Sửa Luật BHYT: Nhìn từ kết quả thực hiện BHYT học sinh, sinh viên

04/09/2020 07:31:48
Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được thực hiện từ năm 2015, đưa ra một số điