trong xã hội hiện nay cũng còn rất nhiều người nghèo, không có đủ khả năng để mua thẻ BHYT. Chúng ta cần phải tổ chức phong trào mua thẻ BHYT nhân đạo để cho mọi người đều có sự đóng góp, từ đó có kinh phí để cho Ngành Y tế có thể hoạt động được bình thường, đảm bảo được sức khỏe cho mọi người, người giàu cũng như người nghèo không có sự phân biệt đối xử trong việc chăm sóc sức khỏe”.

Ngày 29/04/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Thực hiện Nghị định này, những người có công với cách mạng nếu không là người hưởng lương, hưởng BHXH thì được Nhà nước mua thẻ BHYT để họ được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, bệnh viện dân y hoặc bệnh viện quân đội. Pháp lệnh người có công với nước và Nghị định 28/CP hướng dẫn thi hành pháp lệnh đã giải tỏa được trăn trở bấy lâu nay của người làm công tác BHYT. Theo đó, người có công với cách mạng được Nhà nước mua thẻ BHYT với mức quy định là 3.600 đồng/ người/tháng (43.000đồng/ người/ năm). Kể từ năm 1995, tất cả những người có công với cách mạng sẽ được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe thông qua việc cấp thẻ BHYT cho họ; được chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám, chữa bệnh ngoại trú, điều trị nội trú mà không phải trả bất cứ khoản tiền nào. Đi đôi với việc cấp thẻ BHYT kịp thời đầy đủ, BHYT Việt Nam đã có văn bản hướng dẫn BHYT các tỉnh, thành phố triển khai đưa hệ thống dịch vụ y tế xuống cơ sở để phục vụ trực tiếp cho người có thẻ BHYT, nhất là đối tượng chính sách xã hội. Cùng với việc thực hiện tốt công tác BHYT cho người có công với cách mạng, BHYT các tỉnh, thành phố còn có phong trào tặng sổ tiết kiệm, xây nhà tình nghĩa, phụng dưỡng các bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Trong tháng 05-06/1995, tại Hà Tây và TP. Hồ Chí Minh, được sự đồng ý của Bộ Y tế, BHYT Việt Nam đã tổ chức Hội thảo toàn quốc chuyên đề về công tác thông tin tuyên truyền BHYT. Đồng chí Hà Đăng, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương đến dự và phát biểu ý kiến tại Hội thảo. Hội thảo tập trung trao đổi kinh nghiệm, thảo luận và thống nhất những giải pháp trong công tác thông tin tuyên truyền nhằm thực hiện xã hội hóa BHYT, để đông đảo người dân hiểu và tích cực tham gia BHYT như đa dạng hóa các hình thức thông tin tuyên truyền; tăng cường sự phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng; Giám đốc cơ quan BHYT phải trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công tác thông tin tuyên truyền; cần có cán bộ chuyên trách; thực hiện phương châm “mỗi cán bộ BHYT, mỗi cán bộ y tế là một tuyên truyền viên BHYT”; dành tỷ lệ kinh phí nhất định cho hoạt động thông tin tuyên truyền.

Ngày 22/08/1995, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Chỉ thị số 09/BYT-CT về việc đẩy mạnh hoạt động BHYT, nêu rõ: “Làm tốt công tác BHYT sẽ thu hút được đông đảo cán bộ nhân dân tham gia, càng đông người tham gia thì kinh phí cho công tác khám, chữa bệnh càng lớn, hoạt động khám, chữa bệnh ở các cơ sở y tế càng có nhiều hiệu quả”...

Năm 1995, hầu hết các địa phương đã tổ chức được hệ thống chi nhánh BHYT cấp huyện, quận với khoảng gần 340 chi nhánh để quản lý đối tượng trên địa bàn nhưng hầu hết vẫn là cán bộ y tế kiêm nhiệm, rất ít địa phương có cán bộ chuyên trách, nên mục tiêu đưa BHYT đến tận cơ sở có thể nói là chưa thực hiện được bao nhiêu. Chỉ có một số ít tỉnh tổ chức tương đối chặt chẽ việc quản lý đối tượng của cấp chi nhánh như Hải Phòng, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Ninh, Vĩnh Phú… còn lại, vẫn phải tập trung giải quyết ở BHYT cấp tỉnh là chính. Công tác thu BHYT có nhiều thuận lợi do phương thức thu đóng BHYT thay đổi, chỉ tiêu thu BHYT khu vực doanh nghiệp được ngành Thuế đưa vào chỉ tiêu thu của ngành và giao cho cục Thuế các địa phương thực hiện nên hạn chế được tình trạng thất thu so với những năm trước. Nhưng việc thu BHYT thông qua thuế đã không thực hiện được ở nhiều địa phương, cơ quan BHYT mới chỉ tập trung thu chủ yếu ở các khu vực doanh nghiệp quốc doanh còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, liên doanh còn thất thu nhiều. Đối với khu vực hành chính sự nghiệp, hưu trí mất sức do phương thức cấp chuyển thẳng kinh phí từ cơ quan quản lý kinh phí về cơ quan BHYT nên việc thu BHYT khu vực này gần như không thất thu nhưng ở nhiều địa phương ngành Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội còn chuyển kinh phí chậm so với tiến độ phát thẻ. Ở khu vực ưu đãi xã hội, số đối tượng biến động tăng dần về cuối năm do việc ban hành Pháp lệnh ưu đãi người có công, nên mặc dù việc thực hiện BHYT có muộn hơn so với kế hoạch nhưng số thu tuyệt đối lại tăng so với chỉ tiêu đầu năm đặt ra. Năm 1995, trong cả nước phát hành được trên 07 triệu thẻ BHYT, trong đó gần 05 triệu thẻ BHYT bắt buộc, trên 452 ngàn thẻ đối tượng người có công và trên 2,2 triệu thẻ BHYT tự nguyện; tổng thu trên 400 tỷ đồng. Năm 1995 cũng là năm thực hiện Quyết định số 1008/BYT-QĐ của Bộ Y tế về chuyển đổi thẻ và phiếu khám, chữa bệnh mới, thay đổi công nghệ phát hành bằng máy vi tính. Yêu cầu này thúc đẩy quá trình trang bị hệ thống vi tính ở các địa phương, bảo đảm sự thống nhất và an toàn trong khâu phát hành. Tính đến hết năm, toàn quốc đã có 100 đơn vị BHYT trang bị máy vi tính với số đầu máy vi tính là 135 chiếc. Toàn quốc có trên 2.100 cơ sở điều trị thực hiện hợp đồng khám, chữa bệnh với cơ quan BHYT, trong đó tuyến Trung ương là 33, tuyến tỉnh là 203, tuyến huyện là 540, cơ sở y tế là 79, cơ sở y tế lực lượng vũ trang là 22 và trên 1.200 phòng khám đa khoa khu vực, phòng khám của cơ quan, đơn vị.

Ngày 05/12/1995, GS.Đỗ Nguyên Phương, Bộ trưởng Bộ Y tế, đến thăm và làm việc với BHYT Việt Nam. BS.Trần Khắc Lộng, Giám đốc BHYT Việt Nam, báo cáo Bộ trưởng kết quả thực hiện BHYT trong 03 năm qua và một số vấn đề cấp bách cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo tích cực của Bộ trưởng Bộ Y tế để khắc phục tồn tại, nhất là trong vấn đề làm thế nào để phát huy tốt nguồn thu được của BHYT, phục vụ đắc lực cho mục tiêu nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, công tác phục vụ bệnh nhân có BHYT ở cơ sở... Đặc biệt, gấp rút trình Chính phủ sửa đổi một số điều không còn phù hợp của Điều lệ BHYT, để sớm khắc phục các vấn đề mà người tham gia BHYT còn chê trách, tạo sự hấp dẫn mới của BHYT, mở rộng BHYT cho học sinh và nông dân trong thời gian tới. Bộ trưởng Đỗ Nguyên Phương biểu dương cán bộ BHYT đã có công khai phá, tìm tòi, sáng tạo, tích cực hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng được một ngành mới phục vụ lợi ích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Bộ trưởng nhấn mạnh, chỉ mấy năm hoạt động mà cả về con người và hệ thống BHYT đã từng bước trưởng thành, tiếp thu kinh nghiệm của các nước. Qua quá trình thực hiện đã tìm ra một mẫu hình phù hợp với tính quy luật của xã hội. Chỉ trong một thời gian rất ngắn (1989-1995), BHYT đã có sự phát triển mạnh mẽ, nhiều loại hình BHYT được thực hiện: BHYT bắt buộc đối với cán bộ, công nhân viên khu vực hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp và cán bộ hưu trí; BHYT nhân đạo cho nạn nhân chiến tranh và người hồi hương; BHYT cho học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục trên cả nước; BHYT cho người có công; BHYT cho người nghèo; BHYT cho thân nhân cán bộ, công nhân viên chức; BHYT cho thân nhân sĩ quan quân đội nhân dân; BHYT cho người nhiễm chất độc màu da cam; BHYT cho lưu học sinh người nước ngoài ở Việt Nam và các loại hình BHYT tự nguyện khác… Tuy nhiên, trên lĩnh vực mới mang tính sáng tạo, BHYT tất yếu sẽ gặp khó khăn ban đầu, Bộ trưởng động viên cán bộ BHYT phát huy ưu điểm và hứa sẽ cùng lãnh đạo Bộ Y tế chỉ đạo để BHYT khắc phục khó khăn, tồn tại, tháo gỡ vướng mắc, từng bước đưa sự nghiệp BHYT phát triển.

 

9. Khó khăn, bất cập và yêu cầu sửa đổi, bổ sung Điều lệ BHYT

Thực hiện chương trình công tác thanh tra chuyên đề theo kế hoạch, năm 1996, Thanh tra Nhà nước tiến hành thanh tra việc tổ chức thực hiện chính sách BHYT trên phạm vi toàn quốc. Từ tháng 04/1996, báo chí khai thác nguồn tin (từ kết quả thanh tra ở một số địa phương) liên quan đến những vi phạm BHYT vừa bị xử lý hoặc đang xem xét, giải trình đã được thông tin đến công chúng, dẫn đến những phản ứng trái chiều nhau trong dư luận xã hội, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động BHYT vừa mới triển khai được mấy năm. 

Ngày 20/06/1996, Chính phủ ra Nghị quyết số 37/CP về Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân trong giai đoạn 1996 - 2000 và Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam. Chủ trương xem xét, sửa đổi Điều lệ BHYT, phát triển BHYT được Nghị quyết chỉ rõ: “Tiếp tục thực hiện tốt việc thu một phần viện phí và phát triển BHYT để tăng thêm nguồn tài chính phục vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân... Tổ chức lại và chuyển đổi phương thức hoạt động của BHYT, thực hiện cho được BHYT tự nguyện để đến năm 2020, viện phí phần lớn được thực hiện qua BHYT”.

Cuối tháng 06, đầu tháng 07/1996, Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII tiến hành trọng thể tại Hà Nội. Đại hội đánh giá 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và 10 năm đổi mới. Trên lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, định hướng phát triển BHYT tiếp tục được nêu rõ trong Báo cáo chính trị Đại hội Đảng: “Đổi mới và tăng cường công tác quản lý bệnh viện, kiện toàn hệ thống khám, chữa bệnh đủ sức đáp ứng nhu cầu ngày càng nâng cao và đa dạng của nhân dân. Thực hiện khám, chữa bệnh miễn phí cho các gia đình chính sách, cho người nghèo. Tăng đầu tư của Nhà nước, kết hợp với tạo thêm nguồn kinh phí khác cho y tế như phát triển bảo hiểm”.

Trong những ngày cuối tháng 07, đầu tháng 08/1996, tại Hà Nội, Nha Trang và Đồng Tháp, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết 37/CP của Chính phủ và giao ban công tác y tế 06 tháng đầu năm. Tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương chủ trì hội nghị, đến dự hội nghị có Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh cùng nhiều đại biểu của các bộ, ban, ngành ở Trung ương. Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh tán thành việc cần phải sửa đổi Điều lệ BHYT, đồng thời, cần mở rộng và nghiên cứu thêm về nội dung, cách thức tổ chức BHYT.

Để hạn chế việc lạm dụng, gian dối trong việc sử dụng thẻ BHYT và khám, chữa bệnh BHYT, ngày 06/08/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 46/CP quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về y tế. Điều 12 quy định rõ việc xử phạt vi phạm các quy định về BHYT như phạt từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi sử dụng thẻ BHYT của người khác hoặc sửa chữa thẻ BHYT; phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sử dụng thẻ BHYT vì lợi ích cá nhân, chủ sử dụng lao động không mua hoặc gian lận trong hồ sơ mua thẻ BHYT bắt buộc cho người lao động; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi gian dối trong việc lập chứng từ và thanh toán chi phí sai quy định gây thiệt hại cho Quỹ BHYT nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngày 15/10/1996, Bộ Y tế chính thức có Tờ trình số 8459/TC trình Chính phủ về Dự thảo Nghị định ban hành Điều lệ BHYT để thay thế Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Tờ trình nêu rõ sự cần thiết phải ban hành Điều lệ BHYT mới, do qua 04 năm hoạt động, bên cạnh kết quả đã đạt được, BHYT đã bộc lộ một số điiều không còn phù hợp và khiếm khuyết nhất định, nảy sinh mâu thuẫn, khó khăn, phức tạp trong điều kiện mới, nên có nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét khác nhau về thực hiện chế độ BHYT. Những tồn tại cơ bản đó là, BHYT chưa thể hiện rõ tính xã hội, tính cộng đồng; chưa đủ cơ sở pháp lý để phát triển, mở rộng BHYT cho đông đảo nhân dân; việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện còn thiếu tính thống nhất, đồng bộ, dẫn đến quyền lợi của người tham gia BHYT không được bảo đảm công bằng, thậm chí bị vi phạm; việc sử dụng Quỹ BHYT chưa được quy định chặt chẽ, nên đôi khi dùng chưa đúng mục đích. Để khắc phục những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động của BHYT, cần hoàn thiện một bước chế độ BHYT, thực hiện mục tiêu nhân đạo và công bằng xã hội trong khám, chữa bệnh, góp phần mở rộng đối tượng tham gia và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nhất là đối với người nghèo.

Từ ngày 15/10 đến 12/11/1996, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX diễn ra trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Đây là kỳ họp quan trọng sau thành công Đại hội VIII của Đảng. Tại kỳ họp này, tham nhũng là một trong những vấn đề quan tâm của đại biểu Quốc hội. Trong thảo luận ở tổ cũng như ở hội trường, có nhiều ý kiến nêu tiêu cực của các ngành, địa phương, trong đó có BHYT. Đứng trước tình hình đó, BHYT Việt Nam chỉ đạo BHYT các tỉnh, thành phố và ngành tiếp cận tuyên truyền, giải thích tới lãnh đạo các cấp, ngành, các đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương, cung cấp đầy đủ những thông tin về hoạt động BHYT, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chủ động báo cáo, cung cấp thông tin cho lãnh đạo Bộ Y tế, Ủy ban Về Các vấn đề xã hội của Quốc hội; đưa phóng viên, nhà báo các đài, báo quốc gia đi thực tế cơ sở khảo sát, tìm hiểu về bản chất, sự thực để viết bài cung cấp những thông tin đúng đắn, chuẩn xác về chính sách BHYT mà dư luận đang quan tâm; xuất bản tài liệu Thông tin BHYT số đặc biệt cung cấp đầy đủ thông tin về BHYT cho đại biểu Quốc hội. Đối với các bài báo thiếu tính xây dựng, BHYT Việt Nam đều có ý kiến trao đổi lại để công luận hiểu rõ hơn. Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội thuyết trình trước Quốc hội nêu rõ: “Trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả tốt của chính sách BHYT, còn có một số vấn đề mà dư luận xã hội không đồng tình như một số báo cáo của các cơ quan thanh tra đã nêu những vi phạm các nguyên tắc tài chính, BHYT chưa có tính hấp dẫn... Ủy ban chúng tôi thấy hiện tượng này là có thực, tuy nhiên đây là ngành non trẻ (mới bắt đầu tổ chức từ cuối năm 1992, chính thức đi vào hoạt động năm 1993), vì vậy chưa có nhiều kinh nghiệm. Trong khi đó, các nước phát triển phải mất hàng trăm năm mới có được hệ thống BHYT tương đối hoàn chỉnh như hiện nay. Với hơn 2.300 cán bộ (hầu hết là cán bộ y tế, chưa có nghiệp vụ về quản lý tài chính cũng như nghiệp vụ bảo hiểm), vừa làm, vừa học, thực hiện một chính sách mới lần đầu áp dụng ở nước ta, do đó họ thiếu cả cơ sở lý luận lẫn kinh nghiệm thực tiễn trên tầm vĩ mô cũng như vi mô. Bên cạnh đó, các quy định pháp lý nhiều chỗ chưa rõ ràng. Trong lúc cán bộ quản lý BHYT chưa có kinh nghiệm thì các cơ quan chức năng, đặc biệt là Hội đồng Quản trị chưa quan tâm kiểm tra chấn chỉnh kịp thời, mặt khác hệ thống tổ chức của BHYT chưa thống nhất. Hiệu quả của BHYT lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng phục vụ của bệnh viện”. Kết luận của Thanh tra Nhà nước là BHYT Việt Nam không có tham ô, tham nhũng, nhưng cần rút kinh nghiệm về quản lý tài chính, thu - chi, không để thất thoát nguồn quỹ.

Cuối năm 1996, sau một năm thực hiện Thông tư liên bộ số 04 liên quan đến việc chi trả một phần viện phí, không hạn chế phạm vi, mức độ chi trả BHYT, lại nổi lên một vấn đề thời sự nóng bỏng, đó là việc nhiều địa phương lo lắng phòng xa không cân đối được Quỹ BHYT dành cho khám, chữa bệnh. Đã có 31 đơn vị BHYT có số chi xấp xỉ số thu hoặc vượt số thu, trong đó 14 đơn vị bội chi ảo. Thực tế đó đã rung hồi chuông báo động, cần sớm có giải pháp tháo gỡ kịp thời, tạo điều kiện tiếp tục củng cố, phát triển BHYT. Kết quả thanh tra toàn diện chính sách BHYT cũng chỉ rõ: Quyền lợi của người tham gia BHYT chưa được đảm bảo thống nhất trong cả nước. Một số tỉnh, thành phố tự quy định các chế độ chi trả BHYT áp dụng riêng cho địa phương. Một số địa phương có số thu BHYT ít phải hạn chế chi trả chi phí khám, chữa bệnh, trong khi một số địa phương có số thu nhiều, Quỹ dự phòng của BHYT Việt Nam còn nguyên, chưa phải điều tiết cho một địa phương nào vì thực tế chưa có thâm hụt quỹ mà do các địa phương tính toán không theo quy luật thu - chi liên tục hàng ngày của BHYT. Lúc thu nhiều thì thừa, lúc chi nhiều thì cảm thấy như quỹ sắp “vỡ”? Một số vi phạm trong quản lý tài chính BHYT, một phần do nguyên nhân chủ quan, nhưng phần lớn do các Quỹ BHYT địa phương hoạt động độc lập, trực thuộc chính quyền địa phương nên BHYT Việt Nam khó thực hiện chức năng quản lý theo chế độ tài chính thống nhất. Để kịp thời khắc phục những tồn tại trên, đưa sự nghiệp BHYT phát triển đúng hướng, dư luận báo chí, các bộ, ngành có liên quan, Thanh tra Nhà nước đều thống nhất đề nghị Chính phủ sửa đổi Điều lệ BHYT theo hướng quản lý thống nhất hệ thống BHYT theo ngành dọc.

Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 10 thông qua Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, do đó năm 1997, tương ứng với 08 tỉnh mới, đã có 08 BHYT tỉnh mới được thành lập là Bắc Kạn, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Cà Mau, Bạc Liêu, Bình Phước, Vĩnh Phúc, đưa tổng số cơ quan BHYT trong toàn quốc lên 63 đơn vị, cùng với cơ quan BHYT Việt Nam và Chi nhánh của BHYT Việt Nam tại TP.HCM.

Tháng 06/1997, BS.Trần Khắc Lộng được nghỉ hưu theo chế độ, TS.Trần Văn Tiến được bổ nhiệm giữ chức vụ Quyền Giám đốc BHYT Việt Nam. Ngày 27/08/1997, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Trần Thị Trung Chiến đến thăm và làm việc tại BHYT Việt Nam. Thứ trưởng biểu dương, đánh giá cao những thành tích tập thể cơ quan BHYT Việt Nam đã đạt được trong 05 năm qua, trước biết bao khó khăn thử thách. Đồng thời, nêu bật ý nghĩa xã hội to lớn của chính sách BHYT, khẳng định sự đóng góp có hiệu quả thiết thực của hoạt động BHYT đối với xã hội nói chung và đặc biệt với Ngành Y tế nói riêng. Đề cập đến mặt tồn tại, hạn chế của BHYT những bất hợp lý trong Thông tư liên Bộ số 14/TTLB. Nguyên nhân do trong buổi ban đầu BHYT còn quá mới mẻ, chưa được tiếp cận, hình dung và lường hết được những vấn đề bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện. Ngày 17/09/1997, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 1867/BYT-QĐ chuyển giao cho BHYT Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh nhiệm vụ khai thác BHYT các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội, TP.HCM từ ngày 01/01/1998, nhằm giúp cho BHYT Việt Nam tập trung vào công tác quản lý theo mô hình quản lý và hạch toán thống nhất toàn Ngành.

Từ ngày 20 - 29/09/1997, Quốc hội khóa X họp kỳ họp thứ nhất. Trong phiên bế mạc, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải trình bày định hướng Chương trình hành động của Chính phủ trong nhiệm kỳ mới. Nói về công tác y tế, Thủ tướng nêu rõ: “Sửa đổi chế độ viện phí hợp lý đi đôi với phát triển nhanh Quỹ BHYT và các quỹ cứu trợ cho người nghèo được khám, chữa bệnh một cách bình đẳng”. Tại kỳ họp lần này, đồng chí Phạm Gia Khiêm được Quốc hội giao trọng trách Phó Thủ tướng trong Chính phủ khóa X, phụ trách vấn đề văn hóa - xã hội. Ngày 12/10/1997, trả lời phỏng vấn phóng viên báo Nhân Dân, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nêu ý kiến: “Việc sớm sửa đổi chế độ BHYT, chế độ thu viện phí không chỉ tạo thêm nguồn lực cho hoạt động y tế mà còn đáp ứng tốt hơn việc khám, chữa bệnh cho người có công, người nghèo”.

Đến Quý II năm 1997, có thêm 05 tỉnh nữa tiếp tục bị bội chi, đưa con số các tỉnh, thành phố bị bội chi Quỹ khám, chữa bệnh BHYT lên đến 17 đơn vị, bao gồm Hà Nội, TP.HCM, Quảng Ninh, Nam Định, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận, Đồng Tháp, Bình Dương, Tiền Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu. Tại những tỉnh, thành trên, số chi khám, chữa bệnh lớn hơn so với số phải thu cho Quỹ khám, chữa bệnh BHYT trong 02 quý đầu năm. BHYT TP.Hà Nội là đơn vị bội chi cao nhất, đến cuối Quý II năm 1997, đã chi vượt quỹ hơn 02 tỷ đồng; BHYT tỉnh Kiên Giang năm 1996 đã chi vượt quỹ trên 500 triệu đồng, riêng Quý I năm 1997, tiếp tục chi vượt 129 triệu đồng. Đầu tháng 06/1997, Chính phủ đã làm việc với lãnh đạo Bộ Y tế để nghe báo cáo tình hình và cho ý kiến chỉ đạo. Ngày 09/06/1997, Văn phòng Chính phủ ra Thông báo số 62/TB nêu ý kiến chỉ đạo của Chính phủ: “Đồng ý việc quy định lại mức chi phí về khám, chữa bệnh đối với bệnh nhân có thẻ BHYT. Giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ LĐ-TB&XH, Ban Vật giá Chính phủ, Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ xem xét lại Thông tư liên Bộ số 14/TTLB ngày 30/09/1995 cho phù hợp với tình hình hiện nay và khả năng thực tế của Quỹ BHYT”.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, ngày 19/09/1997, liên Bộ Y tế - Tài chính –LĐ-TB&XH - Ban Vật giá Chính phủ đã ban hành Thông tư liên Bộ số 11/TTLB thống nhất chi phí khám, chữa bệnh giữa người có BHYT và người không có BHYT tự trả viện phí. Quy định một số dịch vụ y tế kỹ thuật cao được áp dụng cùng chi trả, với tỷ lệ 90% chi phí do Quỹ BHYT chi trả và 10% do bệnh nhân tự trả (đối với bệnh nhân tán sỏi bằng tia laser, chạy thận nhân tạo chu kỳ, chụp cắt lớp và chụp cộng hưởng từ hạt nhân từ lần thứ hai trở đi trong mỗi đợt điều trị). Riêng chữa bệnh ung thư bằng hóa chất ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế, BHYT thanh toán 50%, người bệnh tự trả 50%. Những quy định này không áp dụng đối với đối tượng hưu trí, mất sức và người có công. Tuy nhiên, việc sửa đổi này thực chất chỉ là giải pháp tình thế để kịp thời ngăn chặn tình trạng bội chi đang gia tăng ở các địa phương và là một bước thử nghiệm ban đầu chuẩn bị cho phương thức cùng chi trả ở diện rộng được đề xuất trong thời gian tới.

Sau hơn 02 năm tiến hành các thủ tục hợp thức hóa quyền sử dụng đất, các thủ tục xây dựng cơ bản theo quy định của Nhà nước, được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành Trung ương và địa phương, BHYT Việt Nam đã hoàn tất mọi thủ tục cần thiết để khởi công xây dựng trụ sở làm việc và phòng khám BHYT tại số 215 Phố Vọng, Phường Phương Liệt, Quận Đống Đa, Hà Nội (nay là 150 Phố Vọng, Quận Thanh Xuân, Hà Nội). Ngày 17/09/1997, BHYT Việt Nam chính thức làm lễ động thổ khởi công xây dựng công trình.

Ngày 21/11/1997, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X khai mạc trọng thể kỳ họp thứ 02 tại Hội trường Ba Đình (Hà Nội). Đề cập một số vấn đề chủ yếu trong nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội năm 1998, về công tác y tế, Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Phan Văn Khải trình bày trước Quốc hội nêu rõ: “Đổi mới chế độ viện phí và chế độ BHYT, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT; người nộp viện phí mà có BHYT thì thanh toán với Quỹ BHYT với tỷ lệ thanh toán được quy định cho từng loại đối tượng, từng loại chi phí. Ban hành chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo và người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Xây dựng các quỹ do dân tự nguyện đóng góp và Nhà nước có chính sách trợ giúp người nghèo có tiền trả viện phí. Ngân sách Nhà nước mua BHYT cho người có công với nước...”. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ năm 1998. Đề cập tới các vấn đề xã hội, nhiệm vụ và giải pháp chính, Nghị quyết nêu rõ: “Thí điểm việc thu viện phí mới. Sơ kết việc thực hiện và điều chỉnh chế độ BHYT, bảo đảm công bằng trong khám, chữa bệnh cho các đối tượng chính sách và người nghèo”.

Căn cứ đề nghị của BHYT Việt Nam tại Công văn số 1016/TCCB ngày 15/12/1997 và Công văn số 126/TCCB ngày 24/03/1998, ngày 04/05/1998, Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương ký Quyết định số 1081 bổ nhiệm Phó Giám đốc BHYT Việt Nam. Theo đó, DS. Nguyễn Đức Ngọc, Giám đốc Chi nhánh BHYT Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh; cử nhân Hoàng Kiến Thiết, trưởng Phòng Tổng hợp và cử nhân Nguyễn Văn Biểu, Phó Trưởng Phòng Kế hoạch BHXH Việt Nam cùng được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Giám đốc BHYT Việt Nam.

 

10. Đổi mới quan trọng sau 05 năm thực hiện chính sách BHYT

Sau thời gian nghiên cứu, chuẩn bị, trưng cầu ý kiến của các Bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố, Bộ Y tế chính thức trình Chính phủ Dự thảo Điều lệ BHYT sửa đổi. Sau khi ra Nghị quyết phiên họp tháng 03/1998 thông qua Dự thảo Điều lệ BHYT sửa đổi, Chính phủ tiếp tục trưng cầu ý kiến UBND các tỉnh, thành phố, thu thập dư luận xã hội. Ngày 13/08/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 58/1998/NĐ-CP kèm theo Điều lệ BHYT mới. Những điểm mới của Điều lệ BHYT theo Nghị định số 58/CP là mở rộng đối tượng tham gia BHYT bắt buộc đến cán bộ xã, phường, thị trấn hưởng sinh hoạt phí hàng tháng theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP, ngày 23/01/1998 của Chính phủ; người làm việc trong các cơ quan dân cử từ Trung ương đến cấp xã phường; các đối tượng bảo trợ xã hội được Nhà nước cấp kinh phí đóng BHYT và những người có công với nước theo Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãi người có công).

Điều lệ BHYT mới mở rộng quyền lợi cho người có thẻ BHYT và quy định việc thanh toán chi phí khi đi khám, chữa bệnh theo yêu cầu riêng như tự chọn thầy thuốc, buồng bệnh, cơ sở khám, chữa bệnh, các dịch vụ y tế, khám, chữa bệnh vượt tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế, khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế không có hợp đồng với cơ quan BHYT. Điểm mới trong chế độ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT là việc thực hiện cùng chi trả. Đối tượng thuộc diện ưu đãi xã hội quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được Quỹ BHYT chi trả 100% chi phí khám, chữa bệnh theo viện phí. Đối với những đối tượng khác, để đảm bảo khả năng chi trả, cân đối Quỹ BHYT, khi mà nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao, chi phí y tế ngày một lớn, trong lúc mức phí BHYT lại có giới hạn, Điều lệ BHYT quy định: Cơ quan BHYT thanh toán 80% chi phí khám, chữa bệnh theo giá viện phí, người bệnh tự trả 20%. Tuy nhiên, để giảm bớt khó khăn cho những trường hợp bệnh có chi phí khám, chữa bệnh lớn, khi số tiền người bệnh tự trả trong năm vượt quá 06 tháng lương tối thiểu hiện hành, các chi phí khám, chữa bệnh tiếp theo trong năm theo chế độ BHYT sẽ được Quỹ BHYT thanh toán toàn bộ.

Điều lệ BHYT mới quy định hệ thống BHYT được quản lý thống nhất trong toàn quốc, việc chỉ đạo thực hiện chế độ BHYT theo đúng chính sách, quy định để chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước được thực hiện đồng bộ, công bằng, hiệu quả. Khác với Điều lệ cũ, Điều lệ BHYT mới quy định chi tiết trách nhiệm, phương thức đóng và mức đóng BHYT cho từng nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Mức đóng BHYT vẫn là 3% mức tiền lương, tiền công, tiền sinh hoạt phí và một số khoản phụ cấp. Mức phí BHYT cho người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật và đối tượng bảo trợ xã hội là 3% mức lương tối thiểu hiện hành (theo quy định cũ mức phí BHYT cho người có công với cách mạng chỉ là 36.000 đồng/tháng). Ngoài ra, quy định những nguyên tắc pháp lý cơ bản để triển khai, phát triển BHYT tự nguyện, nhằm đa dạng hóa các loại hình BHYT, góp phần xã hội hóa công tác y tế. Mức đóng góp BHYT tự nguyện được quy định phù hợp với từng đối tượng, điều kiện kinh tế - xã hội của các vùng dân cư, đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi. Liên Bộ Y tế - Tài chính ban hành khung mức đóng và mức hưởng BHYT tự nguyện. Điều lệ BHYT quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc triển khai chính sách BHYT tại địa phương.

Ngày 23/09/1998, liên Bộ Y tế - Tài chính - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ ban hành Thông tư số 12/1998/TTLT-BYT-BTC-BTCCBCP hướng dẫn bàn giao tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản của BHYT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, BHYT các ngành sang BHYT Việt Nam theo nguyên tắc nguyên trạng, đúng quy định, nhanh gọn, rõ ràng, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ BHYT và quyền lợi của người có thẻ BHYT, tránh tình trạng làm hư hao mất mát tài sản, công quỹ.

Ngày 29/09/1998, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị triển khai thực hiện nghị định số 58/1998/NĐ-CP của Chính phủ. Tại hội nghị, liên Bộ Y tế - Tài chính - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ triển khai Thông tư liên tịch số 12 ngày 23/09/1998 hướng dẫn thực hiện Nghị định 58/1998/NĐ-CP.

Ngày 20/11/1998, liên Bộ Tài chính - Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 151/1998/TTLT-BTC-BYT hướng dẫn chế độ quản lý tài chính Quỹ BHYT. Ngày 05/12/1998, liên Bộ Y tế - Tài chính –LĐ-TB&XH ban hành Thông tư liên tịch số 15/1998/TTLT-BYT-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện BHYT bắt buộc. Ngày 19/12/1998, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 17/1998/TT-BYT hướng dẫn thực hiện việc khám, chữa bệnh, sử dụng Quỹ khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT.

Trong các ngày từ 21 - 23/12, tại Hà Nội và từ 28 - 30/12/1998, tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị triển khai các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 58.

Từ ngày 05/11 đến ngày 25/12/1998, trong vòng 50 ngày, BHYT Việt Nam đã hoàn thành việc tiếp nhận tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản của BHYT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ngành sang BHYT Việt Nam.

Sau hơn 03 năm thực hiện Thông tư số 14/TTLB ngày 19/09/1994 của liên Bộ GD&ĐT - Y tế về BHYT học sinh, tháng 07/1998, đã có gần 3,5 triệu học sinh trong cả nước tham gia BHYT. Tuy nhiên, qua quá trình cọ sát với thực tế, Thông tư số 14 cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập. Ngày 17/07/1998, liên Bộ GD&ĐT - Y tế đã ký ban hành Thông tư liên tịch số 40/1998/TTLT ngày 18/07/1998 hướng dẫn thực hiện BHYT học sinh, thay thế Thông tư số 14/TTLB. Theo quy định của Thông tư mới, quyền lợi của học sinh tham gia BHYT được mở rộng và thiết thực hơn. Trách nhiệm của các tổ chức thực hiện BHYT học sinh như nhà trường, cơ sở khám, chữa bệnh, cơ quan BHYT, cũng như trách nhiệm của học sinh được quy định rõ hơn. Mức đóng, nội dung sử dụng Quỹ BHYT học sinh được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và nhu cầu được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của học sinh. Đặc biệt, Thông tư nêu rõ trách nhiệm của nhà trường trong thực hiện BHYT học sinh: “Trách nhiệm chính đối với công tác bảo vệ, chăm sóc giáo dục sức khỏe cho học sinh trong thời gian ở trường thuộc về lãnh đạo nhà trường. Mỗi trường hoặc cụm trường bố trí y tế trường học theo quy định và đảm bảo cho y tế trường học hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ quy định của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo - Y tế về công tác y tế trường học. Nhà trường có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, thực hiện đăng ký, kê khai, thu tiền đóng BHYT của học sinh và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả nguồn kinh phí BHYT học sinh để lại nhà trường theo quy định”.

Từ ngày 01/01/1999, cơ chế cùng chi trả 20% chi phí khám, chữa bệnh BHYT được áp dụng. Sau 01 tháng thực hiện, công tác khám, chữa bệnh theo Điều lệ BHYT mới đã thu được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, có một số kiến nghị với các cấp lãnh đạo của Đảng và Nhà nước xin chưa áp dụng phương thức cùng chi trả 20% chi phí khám, chữa bệnh đối với trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức vì đối tượng này có mức thu nhập thấp, lại ốm đau, bệnh tật nhiều. Được sự đồng ý, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 01/02/1999, Bộ trưởng Bộ Y tế có công điện số 763 chỉ đạo sở y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị trực thuộc tạm dừng thực hiện cùng chi trả 20% chi phí khám, chữa bệnh BHYT đối với người nghỉ hưu, nghỉ mất sức.

Thực hiện Nghị định số 58/1998/NĐ-CP, ngày 02/03/1999, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 627/1999/QĐ-BYT về Quy chế tổ chức và hoạt động của BHYT Việt Nam. Theo Điều lệ BHYT mới, BHYT Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Thực hiện Quyết định này, cơ cấu tổ chức bộ máy giúp việc cho Tổng Giám đốc BHYT Việt Nam gồm Văn phòng, Ban Nghiệp vụ Khai thác, Ban Nghiệp vụ Giám định, Ban Kế hoạch - Tài chính, Ban Tổ chức - Cán bộ, Ban Kiểm toán nội bộ, Ban Hợp tác Quốc tế, Ban Thông tin tuyên truyền, Trung tâm Tin học, Trung tâm Đào tạo, Cơ quan Đại diện BHYT Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh. Cơ cấu, tổ chức bộ máy giúp việc cho Giám đốc BHYT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, BHYT ngành gồm: Phòng Hành chính - Tổng hợp, Phòng Khai thác, Phòng Giám định, Phòng Kế toán. Riêng BHYT TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh được thành lập Phòng Tổ chức - Cán bộ. Thực hiện Nghị định số 58, được sự thỏa thuận của các bộ, ngành liên quan, Bộ trưởng Bộ Y tế đã có quyết định bổ nhiệm các thành viên Hội đồng Quản lý BHYT Việt Nam gồm 08 đồng chí: PGS.Lê Ngọc Trọng, Thứ trưởng Bộ Y tế (Chủ tịch); Nguyễn Thị Kim Ngân, Thứ trưởng Bộ Tài chính (Phó Chủ tịch); PTS.Trần Văn Tiến, Tổng Giám đốc BHYT Việt Nam (Phó Chủ tịch Thường trực) và các ủy viên gồm PTS.Ngô Toàn Định, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Y tế; PTS.Trần Thị Thu Thủy, Vụ trưởng Vụ Điều trị, Bộ Y tế; Nguyễn Đình Khương, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Y tế; Đặng Anh Duệ, Phó Vụ trưởng Vụ BHXH, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Nguyễn Xuân Nga, Phó Trưởng Ban Kinh tế - Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Ngày 16/03/1999, liên Bộ Giáo dục và Đào tạo - Tài chính - Y tế ban hành Thông tư liên Bộ số 13/1999/TTLT hướng dẫn thực hiện chế độ phục vụ y tế cho học sinh nước ngoài học tại Việt Nam. Cơ sở đào tạo và phục vụ lưu học sinh được trích 3% trên suất học bổng được cấp hàng tháng từ NSNN để mua BHYT cho lưu học sinh. Cơ quan BHYT thanh toán 100% chi phí khám, chữa bệnh cho các đối tượng này, bao gồm cả điều trị nội và ngoại trú, trừ các bệnh không được thanh toán BHYT theo quy định của Điều lệ BHYT.

Ngày 29/01/1999, liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Y tế - Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 05/1999/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC hướng dẫn việc thực hiện khám, chữa bệnh được miễn nộp một phần viện phí đối với người thuộc diện quá nghèo quy định tại Nghị định số 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ. Thực hiện chủ trương này, UBND các tỉnh, thành phố sử dụng quỹ bảo đảm xã hội tại địa phương mua thẻ BHYT cho người thuộc diện quá nghèo và khoảng 30% số người nghèo nhất trong tổng số người nghèo ở địa phương với mệnh giá 30.000 đồng/thẻ/người/năm. Quyền lợi được hưởng như đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Xuất phát từ yêu cầu của đời sống, từ thực tế hoạt động BHYT, giải pháp khám, chữa bệnh cho người nghèo đã có lời giải. BHYT cho người nghèo đã trở thành một chủ trương, chính sách, là sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước đối với phần đông đối tượng đặc biệt này. Năm 1999, đã có 34 tỉnh, thành phố triển khai cấp thẻ BHYT cho người nghèo, với trên 605.000 thẻ.

Ngày 27/03/1999, Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương ký Quyết định số 567/QĐ-BYT bổ nhiệm các đồng chí Phó Giám đốc BHYT Việt Nam Nguyễn Đức Ngọc, Hoàng Kiến Thiết, Nguyễn Văn Biểu giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc BHYT Việt Nam. Năm 2003, BHYT Việt Nam chuyển giao vào BHXH Việt Nam, đồng chí Nguyễn Đức Ngọc được bổ nhiệm giữ chức Trưởng đại diện BHXH Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (đến tháng 06/2007 nghỉ hưu theo chế độ); đồng chí Hoàng Kiến Thiết được bổ nhiệm giữ các chức vụ Trưởng Ban BHXH tự nguyện, Trưởng Ban Sổ, thẻ, Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng (đồng chí được nghỉ hưu theo chế độ từ tháng 10/2014); đồng chí Nguyễn Văn Biểu được bổ nhiệm giữ các chức vụ Trưởng Ban Giám định y tế, Trưởng Ban Tuyên truyền, Giám đốc BHXH tỉnh Thái Bình (từ tháng 07/2009 đến nay).

Ngày 18/06/1999, Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương đã có Tờ trình số 3980/TTr-BYT báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm về tình hình thực hiện BHYT học sinh trong những năm qua, đồng thời kiến nghị một số giải pháp và xin ý kiến chỉ đạo thực hiện công tác này trong thời gian tới. Bộ Y tế đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét và cho ý kiến chỉ đạo để từ năm học 1999 - 2000 chỉ cho phép thực hiện một loại hình bảo hiểm trong hệ thống trường phổ thông các cấp. Bộ Y tế đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép BHYT Việt Nam là tổ chức duy nhất thực hiện BHYT học sinh trong các trường phổ thông, còn BHYT trong các khối học khác thì tùy sự lựa chọn của học sinh và nhà trường. Ngày 13/07/1999, Bộ Giáo dục và Đào tạo có văn bản số 6436/GDTC đồng ý với ý kiến của Bộ Y tế trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị chỉ cho phép thực hiện một loại hình BHYT học sinh trong nhà trường phổ thông, trong đó BHYT Việt Nam là tổ chức duy nhấtđảm nhiệm.

Tháng 08/1999, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã họp các Phó Thủ tướng xem xét vấn đề bảo hiểm học sinh trong trường học, cùng với ý kiến đề xuất của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 12/08/1999, Chính phủ đã có định hướng chỉ đạo tại Thông báo số 3645/VPCP-VX: Đồng ý với đề nghị của Bộ Y tế và Giáo dục và Đào tạo, để đảm bảo quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho học sinh và củng cố y tế trường học, từ năm học 1999 - 2000 trở đi, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Y tế hướng dẫn, tuyên truyền, vận động học sinh trong hệ thống trường phổ thông các cấp tham gia BHYT học sinh do BHYT Việt Nam thực hiện.

Với sự quan tâm đặc biệt, cùng những chỉ đạo mới, quyết liệt của Chính phủ, BHYT học sinh, sinh viên năm học 1999-2000 đã có những bước phát triển mạnh mẽ hơn; trong số 3,6 triệu thẻ BHYT tự nguyện, BHYT học sinh, sinh viên đã chiếm tới 3,5 triệu thẻ, thu 72 tỷ đồng.

 

11. Mười năm thực hiện chính sách BHYT - Dấu ấn một chặng đường phát triển

Từ năm 2000, hoạt động BHYT đi vào ổn định, được đánh dấu thông qua sự kiện BHYT Việt Nam ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các đơn vị trực thuộc và cơ quan đại diện BHYT Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh; hướng dẫn, chỉ đạo đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, khai thác BHYT học sinh và các hội nghị, hội thảo, tập huấn nghiệp vụ được triển khai tích cực.

Ngày 01/03/2000, liên Bộ Giáo dục và Đào tạo - Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BGD&ĐT-BYT hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học. Hướng dẫn liên ngành đánh giá đúng vị trí, vai trò của công tác BHYT học sinh với công tác y tế học đường, qua đó đã thể hiện quan điểm, trách nhiệm phối hợp chỉ đạo quyết liệt hơn. Thông tư nêu rõ định hướng: Giáo dục - Đào tạo phối hợp với cơ quan BHYT cùng cấp tuyên truyền vận động để có nhiều học sinh, sinh viên tham  gia BHYT học sinh; các cơ quan y tế dự phòng, cơ sở khám, chữa bệnh và  BHYT phối hợp chặt chẽ để quản lý chỉ đạo, nâng cao chất lượng phòng bệnh, khám, chữa bệnh cho học sinh, sinh viên. Nguồn kinh phí chủ yếu để tổ chức công tác y tế trường học là từ BHYT học sinh.

Trong các ngày 09/03 và 19/03/2000, tại Hà Nội và Hải Phòng, BHYT Việt Nam tổ chức hội thảo BHYT cho nông dân và lao động tự do. Các đại biểu dự hội thảo đều bày tỏ sự đồng tình ủng hộ chủ trương thực hiện BHYT cho nông dân và lao động tự do, đồng thời kiến nghị Nhà nước, các cấp các ngành cần quan tâm có cơ chế chính sách phù hợp tạo điều kiện thuận lợi phát triển BHYT nông dân để họ được chăm sóc sức khoẻ và hưởng sự công bằng trong khám, chữa bệnh.

Ngày 08/05/2000, BHYT Việt Nam ra Quyết định số 167/QĐ-BHYT ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ của các phòng, chi nhánh thuộc cơ quan BHYT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và BHYT ngành. Cơ cấu, tổ chức bộ máy giúp việc Giám đốc BHYT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và BHYT ngành gồm 04 phòng, riêng BHYT Hà Nội và BHYT TP.Hồ Chí Minh có thêm phòng Tổ chức - Cán bộ. Cơ quan BHYT tỉnh có các chi nhánh BHYT trực thuộc để triển khai những nhiệm vụ cụ thể tạo cơ sở mở rộng phát triển BHYT ở địa phương.

Ngày 05/07/2000, Liên Bộ LĐ-TB&XH, Tài chính đã ban hành Thông tư số 17/2000/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn việc thực hiện một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam theo Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg, ngày 23/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Mức đóng BHYT bằng 3% tiền lương tối thiểu hiện hành và do cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm đóng. Quy trình cấp thẻ thực hiện theo quyết định 144/QĐ-BHYT ngày 24/04/2000 của BHYT Việt Nam. Mã đối tượng là C7 và không thực hiện cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh.

Ngày 09/08/2000 Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định số 2388/QĐ-BYT phê duyệt Quy hoạch tổng thể đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hệ thống BHYT Việt Nam đến năm 2005, đáp ứng yêu cầu phát triển BHYT tiến tới BHYT toàn dân theo định hướng của Đảng và Chính phủ. 17 dự án đầu tư xây dựng trụ sở làm việc BHYT các tỉnh, thành phố, ngành được triển khai thực hiện.

Để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh có thẻ BHYT, ngày 21/08/2000 BHYT Việt Nam có Công văn số 808/NVGĐ đề nghị BHYT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và BHYT ngành căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương lập đề án thí điểm tổ chức khám chữa bệnh BHYT tại các cơ sở y tế tư nhân. Cơ sở y tế tư nhân được chọn thí điểm tổ chức khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT là các phòng khám bệnh đa khoa, bệnh viện tư nhân được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập. Các cơ sở y tế tư nhân thực hiện thí điểm khám chữa bệnh BHYT phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành về khám chữa bệnh, quản lý quỹ khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo quy định tại Thông tư số 17/1998/TT-BYT ngày 19/12/1998.

Ngày 30/08/2000, tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện công tác BHYT học sinh. Hội nghị đánh giá những kết quả đạt được về công tác BHYT học sinh trong những năm qua, biểu dương thành tích, động viên khen thưởng các tập thể, cá nhân trong và ngoài ngành thực hiện tốt công tác BHYT học sinh, tạo thuận lợi cho việc phát triển BHYT học sinh năm học mới 2000 - 2001 và những năm tiếp theo.

Hưởng ứng cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” chính thức đầu tiên của Việt Nam (17/10 hàng năm), ngày 17/10/2000, Bộ Y tế đã tổ chức Hội thảo BHYT cho người nghèo. Đánh giá lại 02 năm thực hiện BHYT cho người nghèo theo Thông tư liên tịch số 05, hội thảo đã khẳng định chăm sóc sức khỏe người nghèo thông qua chế độ BHYT là một giải pháp (trong số 10 giải pháp, chính sách của Nhà nước đối với người nghèo) đúng đắn, mang lại hiệu quả thiết thực. Tính đến tháng 10/2000, có gần 850.000 người diện đói nghèo ở 39 tỉnh, thành phố đã được cấp thẻ BHYT. Người nghèo có BHYT không còn bị mặc cảm khi ốm đau phải đi khám, chữa bệnh và thực sự được hưởng quyền lợi từ Quỹ BHYT, bình đẳng với các đối tượng BHYT bắt buộc khác.

Để giúp BHYT Việt Nam có công cụ, chủ động thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, ngày 26/02/2001, Bộ Văn hóa Thông tin cấp giấy phép hoạt động báo chí số 61/GP-BVHTT cho Tạp chí BHYT, cơ quan ngôn luận của BHYT Việt Nam, diễn đàn của xã hội vì sự nghiệp BHYT toàn dân, kỳ hạn xuất bản 01 kỳ/tháng. Ngày 20/03/2001, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra Quyết định số 845/QĐ - BYT thành lập Tạp chí BHYT Việt Nam trực thuộc BHYT Việt Nam; Tạp chí BHYT Việt Nam có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng, trụ sở đặt tại 150 Phố Vọng, Hà Nội.

Ngày 19/03/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 - 2010. Việc phát triển BHYT là một trong các giải pháp quan trọng được Quyết định nêu rõ: “Mở rộng BHYT tự nguyện, củng cố Quỹ BHYT bắt buộc tiến tới BHYT bắt buộc toàn dân”.

Từ ngày 19 đến 22/04/2001, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành trọng thể tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Về chiến lược phát triển y tế và BHYT, Văn kiện Đại hội IX chỉ rõ: “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe, tiến tới BHYT toàn dân”.

Ngày 08/05/2001 tại TP.Hồ Chí Minh và ngày 10/05/2001 tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Chiến lược Chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 - 2010. Chương trình hành động của Ngành Y tế thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX và Quyết định số 35 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 nêu rõ: “Nguồn thu từ BHYT đóng vai trò ngày càng lớn trong ngân sách y tế và dần dần thay thế nguồn thu từ viện phí. Cần chú ý tới việc phát triển chương trình BHYT nông dân dựa vào cộng đồng; Tiếp tục mở rộng các hình thức BHYT tự nguyện khác và đảm bảo việc cung cấp tài chính từ ngân sách Nhà nước để người nghèo được khám, chữa bệnh. Trình Chính phủ đề án thực hiện BHYT bắt buộc đối với toàn dân. Nhà nước hỗ trợ mua BHYT cho người không có khả năng mua BHYT. Năm 2001-2002, hoàn thành đề án thực hiện BHYT bắt buộc với một số nhóm đối tượng mới và thực hiện thí điểm. Phấn đấu đến năm 2005, thực hiện BHYT cho 30% dân số, đến năm 2010 thực hiện BHYT cho 60% dân số”.

Nhân dịp kỷ niệm 10 năm thực hiện chính sách BHYT (15/08/1992 - 15/08/2002), BHYT Việt Nam phối hợp với Cục Văn hóa Thông tin cơ sở (Bộ VHTT) tổ chức cuộc thi sáng tác mẫu biểu trưng BHYT Việt Nam. Tại phiên họp Hội đồng Quản lý BHYT Việt Nam ngày 26/12/2001, tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Công Quang (Hà Nội) đã được chọn làm biểu trưng của BHYT Việt Nam. Ngày 18/01/2001, BHYT Việt Nam đã ban hành Quyết định số 245/QĐ - BHYT công bố Biểu trưng chính thức của BHYT Việt Nam. Ngày 25/01/2002, Cục Bản quyền Tác giả - Bộ VHTT đã cấp Giấy chứng nhận Bản quyền sở hữu Biểu trưng cho BHYT Việt Nam. Biểu trưng BHYT Việt Nam hình tròn, nền màu xanh cơ bản, phần chính biểu trưng hình trái tim, 02 nét vút cong phía dưới là những bàn tay cách điệu nâng đỡ hình tượng chữ thập đỏ tượng trưng cho hoạt động nhân đạo cứu người, thể hiện nét đặc trưng cao đẹp của hoạt động BHYT là sự yêu thương, đùm bọc, cưu mang, giúp đỡ nhau khi ốm đau, hoạn nạn: “Người khỏe giúp người ốm”, “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Phía trên của trái tim là hình tượng cánh chim bay, thể hiện mục tiêu cao quý của hoạt động BHYT: Bảo vệ sức khỏe - vốn quý nhất của con người, mang lại hạnh phúc, chắp cánh cho những ước mơ vươn tới tương lai cao rộng. Dòng chữ BHYT Việt Nam hình vòng cung chạy bao quanh phía trên hình tượng nghệ thuật trung tâm của biểu trưng là chiếc cầu nối giữa người được BHYT với cơ sở khám, chữa bệnh, là vành đai pháp lý bảo vệ quyền lợi cho người tham gia BHYT, thực hiện công bằng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ máy của Chính phủ trong tình hình mới, ngày 24/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Ngày 08/02/2002, liên bộ Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 09 hướng dẫn việc chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Ngày 29/04/2002, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 1586/QĐ-BYT bàn giao BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Để đảm bảo mọi hoạt động BHYT thực hiện bình thường theo kế hoạch năm 2002, ngày 03/05/2002, Tổng Giám đốc BHXH Việt có Công văn số 1051/BHXH-TCCB ủy quyền cho Tổng Giám đốc BHYT Việt Nam trực tiếp quản lý, điều hành BHYT địa phương, BHYT ngành. 

Ngày 18/06/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2002/NĐ-CP quy định về khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT cho thân nhân sĩ quan tại ngũ (gồm những sĩ quan thuộc lực lượng thường trực đang công tác trong quân đội hoặc đang được biệt phái). Mức đóng BHYT hàng năm cho một người thuộc đối tượng thân nhân của sĩ quan tại ngũ là 3% mức lương tối thiểu theo quy định của Chính phủ.

Sáng ngày 15/08/2002, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, BHYT Việt Nam long trọng tổ chức Lễ Kỷ niệm 10 năm thực hiện chính sách BHYT và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì. Đến dự Lễ kỷ niệm có Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa; các đồng chí lãnh đạo Bộ Y tế, Bộ Tài chính và các Bộ, ban, ngành, Đoàn thể Trung ương, các tổ chức quốc tế có hợp tác với BHYT Việt Nam, lãnh đạo các Sở Y tế, BHYT và đại diện cho người lao động trong Ngành BHYT trong toàn quốc, hàng trăm phóng viên, nhà báo của các cơ quan thông tin báo chí Trung ương, Hà Nội đã đến dự. Diễn văn kỷ niệm do Tổng Giám đốc BHYT Việt Nam Trần Văn Tiến trình bày nêu bật thành tựu 10 năm thực hiện chính sách BHYT ở nước ta, số dân có BHYT đã đạt 12,7 triệu người, bằng 16% số dân cả nước, trong đó có trên 4,3 triệu người tham gia các chương trình BHYT tự nguyện học sinh, sinh viên, nông dân, cựu chiến binh, hội phụ nữ, người ăn theo của cán bộ, viên chức… Nguồn thu BHYT gần bằng 1/3 ngân sách nhà nước dành cho y tế. Nhờ nguồn tài chính BHYT nhiều cơ sở khám, chữa bệnh, nhất là các tỉnh, huyện nghèo đã hoạt động khởi sắc, sống động trở lại, góp phần ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xuống cấp của các cơ sở y tế. Quỹ BHYT đã đảm bảo cho hàng triệu người có thu nhập thấp, người có công với nước, người nghèo, người mắc các bệnh hiểm nghèo có đủ tiền chữa bệnh với chi phí lớn có điều kiện chữa bệnh, vượt qua bệnh tật, ốm đau… Tại buổi lễ, đồng chí Trương Mỹ Hoa, Phó Chủ tịch nước, thay mặt Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho BHYT Việt Nam. Buổi Lễ Kỷ niệm và đón nhận Huân chương được tổ chức thành công, đã đánh dấu mốc son về quá trình 10 năm xây dựng và phát triển chính sách BHYT ở Việt Nam./.

 

 

 

 

 

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BHXH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, CHUYÊN NGHIỆP,

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP

QUỐC TẾ

 

1. Hợp nhất tổ chức BHXH, BHYT

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII), Nghị quyết Đại hội VIII, các Nghị quyết Trung ương 03, Trung ương 06 (lần 02) và Trung ương 07 (khóa VIII), sau 10 năm thực hiện công cuộc cải cách hành chính (1991-2000), đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực cải cách bộ máy hành chính, chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính, từ Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương đến UBND các cấp đã có nhiều thay đổi tiến bộ. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp được sắp xếp, điều chỉnh tinh giản hơn trước; bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở vận hành phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn.

 Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, công tác cải cách hành chính vẫn còn có những tồn tại: Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ và phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa các ngành, các cấp chưa thật rành mạch; hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất; tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công…

 Xuất phát từ thực tiễn này đã đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách nền hành chính Nhà nước, ngày 17/09/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Một trong những mục tiêu của Chương trình là thiết lập cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện. Bộ máy của các bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ cần được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thức hoạt động của các bộ phậm tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công…

Để triển khai thực hiện, Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo cải cách Chính phủ do đồng chí Nguyễn Khánh, Phó Thủ tướng làm Trưởng Ban; đồng chí Đỗ Quang Trung, Bộ trưởng Bộ Nội vụ làm Phó Trưởng Ban. Trên cơ sở Chương trình Tổng thể, các bộ, ban, ngành xem xét lại chức năng, nhiệm vụ của mình, báo cáo Ban Chỉ đạo vào cuối năm 2001. Trong lịch báo cáo của các bộ, ngành, Ban Chỉ đạo bố trí để Bộ Y tế và BHXH Việt Nam báo cáo vào 02 buổi sáng và chiều của cùng 01 ngày. Riêng phần báo cáo về bộ máy tổ chức BHYT do Bộ Y tế chuẩn bị có mời thêm Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Huy Ban cùng dự.

Là người gắn bó với BHYT từ những ngày đầu triển khai thí điểm, hơn ai hết, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh hiểu rất rõ chặng đường phát triển của chính sách BHYT. Sau gần 10 năm hoạt động, BHYT Việt Nam đã từng bước thống nhất hệ thống cơ quan BHYT từ Trung ương đến địa phương và BHYT ngành để quản lý và thực hiện chính sách BHYT trong phạm vi cả nước. Phó Thủ tướng phân tích, việc tách tổ chức BHYT độc lập với cơ quan quản lý nhà nước về BHYT (Bộ Y tế) là phù hợp với tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, tách chức năng quản lý nhà nước của các bộ với chức năng của các đơn vị sự nghiệp, nhằm giảm bớt sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc để đảm bảo tính khách quan và phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, tài chính, nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp. Đó cũng là cách làm cho khu vực dịch vụ công năng động hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân. BHXH, BHYT thực chất là hai mảng chính sách của hệ thống an sinh xã hội. BHYT và BHXH Việt Nam có 08 điểm tương đồng về phạm vi hoạt động, quy tắc quản lý quỹ, nguyên tắc hoạt động, nghiệp vụ chuyên môn, kinh phí hoạt động, hệ thống tổ chức, tính chất nghiệp vụ và yêu cầu về đội ngũ cán bộ, công chức. Do đó, việc nhập tổ chức BHYT vào BHXH Việt Nam giúp tập trung được đầu mối thu, chi BHXH và BHYT; đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong việc đóng và thực hiện các quyền lợi về BHXH, BHYT. Ngoài ra, các quỹ được quản lý tập trung, thống nhất, giúp cho việc điều tiết linh hoạt, kịp thời giữa Quỹ BHXH với Quỹ BHYT trong trường hợp Quỹ BHYT bị thiếu hụt mà ngân sách nhà nước chưa có khả năng hỗ trợ kịp thời. Mặt khác, Quỹ BHYT là quỹ ngắn hạn, lợi nhuận đầu tư từ Quỹ BHYT hầu như không có hoặc không đáng kể, do đó, chi phí quản lý của tổ chức BHYT nếu lấy từ lợi nhuận tăng trưởng quỹ sẽ không đủ đảm bảo hoạt động. Như vậy, việc sáp nhập BHYT và BHXH Việt Nam là phù hợp với yêu cầu cải cách, giúp cho sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và công tác quản lý nhà nước của các bộ, ngành chức năng về BHXH, BHYT được tập trung, thống nhất vào một đầu mối.

Ngay sau phiên họp, ngày 24/01/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg về việc chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Ngày 08/02/2002, Liên Bộ Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ, Bộ LĐTBXH, Bộ Tài chính và Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 09/2002/TTLT-BTCCBCP-BLĐTB&XH-BTC-BYT hướng dẫn việc chuyển BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam. Theo đó, việc chuyển giao yêu cầu phải đảm bảo 05 nguyên tắc: (1) Chuyển giao nguyên trạng BHYT sang BHXH Việt Nam. Trong thời gian chuyển giao không thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, nhân sự, tài sản, tài chính; đảm bảo chính sách, chế độ theo quy định của Nhà nước đối với cán bộ quản lý, công chức, viên chức; (2) thực hiện đầy đủ, liên tục, kịp thời các chế độ, chính sách của nhà nước về khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe đối với những người đang tham gia BHYT; quản lý và sử dụng Quỹ BHYT theo đúng quy định hiện hành; (3) Tiếp tục thực hiện hợp đồng khám, chữa bệnh cho bệnh nhân tham gia BHYT giữa cơ quan BHYT và các cơ sở khám, chữa bệnh; (4) Tổng kết thực hiện chế độ BHYT để trình Chính phủ bổ sung, sửa đổi chính sách và mở rộng đối tượng tham gia BHYT, tiến tới BHYT toàn dân; (5) Ổn định tư tưởng, đoàn kết trong cán bộ, công chức, viên chức để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thời gian để hoàn thành việc chuyển giao là trong Quý I/2002.

Nghiêm túc thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ngày 28/01/2002, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam có Công văn số 239/BHXH-TCCB, quán triệt đến thủ trưởng các đơn vị trực thuộc và Giám đốc BHXH các tỉnh, thành phố cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong toàn Ngành về chủ trương của Đảng và Chính phủ. Công văn của Tổng Giám đốc nêu rõ “Cán bộ, công chức, viên chức BHYT Việt Nam và BHXH Việt Nam là một. Vì sự ổn định và phát triển của sự nghiệp BHXH, mỗi cán bộ, công chức, viên chức cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, tình đoàn kết đồng chí, đồng nghiệp, tương thân, tương ái, chung sức, chung lòng để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tất cả cán bộ, công chức yên tâm, hăng hái thực hiện nhiệm vụ và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới nếu được phân công”. Để phục vụ việc sắp xếp bộ máy tổ chức sau khi chuyển giao, Tổng Giám đốc yêu cầu các đơn vị giữ nguyên hiện trạng tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện có mặt tại đơn vị tính đến thời điểm ngày 25/01/2002. Tạm thời không tiếp nhận thêm lao động, kể cả hợp đồng tạm tuyển trong trường hợp đơn vị còn chỉ tiêu biên chế đã giao năm 2001. Đặt mối quan hệ đồng nghiệp và tranh thủ tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ, tổ chức cán bộ của BHYT để thuận lợi cho công việc sau khi sáp nhập.

Tuy nhiên, ở thời điểm chuyển giao, cả nước có 4,2 triệu lao động tham gia BHXH trong tổng số 45 triệu lao động và 12,7 triệu người tham gia BHYT trên tổng số 80 triệu dân, vì vậy việc chuyển giao cần được tiến hành hết sức thận trọng và có sự chuẩn bị hết sức kỹ càng. Bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo quyền lợi cho người tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT. Ngày 08/04/2002, BHXH Việt Nam đã có Công văn số 806/BHXH-VP báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình chuyển giao BHYT vào BHXH. Ngày 22/04/2002, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 2064/VPCP-VX đề nghị Ban Tổ chức-Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ LĐTBXH và Bộ Y tế xem xét, giải quyết, khẩn trương hoàn thành việc chuyển giao BHYT Việt Nam sang BHXH Việt Nam theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 06/12/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, bãi bỏ các quy định trước đây về tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam và BHYT Việt Nam. Theo đó, BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý Quỹ BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật. Hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam gồm 03 cấp: ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện. Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam ở Trung ương được tăng từ 08 đơn vị trực thuộc lên 17 đơn vị, bao gồm: Ban Chế độ, chính sách BHXH; Ban Kế hoạch - Tài chính; Ban Thu BHXH; Ban Chi BHXH; Ban BHXH tự nguyện; Ban Giám định y tế; Ban Tuyên truyền BHXH; Ban Hợp tác Quốc tế; Ban Tổ chức cán bộ; Ban Kiểm tra; Văn phòng; Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH; Trung tâm Công nghệ thông tin; Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ BHXH; Trung tâm Lưu trữ; Báo BHXH và Tạp chí BHXH. Theo đó, tháng 07/2003, Báo BHXH được thành lập trên cơ sở tách ra từ Tạp chí BHXH. Tuy nhiên, do điều kiện về tổ chức, nhân sự, thời gian này BHXH Việt Nam chưa thành lập được Ban Hợp tác Quốc tế mà mới chỉ thành lập Phòng Hợp tác Quốc tế giúp việc trực tiếp Tổng Giám đốc về công tác hợp tác quốc tế trên lĩnh vực BHXH, BHYT (đến tháng 06/2006, nâng cấp lên thành Ban Hợp tác Quốc tế).

Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam gồm đại diện lãnh đạo của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Thành viên Hội đồng Quản lý đại diện cho bộ, ngành mình tham gia vào công tác của Hội đồng Quản lý, thảo luận, biểu quyết về các công việc của Hội đồng Quản lý. Để kiện toàn Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam theo Nghị định số 100/2002/NĐ-CP, tháng 07/2003, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định bổ nhiệm đồng chí Trần Chí Liêm, Thứ trưởng Bộ Y tế, kiêm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam. Như vậy, sau khi sáp nhập BHYT vào BHXH Việt Nam, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam gồm: đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, kiêm giữ chức Chủ tịch; đồng chí Nguyễn Bường, Phó Chủ tịch Thường trực và 04 Ủy viên: đồng chí Lê Duy Đồng, Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội; đồng chí Đặng Ngọc Chiến, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; đồng chí Trần Chí Liêm, Thứ trưởng Bộ Y tế và đồng chí Nguyễn Huy Ban, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam.  

Đến hết năm 2003, BHXH Việt Nam đã tổ chức thực hiện tốt việc hòa nhập 02 hệ thống BHXH và BHYT, bảo đảm hoạt động của các đơn vị trực thuộc được liên tục, không bị ách tắc, quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng chế độ BHXH, BHYT.

Về chức năng, nhiệm vụ: ở cấp Trung ương, đã hòa nhập tất cả các đơn vị có chức trách, nhiệm vụ tương đồng như Ban Tổ chức-Cán bộ, Văn phòng, Ban Chế độ-Chính sách, Kế hoạch-Tài chính, Thu, Chi, Tuyên truyền, Tạp chí và các Trung tâm đào tạo, Nghiên cứu khoa học, Công nghệ thông tin… Ở BHXH các địa phương cũng đã tổ chức lại các phòng có chức năng, nhiệm vụ tương đồng. 2.949 cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng của hệ thống BHYT Việt Nam chuyển sang BHXH Việt Nam đã được sắp xếp công việc phù hợp, ổn định, đặc biệt là hơn 700 cán bộ lãnh đạo, quản lý từ Trung ương xuống các địa phương đều được bố trí vào các vị trí lãnh đạo, quản lý thích hợp, tạo thành một khối thống nhất. Cán bộ yên tâm công tác, tin tưởng vào sự ổn định và phát triển của Ngành, đoàn kết, hợp tác, sớm hòa nhập để cùng gánh vác nhiệm vụ chung.

Nếu như năm 2003 đánh dấu một bước phát triển mới của BHXH Việt Nam về mở rộng bộ máy tổ chức, tăng thêm thẩm quyền và chức năng, nhiệm vụ, thì năm 2004 tiếp tục có sự phát triển nâng cao vị thế. Thực hiện Nghị định số 100/2002/NĐ-CP, BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ, đòi hỏi phải thay mẫu con dấu pháp nhân mới, ngày 31/05/2004, Văn phòng Chính phủ có Công văn số 2690/VPCP thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép BHXH Việt Nam sử dụng con dấu mới. Ngày 06/06/2004, Cục Quản lý Hành chính về trật tự xã hội, Tổng Cục Cảnh sát, Bộ Công an đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu số 664/ĐKMD. Từ đây, BHXH Việt Nam chính thức sử dụng mẫu dấu pháp nhân mới có in hình Quốc huy (trước đây ghi Quốc hiệu và tên cơ quan), vị thế của BHXH Việt Nam cũng được nâng lên một tầm cao mới.

Trong công tác nhân sự cũng có những thay đổi: Tháng 06/2004, đồng chí Đỗ Văn Sinh, Trưởng Ban kế hoạch - Tài chính, BHXH Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam theo Quyết định số 494/QĐ-TTg ngày 19/05/2004. Cùng ngày này, Thủ tướng có Quyết định số 495/QĐ-TTg bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Khương, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính-Kế hoạch, Bộ Y tế, giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Cũng trong tháng 06/2004, đồng chí Phạm Thành, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam nhận Quyết định nghỉ hưu theo chế độ. Như vậy, đến năm 2004, Ban lãnh đạo BHXH Việt Nam tăng từ 03 lên 04 người, trong đó có 01 Tổng Giám đốc và 03 Phó Tổng Giám đốc.

Thực hiện chủ trương chia tách địa giới hành chính của một số tỉnh có địa bàn rộng, năm 2004, 03 tỉnh Lai Châu, Đắk Lắk và Cần Thơ thực hiện tách thành 05 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Đắk Lắk, Đắk Nông, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Theo đó, BHXH Việt Nam cũng tiến hành sắp xếp lại cán bộ và tổ chức lại cơ quan BHXH cấp tỉnh của 06 tỉnh, thành phố này, nâng tổng số cơ quan BHXH cấp tỉnh, thành phố của cả nước lên con số 64 đơn vị.

Ngoài ra, căn cứ vào thực tiễn công tác đầu tư xây dựng cơ bản của toàn Ngành, từ tháng 09/2004, BHXH Việt Nam thành lập Ban Quản lý Dự án đầu tư và xây dựng.

Đến hết năm 2004, toàn Ngành có gần 12.000 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có 0,5% có trình độ trên đại học; 70% có trình độ đại học và cao đẳng; 19% có trình độ trung cấp, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Chính sách BHXH, BHYT trong giai đoạn thực hiện sáp nhập tổ chức BHXH và BHYT cũng có một số thay đổi theo hướng hoàn thiện hơn, từng bước khắc phục những tồn tại, bất cập, thể hiện đúng tinh thần đổi mới, phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách, đáp ứng nhu cầu của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế và hội nhập quốc tế.

Về chính sách BHXH, ngày 02/04/2002, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2003, trong đó các nội dung về BHXH tiếp tục được quy định, củng cố và hoàn thiện. Ngày 25/11/2004, tại Nghị quyết số 35/2004/QH11 của Quốc hội khóa XI về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2005 có nội dung về  xây dựng Luật BHXH. Thực hiện Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, ngày 09/01/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 và ban hành Nghị định số 89/2003/NĐ-CP ngày 05/8/2003 sửa đổi một số điều của Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 của Chính phủ.

Về chính sách BHYT, nhằm từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHYT và đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT, BHXH Việt Nam đã chủ động phối hợp với các bộ, ban, ngành, đoàn thể kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan hữu quan ban hành nhiều văn bản bổ sung các đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ tham gia BHYT. Ngoài ra, Thông tư liên tịch số 77/2003/TTLT-BTC-BYT ngày 07/08/2003 của Liên Bộ Tài chính, Y tế hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện được tổ chức theo địa giới hành chính (áp dụng cho hộ gia đình, tổ chức triển khai theo cấp xã, phường, thị trấn) và theo nhóm đối tượng (học sinh, sinh viên đang theo học tại các cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; thành viên, hội viên của các đoàn thể, hội quần chúng, tổ chức nghiệp đoàn...) đã góp phần tăng nhanh diện bao phủ BHYT. Đặc biệt, sau 07 năm tổ chức thực hiện BHYT theo Nghị định 58/1998/NĐ-CP đã bộc lộ những tồn tại, bất cập. Mặt khác, đối tượng tham gia BHYT được hướng dẫn ở nhiều văn bản bổ sung tản mát gây khó khăn cho quá trình thực hiện, đòi hỏi phải có một văn bản mới về BHYT trong khi chưa ban hành được Luật BHYT. Ngày 16/05/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CP về Điều lệ BHYT, thay thế tất cả các quy định trước đây về BHYT. Theo quy định tại Nghị định số 63, đối tượng tham gia và quyền lợi hưởng BHYT được mở rộng nhằm hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân. Theo đó, các đối tượng chính sách xã hội, người có công, người nghèo,... chuyển từ hình thức khám, chữa bệnh thực thanh, thực chi sang hình thức khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT và được Nhà nước hỗ trợ toàn bộ chi phí mua thẻ BHYT.

Chỉ sau 04 năm thực hiện việc sáp nhập BHYT và BHXH trong một mô hình thống nhất, bộ máy tổ chức Ngành BHXH Việt Nam đã nhanh chóng ổn định, hoạt động hiệu quả và từng bước khẳng định chủ trương của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn cả trên phương diện cơ sở lý luận cũng như thực tiễn. Kết quả thực hiện chính sách, pháp luật BHXH trong giai đoạn sau sáp nhập (2003-2006) đạt được một số kết quả nổi bật sau:  

- Đối tượng tham gia BHXH được mở rộng đến người lao động thuộc các thành phần kinh tế; diện bao phủ BHYT không ngừng tăng. Nếu như ở thời điểm năm 1995 mới có trên 2,2 triệu người lao động tham gia BHXH thì đến tháng 12/2006 đã lên tới trên 6,7 triệu người, gấp 3,04 lần; đối tượng tham gia BHYT tăng từ 12,7 triệu người năm 2002 (thời điểm trước khi sáp nhập) lên 37 triệu người vào năm 2006, tăng gần 03 lần. Tương ứng với đó là số thu BHXH, BHYT cũng tăng nhanh qua từng năm. Nếu như ở năm 1996, số thu BHXH đạt 2.562 tỷ đồng, thì đến năm 2006, số thu BHXH đạt trên 17.576 tỷ đồng, tăng gấp 6,86 lần; số thu BHYT năm 2002 là 1.300 tỷ đồng thì đến năm 2006 đạt trên 5.000 tỷ đồng, tăng gấp 04 lần so với thời điểm trước khi sáp nhập. 

- Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động (15% tổng quỹ lương) và người lao động (5% tiền lương, tiền công tháng); quỹ đã hoạt động theo nguyên tắc hạch toán, cân đối thu chi, độc lập với ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Quỹ BHYT ngày càng tăng trưởng, đã góp phần quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trung bình hằng năm có hàng trăm ngàn lượt người được giải quyết các chế độ BHXH, hàng triệu người được Quỹ BHYT chi trả chi phí khám, chữa bệnh. Chỉ tính riêng năm 2006, toàn Ngành đã giải quyết kịp thời, đúng chế độ chính sách cho 131.100 người hưởng BHXH thường xuyên, tăng 6,4% so với năm 2005, gấp 4,4 lần so với năm 1996; giải quyết 320.000 người hưởng trợ cấp một lần, tăng 10,3% so với năm 2005, gấp 7,17 lần so với năm 1996. Ngoài việc đảm bảo giải quyết kịp thời, đúng chế độ, chính sách cho các trường hợp đủ điều kiện hưởng BHXH, từ năm 2005, toàn Ngành đã tập trung thực hiện có hiệu quả các đợt điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH hàng năm cho khoảng 02 triệu người, đặc biệt là đợt điều chỉnh trong Quý IV năm 2006, là đợt điều chỉnh lớn nhất và cũng phức tạp nhất do có nhiều mức điều chỉnh khác nhau đối với người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH ở các thời điểm khác nhau. Các chế độ BHXH, BHYT đã góp phần ổn định đời sống của người lao động và nhân dân; quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động, giải quyết hợp lý hơn mối quan hệ giữa đóng và hưởng, khắc phục một bước tính bình quân nhưng vẫn đảm bảo tính xã hội thông qua việc điều tiết, chia sẻ rủi ro.

- Công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH và quản lý đối tượng tiếp tục được BHXH các tỉnh, thành phố thực hiện tốt. Trong năm, các địa phương đã chi trả kịp thời và an toàn các chế độ BHXH với số tiền 26.392 tỷ đồng, tăng 41,2% so với năm 2005 (chi từ ngân sách nhà nước: 15.401 tỷ đồng; từ Quỹ BHXH 10.991 tỷ đồng), gấp hơn 06 lần so với năm 1996.

Nhằm tạo thuận lợi cho đối lượng trong việc nhận lương hưu, đồng thời hạn chế lượng tiền mặt lưu thông trong quá trình chi trả, bên cạnh việc nâng cao chất lượng công tác chi trả thông qua việc mở rộng các điểm chi trả trực tiếp, BHXH Việt Nam đã chỉ đạo cho các địa phương có đông đối tượng sống tập trung ở thành phố, thị xã có điều kiện thuận lợi phối hợp với các ngân hàng thương mại áp dụng phương thức chi trả lương hưu thông qua tài khoản thẻ ATM. Đến hết năm 2006, phương thức chi trả này đã được triển khai tại TP.Hải Phòng với trên 4.500 người tham gia; TP.Hồ Chí Minh trên 3.100 người và Nghệ An trên 2.000 người. Một số địa phương khác đang tích cực triển khai là Lạng Sơn, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Lâm Đồng, An Giang, Đắc Lắc và Bình Dương.

- Để chủ động và tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT khi đi khám, chữa bệnh, BHXH Việt Nam đã chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố chủ động phối hợp với 1.819 cơ sở y tế trong toàn quốc để ký hợp đồng khám, chữa bệnh. Chỉ riêng trong năm 2006, toàn ngành đã đảm bảo quyền lợi khám, chữa bệnh cho 65,1 triệu lượt người, tăng 75,4% so với năm 2005 (gấp 4,06 lần so với năm 2002 là thời điểm trước khi sáp nhập BHYT vào BHXH), với số tiền chi từ quỹ khám, chữa bệnh là 5.717 tỷ đồng (gấp 5,9 lần so với năm 2002). 

Ngoài các kết quả chủ yếu trên, các công khác khác, đặc biệt là hoạt động cải cách hành chính của toàn Ngành tiếp tục có những chuyển biến tích cực, nhất là việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và ứng dụng cơ chế “một cửa’’ vào hoạt động nghiệp vụ. Công tác cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cũng có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là công tác cấp thẻ BHYT. Do thống nhất đầu mối quản lý đối tượng nên thay vì cấp thẻ BHYT có thời hạn sử dụng 01 năm như trước đây, BHXH Việt Nam đã cải tiến, đổi mới, kéo dài giá trị sử dụng thẻ lên 05 năm đối với đối tượng hưu trí, mất sức lao động và 03 năm đối với cán bộ, công chức, viên chức. Nhiều hoạt động nghiệp vụ thu, chi BHXH, BHYT đã có ứng dụng công nghệ thông tin một cách mạnh mẽ, bảo đảm hoạt động phục vụ đối tượng nhanh, chính xác, công khai, minh bạch, được các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân hưởng ứng, đồng tình. Sau khi có kết quả nghiên cứu của Ban đổi mới các quy định quản lý nghiệp vụ của Ngành, Tổng Giám đốc đã phê duyệt cho BHXH tỉnh Hà Tĩnh áp dụng thí điểm mô hình tiếp nhận hồ sơ theo cơ chế “một cửa”, để từ đó rút kinh nghiệm, bổ sung, hoàn thiện, nhân rộng ra toàn Ngành nếu mô hình mới này đáp ứng được thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ ngày càng tăng trong giai đoạn mới.

Năm 2006, nhân sự Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam tiếp tục có sự thay đổi. Để nâng cao vị thế của BHXH Việt Nam với vai trò là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách và quản lý Quỹ BHXH, BHYT, tháng 03/2006, theo đề nghị của Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Huy Ban, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, kiêm giữ chức Phó Chủ tịch HĐQL thay đồng chí Nguyễn Bường nghỉ hưu theo chế độ. Tháng 08/2006, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký Quyết định bổ nhiệm đồng chí Vũ Văn Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, kiêm giữ chức Chủ tịch HĐQL, thay đồng chí Nguyễn Sinh Hùng đảm nhận chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ. Tháng 11/2006, Thủ tướng Chính phủ Quyết định bổ sung 02 thành viên thuộc Hội Nông dân Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vào HĐQL. Theo đó, các đồng chí Lê Hoàng Minh, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam và Phùng Quang Huy, Giám đốc Văn phòng giới sử dụng lao động, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, kiêm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam.

Với những nỗ lực cố gắng và thành tích toàn Ngành đạt được, nhân kỷ niệm 10 năm Ngày thành lập BHXH Việt Nam (1995-2005), Chủ tịch nước đã tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho tập thể cán bộ, công chức, viên chức BHXH Việt Nam; tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho 04 đơn vị: Tập thể cán bộ, công chức, viên chức BHXH TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai; Huân chương Lao động hạng Ba cho 8 đơn vị: Tập thể CBCCVC BHXH TP.Đà Nẵng, Bình Dương, Điện Biên, Hà Tây, Ninh Thuận, Đồng Tháp, Yên Bái, Tây Ninh; Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho 16 đơn vị: Tập thể cán bộ, công chức, viên chức BHXH tỉnh Hải Dương, Thái Bình, Quảng Bình, Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Thái Nguyên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Tĩnh, Trà Vinh, An Giang, Bắc Ninh, Nghệ An, Phú Thọ, Bình Định, Hà Giang, Thanh Hóa. Đặc biệt, trong thời gian này, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho tập thể cán bộ, công chức, viên chức BHXH TP. Hồ Chí Minh. Năm 2006, BHXH TP. Hồ Chí Minh chính thức được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Đánh giá về chặng đường phát triển 10 năm của BHXH Việt Nam và 03 năm sáp nhập BHYT vào hệ thống BHXH, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải ghi nhận: “Trải qua 10 năm xây dựng và phát triển, BHXH Việt Nam đã đạt được những kết quả rất quan trọng, khẳng định chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới chính sách BHXH và BHYT là hoàn toàn đúng đắn. Chúng ta đã từng bước mở rộng BHXH đến mọi người lao động trong các thành phần kinh tế và BHYT tới toàn dân. Việc đổi mới chính sách BHXH, BHYT dựa trên nguyên tắc có đóng - có hưởng, đánh dấu sự chuyển đổi hoạt động BHXH, BHYT của nước ta từ cơ chế bao cấp sang tự hạch toán thu, chi và có sự bảo trợ của Nhà nước, phù hợp với quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quỹ BHXH, BHYT từ chỗ chỉ tồn tại trên danh nghĩa, nay đã có đủ để chi trả các chế độ cho người tham gia, đồng thời nguồn Quỹ tồn tích, tăng trưởng còn góp phần tạo nguồn lực tham gia đầu tư, phát triển kinh tế xã hội”. Đối với các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức Ngành BHXH, Thủ tướng dặn dò: “Ngành ta được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện chính sách xã hội phục vụ và chăm lo cho những đối tượng có nhiều cống hiến cho đất nước trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng Tổ quốc; những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, ốm đau, tai nạn, già yếu… Do đó, yêu cầu các đồng chí phải thường xuyên trau dồi đạo đức, có lòng nhân ái, vị tha, có quan điểm phục vụ đối tượng thật chu đáo. Mọi hoạt động của Ngành BHXH đều liên quan đến tài chính, từ việc thu BHXH, việc chi, việc quản lý Quỹ… nên các đồng chí phải tuân thủ nghiêm túc mọi quy định, nguyên tắc về quản lý tài chính, phải có nhân cách liêm khiết, trong sáng khi thực hiện nhiệm vụ được giao”.

Việc tổ chức hệ thống BHXH độc lập, thống nhất, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện 02 chính sách BHXH, BHYT của Việt Nam đã được các tổ chức BHXH của các nước trong khu vực ASEAN và nhiều nước khác như Trung Quốc, Đức, Pháp, Mỹ… đánh giá cao. Bà Pascale Brudon, Nguyên Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam nhận định: “Sau hơn 4 năm làm việc tại Việt Nam, tôi đã chứng kiến những thay đổi rất đáng mừng trong việc thực hiện các chính sách BHXH, BHYT của Chính phủ Việt Nam. Trước tiên, phải ghi nhận sự lớn mạnh của ngành BHXH trong những năm qua cả về chất và lượng. Riêng trong lĩnh vực BHYT, mô hình BHYT bắt buộc nay đã bao phủ phần lớn những người làm công ăn lương; BHYT tự nguyện bao phủ một tỷ lệ lớn học sinh, sinh viên và có triển vọng mở rộng nhanh trong khối lao động nông nghiệp với sự ra đời và thực hiện của Thông tư Liên Bộ số 77. Bên cạnh đó, Quyết định số 139 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã và đang tạo điều kiện bao phủ BHYT cho tất cả người nghèo. Tôi cũng được nghe nhiều thông tin về việc Chính phủ Việt Nam đang khẩn trương xây dựng Dự thảo Luật BHXH, trong đó có BHYT, và đây chắc chắn sẽ là một trong những chương quan trọng của Bộ luật này. Đây là một tin tốt và quan trọng, vì Bộ luật mới này sẽ làm tăng cơ sở pháp lý cho việc tuân thủ và thực hiện các nghĩa vụ và quyền lợi trong tham gia BHYT, đặc biệt là đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh; thúc đẩy mạnh mẽ sự mở rộng của BHXH cho mọi người lao động và BHYT tự nguyện, đặt nền móng cho lộ trình tiến tới BHYT toàn dân. Hy vọng rằng, việc Quốc hội Việt Nam tới đây thông qua Luật về BHXH, BHYT sẽ là một bước đột phá thực tiễn trong thực hiện mục tiêu công bằng về an sinh xã hội và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe cho toàn dân”.

2. Chính sách, pháp luật BHXH, BHYT từng bước hoàn thiện

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006) đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2006 - 2010, trong đó nêu rõ: “Đổi mới hệ thống BHXH theo hướng đa dạng hóa hình thức và phù hợp với kinh tế thị trường; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động”.

Ngày 29/06/2006 đã đánh dấu một mốc son trong chặng đường phát triển và hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH khi tại kỳ họp thứ 09, Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật BHXH, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 với loại hình BHXH bắt buộc; từ ngày 01/01/2008 với loại hình BHXH tự nguyện và từ 01/01/2009 với loại hình bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

   Luật BHXH năm 2006 là một bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách BHXH phù hợp với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế. Với 11 Chương, 141 điều, các chính sách BHXH được thiết kế trong Luật BHXH đã phát huy tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động, tạo điều kiện để mọi người lao động đều có thể tham gia vào hệ thống BHXH với việc bổ sung thêm hình thức BHXH tự nguyện, góp phần thực hiện mục tiêu An sinh xã hội. Nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động và xã hội về BHXH, An sinh xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Các chế độ BHXH được thiết kế phù hợp hơn, mức đóng BHXH được tăng theo lộ trình, đến năm 2014 đã đạt tỷ lệ đóng góp là 26% (thay vì 20% như trước đây), hệ số hưởng trợ cấp BHXH một lần được tăng lên, công thức tính lương hưu được điều chỉnh, đảm bảo tốt hơn nguyên tắc đóng - hưởng, đã góp phần ổn định đời sống của người lao động trong quá trình làm việc và khi hết tuổi lao động.

Sau 15 năm thực hiện BHYT với 03 lần ban hành Nghị định, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BHYT ngày càng bộc lộ những bất cập (còn trùng lặp, chồng chéo, chưa đồng bộ, thống nhất và chưa sát với thực tiễn); cơ chế pháp lý chưa rõ ràng, cụ thể trong việc phân công, phối hợp tổ chức thực hiện BHYT; chưa có chế tài đủ mạnh để bảo đảm việc tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật về BHYT. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cần thiết ban hành Luật BHYT, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong việc thực hiện chính sách BHYT; tạo cơ sở pháp lý cao nhất trong thực hiện chính sách BHYT. Ngày 14/11/2008, tại kỳ họp thứ 04, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật BHYT (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009). Luật gồm 10 Chư­ơng, 52 điều, điều chỉnh các mối quan hệ liên quan tới các chủ thể tham gia BHYT, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan quản lý đối với chính sách xã hội quan trọng này. Luật BHYT được ban hành đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hệ thống pháp luật về BHYT, là cơ sở pháp lý cao nhất để thể chế hoá quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển BHYT toàn dân. Luật BHYT quy định rõ: “BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”. Năm nguyên tắc định hướng toàn bộ nội dung của Luật là: Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT; Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính theo quy định của Chính phủ; Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT; Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do Quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả; Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu chi và được Nhà nước bảo hộ.

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thực hiện các chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH, BHYT nói riêng ngày càng trở thành mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta. Ở khía cạnh vĩ mô, từ việc thường xuyên quan tâm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đổi mới và hoàn thiện cơ sở lý luận, hệ thống quan điểm chỉ đạo về định hướng mục tiêu BHXH, BHYT liên tục được bổ sung, củng cố, phát triển qua các thời kỳ. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/01/2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X xác định: “Xây dựng hệ thống BHXH đa dạng và linh hoạt phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mở rộng các hình thức bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện; bổ sung, sửa đổi các chế độ BHXH còn bất hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH; tách BHXH đối với khu vực hành chính nhà nước ra khỏi khu vực doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các lĩnh vực khác. Ðiều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với chính sách tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; từng bước cải thiện đời sống của người về hưu theo trình độ phát triển của nền kinh tế”.

Trên lĩnh vực phát triển BHYT, Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 07/09/2009 của Ban Bí thư Trung ương về Đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới nhấn mạnh: “BHYT là một chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và luôn luôn đề cao trong hệ thống chính sách an sinh xã hội”.

Để tuyên truyền Luật BHYT; khuyến khích, vận động nhân dân tham gia BHYT, tiến tới BHYT toàn dân; động viên và nâng cao ý thức, trách nhiệm của những người làm công tác BHYT và cán bộ, nhân viên ngành Y tế, ngày 16/06/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 823/QĐ-TTg lấy ngày 01/7 hằng năm là Ngày BHYT Việt Nam. Sự kiện này thể hiện ý chí và quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe; đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng.

Ngày BHYT Việt Nam như một điểm nhấn quan trọng, một mốc son trong lịch sử y tế Việt Nam. Đất nước ta có thêm một ngày kỷ niệm đề cao giá trị nhân văn, ý nghĩa nhân đạo, cộng đồng của chính sách BHYT, phù hợp với đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam: “Lá lành đùm lá rách, thương người như thể thương thân”. Ngày BHYT Việt Nam là dịp để cả cộng đồng khơi dậy và nhân lên tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ, chia sẻ gánh nặng tài chính với những người không may ốm đau, bệnh tật, giúp họ vượt qua khó khăn hoạn nạn, rủi ro, đau yếu, góp phần tăng cường và giữ vững an sinh xã hội.

Ngày BHYT Việt Nam hằng năm cũng là dịp để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chung tay, góp sức thực hiện tốt Luật BHYT với lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, vì sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội, vì an sinh đất nước.

Mỗi năm đến Ngày BHYT Việt Nam, là một lần thêm quán triệt sâu sắc và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa của BHYT - một bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính y tế quốc gia, một trong những phương thức xã hội hóa công tác y tế thông qua huy động đóng góp của người dân cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước tạo nguồn tài chính cho hoạt động chăm sóc sức khỏe. Hoạt động BHYT được Nhà nước tổ chức thực hiện và bảo hộ, mang tính chia sẻ trong cộng đồng và nhằm mục đích thực hiện công bằng, nhân đạo trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Nhân Ngày BHYT Việt Nam 01/07/2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gửi thư tới cán bộ, nhân viên ngành Y tế và toàn thể nhân dân tham gia BHYT, nhấn mạnh: “Tham gia thực hiện Luật BHYT không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ, chia sẻ gánh nặng tài chính với những người không may ốm đau, bệnh tật của tất cả mọi công dân. Với những người thuộc diện chính sách, khó khăn, trẻ em dưới 06 tuổi và các hộ nghèo, Nhà nước và toàn xã hội cần tích cực hỗ trợ, sao cho người tham gia BHYT ngày càng nhiều, quyền lợi ngày càng được mở rộng... Cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế, nhất là các đơn vị quản lý BHYT tại các cơ sở khám, chữa bệnh phải thực hiện nghiêm các quy chế chuyên môn và quy định của Luật BHYT, nâng cao y đức và chất lượng phục vụ người bệnh...”.

Bước vào thời kỳ phát triển mới, Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định: “Bảo đảm ASXH; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT, BHTN,… đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội nhất là những đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương”.

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đã chi tiết hóa mục tiêu: “Phát triển hệ thống ASXH đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như BHXH, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp... Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm”.

Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020 khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng” và đặt mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH; 35% lực lượng lao động tham gia BHTN”.

Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới chính sách xã hội mà trụ cột là BHXH, BHYT, Đảng ta xác định, việc đổi mới hệ thống BHXH, BHYT có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình đổi mới toàn diện kinh tế-xã hội đất nước. Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 21- NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020. Nghị quyết tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, đồng thời xác định những định hướng mới mang tầm chiến lược: “BHXH và BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển hệ thống BHXH, BHYT đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT. BHXH, BHYT phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống BHXH, BHYT. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH, BHYT là trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân”.

Từ quan điểm định hướng đó, Nghị quyết nêu rõ 04 mục tiêu bao quát các lĩnh vực hoạt động BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, đó là: (1) Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ BHXH, BHYT xây dựng niềm tin, tạo nền tảng vững chắc để phát triển, tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia BHXH, trong đó coi trọng BHXH tự nguyện và thực hiện BHYT toàn dân. Đáng chú ý trong mục tiêu này là định hướng phát triển BHXH tự nguyện, bởi lẽ đây là đối tượng chiếm số lượng đông đảo trong xã hội, không thuộc đối tượng BHXH bắt buộc, là những người nông dân, lao động tự do, người thu nhập thấp… Xã hội ổn định, đất nước phồn vinh phải bảo đảm an sinh, chăm lo cuộc sống cho toàn bộ dân cư, nhất là đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương. Do đó, việc phát triển BHXH tự nguyện cần được quan tâm thực hiện, mặc dù có nhiều khó khăn, vấn đề là cần tìm ra giải pháp thực hiện phù hợp. Bên cạnh đó, Đảng ta nêu rõ định hướng nhất quán, khẳng định con đường chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tốt nhất trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thực hiện BHYT toàn dân; (2) Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH, 35% lực lượng lao động tham gia BHTN, trên 80% dân số tham gia BHYT. Việc đưa ra mục tiêu cụ thể như trên đã thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng và Nhà nước ta, đòi hòi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội cùng đồng lòng, chung sức, nỗ lực thực hiện. Đây là một bước cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng ta về thực hiện BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân đã được chỉ ra từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng “Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống BHXH và an sinh xã hội. Tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân…” và “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới chính sách viện phí; tiến tới BHYT toàn dân”; (3) “Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn; quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ BHYT”. Đây là yêu cầu hết sức quan trọng, thực hiện nguyên tắc bảo đảm an toàn về độ tin cậy tài chính của Quỹ BHXH, BHYT. Nguồn Quỹ BHXH, BHYT phải được đảm bảo và luôn trong tình trạng sẵn có để kip thời thực hiện việc chi trả trợ cấp cho các người tham gia, thụ hưởng, vì những rủi ro, nguy cơ trong cuộc sống, về sức khỏe luôn trong tình trạng thường trực, có thể đến với bất kỳ ai, vào bất cứ lúc nào. Điều đó có nghĩa nguồn tài chính phải được đảm bảo một cách chắc chắn, là nhân tố quan trọng giữ gìn ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. BHXH, BHYT là quỹ xã hội, nguồn dự phòng phục vụ mục tiêu an sinh xã hội, do đó việc quản lý, sử dụng phải luôn đặt mục tiêu an toàn, đảm bảo cân đối lâu dài, vững chắc, là chỗ dựa tin cậy của Nhà nước và mọi tầng lớp cán bộ, nhân dân; (4) “Xây dựng hệ thống BHXH, BHYT hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Mục tiêu đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Ngành BHXH trước nhiệm vụ ngày càng cao của giai đoạn mới. Những yêu cầu về tính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao trong giai đoạn mới là kim chỉ nam định hướng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức BHXH phải nỗ lực vươn lên về mọi mặt, cả về học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong và ý thức tổ chức, kỷ luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ, xứng đáng là “công bộc” của nhân dân.   

Từ nền tảng định hướng chính trị đó, Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung được Quốc hội thông qua ngày 18/06/2012 tại kỳ họp thứ 03 Quốc hội khóa XIII tiếp tục có những quy định về BHXH, BHYT. Hiến pháp năm 2013 sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013 tại kỳ họp thứ 06 đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người và đều hướng tới nhân dân, đảm bảo quyền và lợi ích của nhân dân. Với kỹ thuật lập hiến mới, đòi hỏi cao độ về tính khái quát, lần đầu tiên Hiến pháp đã hiến định khái niệm “an sinh xã hội” và khẳng định tại Điều 34 “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, tại Điều 59 “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội...”.

Ngày 29/03/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 538/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020. Mục tiêu của đề án là mở rộng phạm vi bao phủ của BHYT tiến tới BHYT toàn dân nhằm chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng công bằng, hiệu quả, chất lượng và phát triển bền vững. Đây được xem là sự cam kết chính trị mạnh mẽ trong chính sách “bảo đảm an sinh xã hội” và là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đề án đặt ra mục tiêu: tăng tỷ lệ dân số tham gia BHYT đến năm 2015 đạt trên 70% dân số tham gia BHYT, đến năm 2020 có trên 80% dân số tham gia BHYT; Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT, bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT theo quy định của pháp luật, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người tham gia BHYT; Từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham gia BHYT, bảo đảm cân đối thu - chi Quỹ BHYT.

Hiện thực hóa Hiến pháp 2013, ngày 13/06/2014, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Điểm mới quan trọng trong Luật Sửa đổi là quy định “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc” nhằm khẳng định mọi đối tượng bắt buộc phải tham gia BHYT để thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân. Quy định khuyến khích tham gia BHYT theo hộ gia đình với cơ chế giảm dần mức đóng từ thành viên thứ hai trở đi, đến người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất, nhằm khắc phục tình trạng cấp trùng thẻ BHYT, hạn chế tình trạng chỉ có người ốm mới tham gia BHYT, bảo đảm sự chia sẻ ngay trong hộ gia đình. Luật cũng mở rộng phạm vi quyền lợi BHYT và mức hưởng BHYT, bỏ cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh BHYT đối với một số nhóm đối tượng được bảo trợ, mở thông tuyến KCB chi trả chi phí KCB từ Quỹ BHYT theo lộ trình: từ ngày 01/01/2016, thông tuyến xã và tuyến huyện trên cùng địa bàn tỉnh; đến ngày 01/01/2021, quỹ BHYT chi trả chi phí điều trị nội trú theo mức hưởng cho người tham gia BHYT khi khám, chữa bệnh không đúng tuyến tại các cơ sở khám chữa bệnh tuyến tỉnh trong phạm vi cả nước. Từ 1/1/2015, nhóm đối tượng là người dân tộc thiểu số, người nghèo đang sinh sống tại vùng có điều kiện KT-XH khó khăn, đặc biệt khó khăn, người đang sinh sống tại huyện đảo, xã đảo tự đi KCB tuyến huyện hoặc nội trú tuyến tỉnh, TW được hưởng mức như đi KCB đúng tuyến.

   Cũng tại kỳ họp thứ bảy, Quốc hội đã xem xét, thảo luận, cho ý kiến vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH và thông qua tại Kỳ họp thứ 8. Việc sửa đổi, bổ sung Luật BHXH được thực hiện với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện pháp luật về BHXH để đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Mở rộng diện bao phủ BHXH tới đông đảo người lao động nhằm đạt được mục tiêu “BHXH cho mọi người lao động” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI.

Ngày 15/11/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 105/2014/NĐ-CP, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, thay thế Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT. Nghị định có 04 chương, 14 Điều, quy định cụ thể về đối tượng, mức đóng, mức hỗ trợ và nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước đóng, hỗ trợ đóng BHYT; mức hưởng BHYT và phương thức thanh toán chi phí, khám, chữa bệnh BHYT; quản lý và sử dụng Quỹ BHYT; điều khoản thi hành.

Ngoài đối tượng được quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật BHYT, đối tượng tham gia BHYT bao gồm: công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206/CP ngày 30/5/1979 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khoẻ nay già yếu phải thôi việc tham gia BHYT theo quy định tại khoản 2 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật BHYT; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình tham gia BHYT theo quy định tại khoản 4 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật BHYT.

Quy định chi tiết về mức đóng BHYT hàng tháng của các nhóm đối tượng từ ngày 01/01/2015. Trong đó, mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình, người thứ nhất đóng bằng 4,5 mức lương cơ sở, người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất, người thứ năm trở đi đóng bằng 40% người thứ nhất.

Quy định mức kinh phí từ ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHYT cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo mới thoát nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình làm nông, lâm, ngư nghiệp và diêm nghiệp.

Về quyền lợi hưởng BHYT, Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định chi tiết mức hưởng của các đối tượng, quyền lợi khi khám, chữa bệnh BHYT tại các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn giáp ranh của hai tỉnh, thành phố...

Về phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT, quy định áp dụng phương thức thanh toán định suất với cơ sở khám, chữa bệnh BHYT ban đầu; quy định các trường hợp thanh toán theo phí dịch vụ và thanh toán theo trường hợp bệnh.

Nghị định cũng quy định rõ việc sử dụng Quỹ BHYT. Ngoài việc chi trả chi phí khám, chữa bệnh, một phần quỹ khám, chữa bệnh BHYT sẽ được trích để lại cho các cơ sở giáo dục (07% tổng thu BHYT học sinh, sinh viên đang học); trích 01% quỹ khám, chữa bệnh BHYT để lại cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có tổ chức y tế cơ quan để thực hiện khám, chữa bệnh ban đầu. Về điều kiện, quy mô tổ chức, nội dung chi và quản lý, thanh quyết toán nguồn kinh phí này sẽ thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Liên bộ Y tế - Tài chính. 10% tổng thu BHYT dành cho quỹ dự phòng và chi phí quản lý Quỹ BHYT, trong đó dành tối thiểu 05% cho quỹ dự phòng. Từ 01/01/2015 đến 31/12/2020, BHXH Việt Nam có trách nhiệm hạch toán 80% số kinh phí chi khám, chữa bệnh BHYT chưa sử dụng hết vào quỹ dự phòng, đồng thời thông báo 20% số còn lại cho địa phương để thực hiện theo quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 35 sửa đổi, bổ sung của Luật BHYT. Từ ngày 01/01/2021, BHXH Việt Nam có trách nhiệm hạch toán toàn bộ số kinh phí khám, chữa bệnh BHYT chưa sử dụng hết vào quỹ dự phòng để điều tiết chung. Về chi phí quản lý Quỹ BHYT, quy định chi cho công tác tuyên truyền, hoạt động liên quan đến thu, chi, thanh, kiểm tra, phát triển hiện đại hóa công nghệ thông tin, nghiên cứu khoa học, đào tạo, hợp tác quốc tế...

Tại Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIII, Luật BHXH sửa đổi được thông qua sáng ngày 20/11/2014. Luật BHXH sửa đổi gồm 09 Chương, 125 Điều, quy định chế độ, chính sách BHXH; quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan BHXH; Quỹ BHXH; thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH.

Trong đó, cách tính lương hưu hàng tháng được sửa đổi theo hướng tăng dần số năm đóng. Cụ thể, từ 01/01/2018, mức lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm với lao động nữ và 16 năm với lao động nam. Với lao động nam, từ năm 2019 mức này tương tứng với 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, lao động được tính thêm 02%, mức tối đa bằng 75%.

Ngoài ra, mức bình quân lương hàng tháng để tính lương hưu của khu vực công cũng được điều chỉnh theo lộ trình. Cụ thể, tính bình quân 15 năm cuối từ khi luật có hiệu lực thi hành 01/07/2015 đến 31/12/2019; từ 1/1/2020 đến 31/12/2024 tính bình quân của 20 năm cuối; từ 01/01/2025 trở đi tính bình quân của toàn bộ thời gian. Khu vực kinh tế tư nhân đang thực hiện quy định tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu.

Luật BHXH (sửa đổi) lần này cũng mở rộng thêm 02 đối tượng tham gia BHXH bắt buộc gồm: người lao động có hợp đồng lao động 01-03 tháng và người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn. Cơ quan BHXH được giao thêm chức năng thanh tra việc đóng BHXH.

Về chế độ thai sản, lao động nữ được nghỉ việc khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi cứ mỗi con người mẹ được thêm 01 tháng. Người chồng cũng được nghỉ 05 ngày khi vợ sinh thường và 07 ngày nếu vợ sinh mổ và sinh non. Trường hợp vợ sinh đôi, thì chồng được nghỉ 10 ngày, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày.

Như vậy, sau 20 năm xây dựng và phát triển, cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý về BHXH, BHYT được ban hành ngày càng đầy đủ và hoàn thiện; vai trò, vị thế là những trụ cột chính của BHXH, BHYT trong hệ thống An sinh xã hội ngày càng được khẳng định; tạo nền tảng vững chắc, giúp cho việc tổ chức thực hiện ngày càng hiệu lực, hiệu quả hơn.

 

3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Thực hiện Luật BHXH năm 2006, ngày 22/08/2008, Chính phủ ban hành Nghị định 94/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong tình hình mới. Theo quy định tại Nghị định này, “BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện; tổ chức thu, chi chế độ BHTN; quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHTN, BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện theo quy định của pháp luật”.

Để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách và thu, chi, quản lý, sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, Nghị định quy định bổ sung những nội dung mới trong thành phần Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam gồm đại diện lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và thành viên khác do Chính phủ quy định tùy vào từng thời điểm.  Hội đồng quản lý có Chủ tịch, Phó Chủ tịch thường trực và các thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; nhiệm kỳ 05 năm.

BHXH Việt Nam giữ nguyên mô hình tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, theo 03 cấp: Trung ương , tỉnh, thành phố trực thuộc và huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam ở Trung ương gồm có 18 đơn vị trực thuộc:  Ban Thực hiện chính sách BHXH; Ban Thực hiện chính sách BHYT; Ban Thu; Ban Chi; Ban Cấp sổ, thẻ; Ban Tuyên truyền; Ban Hợp tác quốc tế; Ban Kiểm tra; Ban Thi đua - Khen thưởng;  Ban Kế hoạch - Tài chính; Ban Tổ chức cán bộ; Văn phòng; Viện Khoa học BHXH; Trung tâm Thông tin; Trung tâm Lưu trữ; Trường Đào tạo nghiệp vụ BHXH; Báo BHXH và Tạp chí BHXH.

Năm 2008, hệ thống BHXH các tỉnh, thành phố tiếp tục có sự thay đổi khi thực hiện Nghị quyết Kỳ họp thứ 03 Quốc hội khóa XII, ngày 29/05/2008, sáp nhập toàn bộ tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc; 04 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình vào TP.Hà Nội. Hệ thống BHXH các tỉnh, thành phố giảm từ 64 đơn vị xuống còn 63 đơn vị.

Tháng 01/2009, BHXH Việt Nam tiếp tục có sự thay đổi nhân sự chủ chốt. Sau 10 năm điều hành hoạt động của BHXH Việt Nam, Tổng Giám đốc Nguyễn Huy Ban được nghỉ hưởng chế độ hưu trí theo quy định. Thực hiện sự điều động, phân công của Chính phủ, ngày 24/12/2008, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định điều động, bổ nhiệm đồng chí Lê Bạch Hồng, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, giữ chức vụ Thứ trưởng, Tổng Giám đốc, kiêm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam từ 01/01/2009. Tháng 03/2009, Thủ tướng Chính phủ Quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế, kiêm giữ chức ủy viên HĐQL, thay đồng chí Trần Chí Liêm nghỉ hưu theo chế độ; tháng 07/2009, Thủ tướng tiếp tục bổ nhiệm đồng chí Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ LĐTBXH, kiêm giữ chức ủy viên HĐQL, thay đồng chí Huỳnh Thị Nhân (đại diện lãnh đạo Bộ LĐTBXH tham gia ủy viên HĐQL từ tháng 04/2008 đến tháng 06/2009) đi nhận nhiệm vụ mới (Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy TP.HCM); đồng chí Hà Phúc Mịch, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, kiêm giữ chức Ủy viên HĐQL, thay đồng chí Lê Hoàng Minh, đến tuổi nghỉ hưu; bổ sung vào HĐQL 02 thành viên: đồng chí Nguyễn Xuân Hiên, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ.

Thực hiện Luật BHXH, Luật BHYT, nhiệm vụ của Ngành BHXH ngày càng tăng, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ sung nhân lực Ban Lãnh đạo BHXH Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Ngày 08/04/2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 459/QĐ-TTg bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Thực hiện Chính sách BHYT, giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam; cùng ngày này, Thủ tướng ký Quyết định số 460/QĐ-TTg điều động, bổ nhiệm đồng chí Đỗ Thị Xuân Phương, Phó Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội giữ chức Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Từ đây, Ban Lãnh đạo BHXH Việt Nam gồm có 05 đồng chí: Tổng Giám đốc và 04 Phó Tổng Giám đốc.

Tháng 09/2011, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam tiếp tục có sự thay đổi nhân sự. Đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam, thay đồng chí Vũ Văn Ninh đảm nhận chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện Nghị định số 116/2011/NĐ-CP ngày 14/12/2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 94/2008/NĐ-CP, theo đó, từ tháng 02/2012, cơ cấu của BHXH Việt Nam ở Trung ương tăng lên 22 tổ chức, có 04 tổ chức được thành lập mới là Ban Pháp chế, Ban Đầu tư Quỹ, Ban Dược và Vật tư y tế và Trung tâm Giám định BHYT và Thanh toán đa tuyến. Theo đó, ở Trung ương có 22 đơn vị trực thuộc gồm 15 tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc và 07 đơn vị sự nghiệp. Ở cấp tỉnh, có 63 BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở cấp huyện, có 700 BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Nghị định giữ nguyên quy định số lượng Phó Giám đốc BHXH cấp huyện vẫn được quy định là không quá 02 người, tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn triển khai nhiệm vụ; bổ sung thêm quy định số lượng Phó Giám đốc BHXH các quận tại TP. HCM và Hà Nội không quá 03 người.

Thực hiện sự phân công của Đảng và Nhà nước, ngày 28/12/2012, đồng chí Vương Đình Huệ được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng Ban Kinh tế Trung ương. Ngày 23/05/2013, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã phê chuẩn Tờ trình của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính đối với đồng chí Vương Đình Huệ để đồng chí tập trung thời gian cho nhiệm vụ mới; đồng thời Quốc hội phê chuẩn Tờ trình của Chính phủ đề cử đồng chí Đinh Tiến Dũng, Tổng Kiểm toán Nhà nước vào chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính. Ngày 26/07/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1231/QĐ-TTg, cử đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam.

Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của BHXH Việt Nam, để tổ chức thực hiện tốt Luật BHXH, Luật BHYT, ngày 17/01/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2014/NĐ-CP thay thế Nghị định 94/2008/NĐ-CP và Nghị định 116/2011/NĐ-CP. Theo đó, tổ chức BHXH Việt Nam ở Trung ương tăng từ 22 lên 24 đơn vị, gồm 16 tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc và 08 đơn vị sự nghiệp. Ở cấp tỉnh có 63 BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở cấp huyện có 705 BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.

Nhìn chung, việc quy định tổ chức bộ máy ngành BHXH theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương là phù hợp với tính chất công việc chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu, thuận tiện cho hoạt động quản lý của Ngành, nhất là việc quản lý Quỹ BHXH, BHYT và công tác quản lý công chức, viên chức. Đồng thời, việc tăng thêm số lượng các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam ở Trung ương theo từng giai đoạn nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ ngày càng tăng được Chính phủ giao cho Ngành (từ 19 nhiệm vụ theo Nghị định 100/2002/NĐ-CP lên 28 nhiệm vụ theo Nghị định số 05/2014/NĐ-CP), cũng như đảm bảo giải quyết kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách của người lao động và nhân dân theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng vào sự nghiệp an sinh xã hội, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Thời điểm toàn Ngành đang sắp xếp lại bộ máy tổ chức, cán bộ theo Nghị định mới, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành chức năng tham mưu với Chính phủ 02 Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, Thứ trưởng, Tổng Giám đốc Lê Bạch Hồng nghỉ hưu theo chế độ. Trên cơ sở đề nghị của Ban Cán sự Đảng BHXH Việt Nam, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 386/QĐ-TTg ngày 19/03/2014, điều động, bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Thị Minh, Thứ trưởng Bộ Tài chính, giữ chức Thứ trưởng, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Ngày 13/06/2014, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký Quyết định số 905/QĐ-TTg về việc bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Thị Minh kiêm giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam.

Như vậy, tính đến thời điểm này (tháng 10/2014), Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam đã được kiện toàn với sự tham gia của bốn bên: các cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về BHXH, cơ quan tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, cơ quan tổ chức đại diện cho giới chủ và cơ quan tổ chức đại diện cho người lao động, gồm: đồng chí Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quản lý; đồng chí Nguyễn Thị Minh, Thứ trưởng, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, kiêm giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng và 06 thành viên: đồng chí Phạm Minh Huân, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; đồng chí Nguyễn Duy Thăng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; đồng chí Phạm Lê Tuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế; đồng chí Mai Đức Chính, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; đồng chí Lều Vũ Điều, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam và đồng chí Phùng Quang Huy, Giám đốc Văn phòng Giới sử dụng lao động tại Việt Nam.

Qua 20 năm xây dựng và phát triển, tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam ngày càng được kiện toàn. Theo đó, đội ngũ cán bộ, công chức cũng được tăng cường cả về số lượng và nâng cao hơn về chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác BHXH, BHYT. Tính đến tháng 10/2014, toàn Ngành có 20.220 công chức, viên chức và người lao động hợp đồng. Công tác tổ chức cán bộ ngày càng đi vào nền nếp. Cùng với việc thực hiện tuyển viên chức cạnh tranh, công khai, dân chủ theo chức danh và vị trí việc làm, có chế độ thu hút nhân lực trình độ cao (đặc cách xét tuyển với các trường hợp có trình độ Thạc sĩ trở lên), chất lượng cán bộ, viên chức ngày càng được nâng lên. Nếu như ở năm đầu thành lập, toàn Ngành chỉ có 02 cán bộ có trình độ trên đại học (TS.Nguyễn Văn Châu và TS. Phạm Thành), thì đến nay (tháng 10/2014) ngoài 09 đồng chí có học vị Tiến sĩ đã nghỉ hưu, toàn Ngành có 11 Tiến sĩ (trong đó có 01 Phó Giáo sư), 495 Thạc sĩ. Nếu năm 1995, tỷ lệ cán bộ, công chức có trình độ đại học trở lên chỉ chiếm 30,3%, cá biệt có những viên chức chưa qua đào tạo, chưa tốt nghiêp THPT, thì đến nay, toàn Ngành đã có 16.386 người có trình độ đại học trở lên (chiếm 82,2%); 669 người có trình độ cao đẳng (3,3%); 2.933 người có trình độ trung cấp, sơ cấp (14,5%). Số công chức, viên chức nữ là 11.555 người (chiếm 57,15%).

Ở cơ quan Trung ương, bộ máy tổ chức sau khi kiện toàn lại thành 24 đơn vị trực thuộc, tăng thêm 02 đơn vị, đó là Ban Kiểm toán nội bộ cùng Trung tâm Giám định BHYT và Thanh toán đa tuyến khu vực phía Nam. Đồng thời, đổi tên Ban Chi thành Ban Tài chính - Kế toán; Ban Kế hoạch - Tài chính thành Ban Kế hoạch - Đầu tư; Trung tâm Thông tin thành Trung tâm Công nghệ thông tin; Ban Sổ, thẻ đổi thành Ban Sổ - Thẻ.  Ngoài ra, còn có 03 ban giúp việc Tổng Giám đốc trong các lĩnh vực: Quản lý Dự án Đầu tư xây dựng, Quản lý Dự án Xây dựng trụ sở làm việc; Quản lý dự án phần mềm nghiệp vụ.

 

4. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị, từng bước hội nhập, nâng tầm hoạt động

Triển khai Luật BHXH năm 2006, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện Luật BHXH, các văn bản chủ đạo gồm: Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/04/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân; Nghị định số 153/2013/NĐ-CP ngày 08/11/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2007/NĐ-CP; Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện; Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN; Nghị định số 100/2012/NĐ-CP ngày 21/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN.

Về Luật BHYT, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế và Bộ ngành liên quan đã ban hành 02 Nghị định, 02 Quyết định, 14 Thông tư (trong đó có 05 thông tư liên bộ).

Cùng với đó, để tổ chức thực hiện Luật BHXH, BHYT, BHXH Việt Nam đã ban hành 25 Quyết định về Quy trình nghiệp vụ và các quy chế quản lý; ký 05 Quy chế phối hợp công tác với các bộ, ngành; 106 Quy định quản lý và trên 200 văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ; UBND các tỉnh, thành phố theo thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn để tổ chức triển khai thực hiện tại địa phương.

Nhìn chung, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BHXH và Luật BHYT bảo đảm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và có tính khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tổ chức thực hiện, đưa chính sách, pháp luật BHXH, BHYT của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống.

Việc luật hóa chế độ chính sách BHXH, BHYT có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện cho việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH một cách hiệu quả. Sau 07 năm thực hiện Luật BHXH, số người tham gia BHXH liên tục tăng lên qua các năm, tính đến hết 31/12/2013, số người tham gia BHXH bắt buộc là 10,9 triệu người, tăng 46,5% so với năm 2007, tăng gấp 4,7 lần so với số người tham gia BHXH năm 1995 (trong đó có 8,7 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, tăng 44,8% so với năm 2009); số người tham gia BHXH tự nguyện là 173.584 người, tăng gấp 28,4 lần so với năm 2008. Sau 05 năm thực hiện Luật BHYT, tỷ lệ dân số tham gia BHYT tăng từ 58,2% (2009) lên 66,8% (2012) và đạt 67,7% dân số vào năm 2013, bình quân tăng 2,8%/năm với trên 62 triệu dân có thẻ BHYT, tăng gấp 5,16 lần so với thời điểm trước khi sáp nhập BHYT vào BHXH.

Tính đến hết ngày 31/12/2013 số thu BHXH đạt 115.665 tỷ đồng, tăng gấp 4,9 lần so với số thu năm 2007, tăng gấp 146,8 lần so với số thu năm 1995. Trong đó, thu BHXH bắt buộc là 105.018,1 tỷ đồng, thu BHXH tự nguyện là 552 tỷ đồng và thu BHTN là 10.095 tỷ đồng. Năm 2013, thu BHYT đạt 48.565 tỷ đồng, tăng 3,7 lần so với số thu năm 2009 và tăng 37,4 lần so với năm 2002. Năm 2014, thực hiện kế hoạch Chính phủ giao, BHXH Việt Nam phấn đấu thu đạt 193.319 tỷ đồng, trong đó thu BHXH là 128.264 tỷ đồng, thu BHYT là 53.341 tỷ đồng, thu BHTN là 11.714 tỷ đồng.

Thực hiện cải cách hành chính nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHXH Việt Nam đẩy mạnh việc phân cấp cho BHXH các cấp trong nghiệp vụ thu, chi, giải quyết chế độ, chính sách; gắn thẩm quyền với trách nhiệm thực thi nhiệm vụ. Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý. Đẩy mạnh việc xây dựng, triển khai các phần mềm nghiệp vụ; từng bước thiết lập cơ sở dữ liệu tập trung trong toàn Ngành song hành với việc rút ngắn các thủ tục hành chính, giảm thì giờ giao dịch của các tổ chức, cá nhân với cơ quan BHXH Việt Nam.

Hàng năm, Ngành BHXH đã tổ chức tiếp nhận và giải quyết hàng triệu hồ sơ hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH, số người được giải quyết hưởng chế độ hàng năm kể từ năm 1995 đến hết năm 2013 là trên 59,6 triệu lượt người, trong đó hưởng hàng tháng trên 1,6 triệu người; người hưởng BHXH một lần trên 5,6 triệu lượt người và trên 52 triệu lượt người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khoẻ. Ngoài ra, BHXH Việt Nam đã tập trung giải quyết dứt điểm cho trên 50 nghìn hồ sơ tồn đọng trước năm 1995 hưởng các chế độ BHXH; tiếp nhận hồ sơ và giải quyết trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 613/QĐ-TTg cho trên 62.000 người và hàng năm điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng cho khoảng 2,5 triệu người lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng đảm bảo kịp thời và chính xác.

Cùng với số đối tượng thụ hưởng tăng lên, các loại hình BHXH được mở rộng và mức hưởng ở một số chế độ theo quy định của Luật BHXH được điều chỉnh tăng, từ đó dẫn tới số tiền chi trả BHXH cũng tăng lên. Nếu như năm 2008, tổng số chi từ nguồn Quỹ BHXH để giải quyết chế độ là 21.360 tỷ đồng thì đến năm 2013 là 77.614 tỷ đồng, tăng 3,6 lần so với năm 2008. Năm 2014, tổng chi BHXH theo dự toán giao của Chính phủ là 131.844 tỷ đồng; chi BHYT là 56.076 tỷ đồng, chi BHTN là 3.525 tỷ đồng.

Công tác chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH đã được cải tiến thông qua việc đa dạng hóa phương thức chi trả nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người thụ hưởng như chi trả thông qua tài khoản thẻ ATM; chi trả thông qua đại diện chi trả xã, thông qua hệ thống bưu điện xã. Việc chi trả các chế độ BHXH, quản lý đối tượng nhìn chung ổn định, không có vướng mắc lớn xảy ra, những tồn tại trong công tác chi trả đã dần được các địa phương chấn chỉnh, khắc phục; công tác quản lý đối tượng tiếp tục được tăng cường và được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Từ năm 2009 đến 2012, số lượt khám, chữa bệnh BHYT tăng mạnh, cụ thể: năm 2009, tổng số lượt khám, chữa bệnh BHYT là trên 92,1 triệu (trong đó trên 6,3 triệu lượt nội trú và gần 86,8 lượt ngoại trú); năm 2010, tổng số lượt khám, chữa bệnh BHYT là gần 102,2 triệu (trong đó 8,4 triệu lượt nội trú và gần 93,8 triệu lượt ngoại trú); năm 2011, tổng số lượt khám, chữa bệnh BHYT là trên 114,4 triệu (trong đó gần 8,9 triệu lượt nội trú và 105,5 triệu lượt ngoại trú); năm 2012, tổng số lượt  khám, chữa bệnh BHYT là 121,3 triệu (trong đó gần 10,2 triệu lượt nội trú và trên 111,1 triệu lượt ngoại trú). Số chi BHYT cũng tăng qua các năm, từ 15.481 tỷ đồng (2009), 19.686 tỷ đồng (2010), 25.564 tỷ đồng (2011) đến 35.584 tỷ đồng (2012). Quỹ BHYT từ chỗ lũy kế bội chi đến năm 2009 là 3.083 tỷ đồng, từ khi thực hiện Luật BHYT đến nay đã cân đối dương và có dự phòng.

Để đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền lợi của người tham gia BHYT, hàng năm, BHXH Việt Nam chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố ký kết hợp đồng khám, chữa bệnh BHYT với các cơ sở y tế trong cả nước. Riêng năm 2014, toàn Ngành tổ chức hợp đồng khám chữa bệnh BHYT với 2.111 cơ sở khám, chữa bệnh có đủ điều kiện, tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế, trong đó có 850 đơn vị ký hợp đồng thanh toán theo định suất và 1.261 cơ sở theo phí dịch vụ; 52 cơ sở KCB tuyến Trung ương, 619 cơ sở KCB tuyến tỉnh, 1.173 cơ sở tuyến huyện, 267 cơ sở tuyến xã. Thông qua việc ký hợp đồng với Bệnh viện hoặc Trung tâm y tế huyện tổ chức KCB tại hơn 10.000 trạm y tế xã.

Người tham gia BHYT ngày càng có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế. Năm 2009, bình quân KCB là 1,84 lượt/thẻ/năm đến năm 2012 đã tăng lên 2,04 lượt/thẻ/năm, trong đó KCB ngoại trú tăng từ 1,7 lên 1,87 lượt/thẻ/năm. Với mệnh giá thẻ BHYT ở mức thấp so với các nước trong khu vực, nhưng người tham gia BHYT ở Việt Nam được hưởng thụ tương đối nhiều dịch vụ y tế và một số dịch vụ kỹ thuật cao, hiện đại (chạy thận nhân tạo, can thiệp tim mạch, thuốc chữa ung thư, thuốc chống thải ghép...). Việc tăng mức chi trả từ Quỹ BHYT và danh mục quyền lợi tiếp tục mở rộng cho thấy vai trò quan trọng của BHYT trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân.

Ở giai đoạn đầu thành lập, theo quy định tại Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam được thực hiện các biện pháp đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH. Thực hiện Quyết định này, tính đến hết ngày 31/12/1998, số dư đầu tư Quỹ BHXH là 7.493 tỷ đồng, tuy nhiên chưa thực hiện được công tác đầu tư vào một số dự án và doanh nghiệp lớn của Nhà nước có nhu cầu về vốn được Thủ tướng Chính phủ cho phép và bảo trợ.

Giai đoạn 2003- 2006, hoạt động đầu tư Quỹ BHXH được thực hiện theo Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ, số dư đầu tư quỹ và số lãi thu được từ hoạt động đầu tư liên tục tăng. Tuy nhiên hiệu quả của hoạt động đầu tư chưa cao, tốc độ tăng trưởng của quỹ từ đầu tư chưa bù đắp được tỷ lệ lạm phát trong năm, đặc biệt trong năm 2005 do tỷ lệ lạm phát cao (8,0%/năm) dẫn đến tốc độ tăng trưởng của quỹ so với tỷ lệ lạm phát -1,4%/năm.

Từ năm 2007 trở đi, hoạt động đầu tư quỹ được thực hiện theo quy định của Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành. Các hình thức đầu tư trong giai đoạn 2008- 2013 được phân bổ chủ yếu là cho ngân sách nhà nước vay, mua trái phiếu Chính phủ, mua công trái giáo dục và cho các ngân hàng thương mại vay. Cơ cấu phân bổ cho từng hình thức vay có thay đổi qua các năm với xu hướng tăng tỷ trọng cho ngân sách nhà nước vay, giảm tỷ trọng cho các ngân hàng thương mại vay. Cụ thể, nếu như năm 2008 tỷ lệ vốn đầu tư cho ngân sách nhà nước vay chiếm 10,12% tổng số vốn đầu tư; mua trái phiếu Chính phủ là 26,8%; mua công trái giáo dục là 0,24% và cho các ngân hàng thương mại vay là 62,8%, thì năm 2013 lần lượt là cho ngân sách nhà nước vay 63,2%; mua trái phiếu Chính phủ 15,0%; cho các ngân hàng thương mại của Nhà nước vay 19,7% và cho Dự án Thủy điện Lai Châu vay 2,1%.

Do các hình thức đầu tư Quỹ BHXH chủ yếu cho ngân sách nhà nước vay nên lãi suất thu được từ hoạt động đầu tư thấp. Trong giai đoạn 2009- 2013, lãi suất đầu tư quỹ thu được chỉ ở khoảng 8,42% đến 10,0%.

Công tác phối hợp giữa Ngành BHXH với các cơ quan, ban ngành liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT được tăng cường. Tại Trung ương, BHXH Việt Nam đã chủ động xây dựng và ký kết các chương trình, quy chế phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách BHXH với các bộ, ban, ngành như với Bộ Lao động-thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông Tấn xã Việt Nam. Đặc biệt, trong giai đoạn tổng kết 05 năm thực hiện Luật BHXH, 03 năm thực hiện Luật BHYT và 15 năm thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 26/05/1997, BHXH Việt Nam đã phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng và các bộ, ngành tham mưu cho Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, đồng thời ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW trong toàn Ngành. Năm 2014, BHXH Việt Nam phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Chính phủ ký kết Chương trình phối hợp giám sát thực hiện pháp luật về BHXH trong các loại hình doanh nghiệp; phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương, Báo Nhân Dân, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức các hội thảo quốc gia, quốc tế nhằm đẩy mạnh công tác truyền thông về thành tựu 20 năm xây dựng, phát triển, đúc rút kinh nghiệm trong nước, quốc tế để tham mưu, đề xuất các biện pháp tăng thu, xử lý nợ đọng, tăng cường thanh tra, kiểm tra, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT. BHXH Việt Nam ký kết Chương trình phối hợp công tác với Ban Kinh tế Trung ương, nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, tham mưu, xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT.

Tại địa phương, trên cơ sở nội dung phối hợp khung trong tổ chức thực hiện chính sách BHXH giữa BHXH Việt Nam với các bộ, ban, ngành ở Trung ương, BHXH các địa phương cùng các sở, ban, ngành đã thống nhất để cụ thể hóa các nội dung cũng như hình thức phối hợp trong tổ chức thực hiện BHXH trên địa bàn phù hợp với điều kiện thực tiễn. Nhìn chung, công tác phối hợp thực hiện chính sách BHXH tại địa phương đã có chuyển biến tích cực cả trong việc phối hợp quản lý đơn vị sử dụng lao động, người lao động, đôn đốc đóng BHXH, thu nợ cũng như công tác kiểm tra, xác minh đối tượng, điều kiện hưởng chế độ. Tại các địa phương, lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các sở, ban, ngành luôn quan tâm chỉ đạo sát sao công tác phối hợp thực hiện chính sách, pháp luật BHXH, BHYT, đã góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật BHXH, BHYT.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ và xuất phát từ yêu cầu thực tế, việc mở rộng và nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHXH và BHYT có ý nghĩa hết sức quan trọng. BHXH Việt Nam đã luôn quan tâm đến hoạt động hợp tác quốc tế nhằm không ngừng nâng cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành hoạt động của cán bộ, công chức. Thông qua hoạt động hợp tác, học tập kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và thực hiện chính sách an sinh xã hội, các cán bộ của ngành đã nâng cao được năng lực chuyên môn đáp ứng và hoàn thành tốt nhiệm vụ cung cấp dịch vụ an sinh xã hội cho người dân. BHXH Việt Nam đã hội nhập tích cực và toàn diện trong khu vực và trên thế giới. Theo đó, vị thế của Ngành từng bước nâng cao, đóng góp của BHXH Việt Nam được bạn bè quốc tế tôn trọng và đánh giá cao, góp phần thúc đẩy xây dựng sự hợp tác và phát triển trong lĩnh vực an sinh xã hội.

BHXH Việt Nam là một thành viên tích cực và có trách nhiệm trong Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA), diễn đàn an sinh xã hội lớn nhất Đông Nam Á được thành lập năm 1998 nhằm mục đích tăng cường hợp tác và thúc đẩy sự phát triển an sinh xã hội trong khu vực. ASSA hiện có 21 tổ chức thành viên là các tổ chức an sinh xã hội của 09 quốc gia ASEAN.

Ngày 08/4/2005, Hội nghị Ban Chấp hành ASSA lần thứ 15 được tổ chức tại Thành phố Đà Nẵng do BHXH Việt Nam đăng cai. Ngày 16/9/2010, BHXH Việt Nam là tổ chức đăng cai hội nghị ASSA lần thứ 26 tại Hà Nội. Như vậy, kể từ khi thành lập cho đến nay, BHXH Việt Nam đã 04 lần đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Ban Chấp hành ASSA (năm 1999, 2002, 2005 và 2010). Cũng trong nhiệm kỳ 2010-2011, BHXH Việt Nam đã chính thức tiếp nhận chức Chủ tịch luân phiên ASSA. Trong thời gian giữ cương vị Chủ tịch, BHXH Việt Nam đã xây dựng nội dung chương trình nghị sự hoạt động và chủ trì 02 Hội nghị Ban chấp hành ASSA lần thứ 27 tại Singapore vào tháng 3/2011 và Hội nghị Ban chấp hành ASSA 28 vào tháng 10/2011 tại Brunei Darusalam. BHXH Việt Nam đã chủ trì cải cách tần xuất tổ chức Hội nghị ASSA thường niên theo hướng thiết thực và hiệu quả hơn; tăng cường hợp tác giữa các thành viên ASSA và mở rộng Hiệp hội. Bằng nỗ lực, thiện chí và uy tín, BHXH Việt Nam đã tích cực thúc đẩy việc kết nạp Quỹ BHXH cho công chức chính phủ Campuchia, Quỹ BHXH cho lao động khu vực tư nhân Campuchia và Cơ quan an sinh xã hội Myanmar trở thành thành viên của ASSA, hoàn tất mục tiêu mở rộng ASSA đến mọi quốc gia thành viên ASEAN, phù hợp với nguyện vọng và định hướng Hiệp hội. Nhiệm kỳ chủ tịch này được đánh giá là một trong những mốc son quan trọng đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong công tác đối ngoại của BHXH Việt Nam, góp phần khẳng định vị thế và mở rộng tầm ảnh hưởng quốc tế của Ngành.

Trong giai đoạn này, công tác hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế, tổ chức an sinh xã hội ngoài khu vực ASEAN đã có những bước tiến quan trọng và đạt được các kết quả đáng khích lệ. BHXH Việt Nam đã tích cực, chủ động trong thiết lập và duy trì các mối quan hệ, hợp tác với các tổ chức quốc tế, các tổ chức an sinh xã hội trên thế giới với các hình thức hợp tác đa dạng từ việc tham gia, tổ chức, đăng cai hội nghị, hội thảo, tọa đàm nhằm trao đổi kinh nghiệm hoạt động, thực tiễn hiệu quả đến việc trao đổi chuyên gia, tham gia các khóa đào tạo ngắn và dài hạn, hỗ trợ kỹ thuật, tham gia tích cực vào các diễn đàn khu vực và thế giới về an sinh xã hội. Nhìn chung, chất lượng các hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng được nâng cao. Tính đến nay, BHXH Việt Nam đã mở rộng và duy trì quan hệ hợp tác thường xuyên với gần 40 tổ chức quốc tế, nhà tài trợ, tổ chức an sinh xã hội trên khắp thế giới bao gồm 21 tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội tại các quốc gia thành viên ASEAN, các tổ chức an sinh xã hội tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Ôxtrâylia, Pháp, Mỹ, Phần Lan, Nga, Mông Cổ, Ucraina...

Cũng trong giai đoạn này, BHXH Việt Nam đã xây dựng và triển khai thực hiện các dự án quan trọng do các tổ chức quốc tế tài trợ như “Chương trình đào tạo, nâng cao năng lực hệ thống BHXH Việt Nam” do Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Đức tài trợ; Dự án “Dự báo và cân đối Quỹ BHXH dài hạn” do Cơ quan Phát triển Quốc tế Ôxtrâylia (Aus-AID) tài trợ; Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Phát triển công nghệ thông tin” do Cơ quan Phát triển thương mại Hoa Kỳ (USTDA) tài trợ; Dự án “Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị Dự án hiện đại hóa BHXH Việt Nam” do Ngân hàng thế giới (WB) tài trợ; “Chương trình đào tạo về bảo hiểm tai nạn lao động cho cán bộ Việt Nam giai đoạn 2013-2015” do Cơ quan Hợp tác quốc tế (KOICA) tài trợ, “Chương trình đào tạo ngắn hạn về nâng cao năng lực lãnh đạo cho cán bộ BHXH Việt Nam” do Chính phủ Ôxtrâylia tài trợ; các chương trình, hoạt động hỗ trợ kỹ thuật do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tài trợ.

Thực hiện đường lối và chủ trương của Đảng, chỉ thị và kế hoạch hành động của Chính phủ về hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt là Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/7/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, công tác hợp tác quốc tế trên lĩnh vực BHXH, BHYT trong những năm gần đây ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả cao. Trong giai đoạn vừa qua, hàng ngàn lượt cán bộ của Ngành đã trực tiếp tham gia và thụ hưởng từ các hoạt động hợp tác quốc tế như đào tạo, nghiên cứu khảo sát, hội nghị, hội thảo… góp phần nâng cao kiến thức, tăng cường năng lực chuyên môn trong thực hiện nhiệm vụ.

Trong bối cảnh tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT, công tác hợp tác quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng; góp phần nâng cao năng lực hệ thống, đáp ứng tốt hơn các nhiệm vụ mới của ngành; đảm bảo cung cấp dịch vụ an sinh xã hội toàn diện, chất lượng và hiệu quả cho người dân Việt Nam.

 

5. Chiến lược phát triển

Kế thừa những quan điểm, đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ cách mạng và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất đất nước; đặc biệt, dưới ánh sáng đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, qua thực tiễn 20 năm xây dựng, phát triển hệ thống chính sách, pháp luật BHXH, BHYT ngày càng hoàn thiện; hệ thống tổ chức, bộ máy không ngừng được kiện toàn; năng lực và chất lượng đội ngũ cán bộ được tăng cường, tạo tiền đề và nền tảng vững chắc thực hiện thắng lợi mục tiêu BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân.

Chiến lược phát triển Ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 23/07/2013, xác định mục tiêu quan trọng: “Phát triển ngành BHXH Việt Nam theo hướng hiện đại, đảm bảo đủ năng lực và điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ và tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”.

Các mục tiêu cụ thể được Chiến lược nêu rõ là:

- Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH; 35% lực lượng lao động tham gia BHTN và trên 80% dân số tham gia BHYT.

- Quản lý, sử dụng đúng quy định và có hiệu quả Quỹ BHXH, Quỹ BHYT nhằm bảo đảm Quỹ BHXH cân đối trong dài hạn, Quỹ BHYT cân đối hàng năm.

- Tiêu chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và quản lý đối tượng, đảm bảo chậm nhất đến năm 2015 phải hoàn thành việc áp dụng Hệ thống Quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan trong toàn Ngành. Mỗi công dân tham gia BHXH, BHYT được cấp một số định danh và thống nhất với số định danh công dân do Nhà nước quy định để phục vụ và quản lý quá trình thu, giải quyết chính sách, chi trả các chế độ BHXH, BHTN, BHYT một cách chính xác, thuận tiện.

- Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy Ngành BHXH, nâng cao năng lực quản lý và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để tổ chức thực hiện, góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của chính sách BHXH, BHYT…

- Hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin để giải quyết các chính sách, chế độ BHXH, BHYT theo lộ trình chậm nhất đến năm 2015, đảm bảo liên thông, kết nối thông tin giữa các đơn vị BHXH trên địa bàn tỉnh, thành phố; chậm nhất đến năm 2017, liên thông, kết nối thông tin giữa các đơn vị trong toàn Ngành BHXH trên phạm vi cả nước; chậm nhất đến năm 2020 liên thông, kết nối thông tin giữa các cơ quan thuộc ngành BHXH Việt Nam với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT thuộc Ngành Y tế và các đơn vị tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHTN thuộc ngành Lao động.

Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu trên, chiến lược phát triển Ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020 đưa ra các giải pháp chủ yếu, đó là: Phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT; Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ quản lý và thủ tục giải quyết chế độ, chính sách BHXH, BHYT; Đổi mới phương thức tổ chức thu BHXH, BHYT tự nguyện và chi trả chế độ lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp thất nghiệp hàng tháng qua tổ chức dịch vụ công ích của nhà nước, đảm bảo tính chuyên nghiệp cao; Củng cố và tăng cường quản lý Quỹ BHXH, BHYT; Đẩy mạnh đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin theo từng giai đoạn (giai đoạn 2013-2015 và giai đoạn 2016-2020), từng bước hiện đại hóa hệ thống quản lý BHXH, BHYT; Đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống trụ sở làm việc đáp ứng nhu cầu phát triển và hiện đại hóa của Ngành; Kiện toàn, nâng cao hiệu quả hệ thống tổ chức bộ máy BHXH các cấp, phát triển nguồn nhân lực, ổn định chế độ thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT; Phát triển công tác nghiên cứu khoa học và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BHXH, BHYT.

Chiến lược xác định rõ trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế trong việc chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và BHXH Việt Nam xây dựng kế hoạch, giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT hàng năm, đảm bảo đạt mục tiêu đề ra vào năm 2020; Hoàn thiện các văn bản pháp lý, cải cách thủ tục hành chính trong khâu quản lý đối tượng, thu và giải quyết chế độ BHXH, BHYT cho đối tượng theo hướng tăng cường sử dụng hồ sơ điện tử và dịch vụ công trực tuyến trên mạng internet; Xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin kết nối với BHXH Việt Nam phục vụ cho công tác quản lý, giải quyết chế độ, đảm bảo quyền lợi cho đối tượng; Chỉ đạo thanh tra ngành lao động, ngành y tế ở các cấp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong việc thực hiện Luật BHXH, Luật BHYT.

Đặc biệt, Chiến lược nêu rõ BHXH Việt Nam có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện, nghiên cứu đề xuất các biện pháp tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện; Chỉ đạo các đơn vị trong ngành BHXH và hướng dẫn BHXH trong các lực lượng vũ trang tổ chức triển khai thực hiện, đảm bảo tính thống nhất từ Trung ương đến địa phương; Định kỳ báo cáo với các cấp có thẩm quyền về tình hình thực hiện; tổ chức sơ kết vào cuối năm 2015 và tổng kết vào cuối năm 2020.

Chiến lược đặt ra yêu cầu, trong phạm vi chức năng trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước có trách nhiệm phối hợp với BHXH Việt Nam thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển Ngành BHXH Việt Nam, đảm bảo tính thống nhất đồng bộ với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của ngành, địa phương./.

 

Viết bình luận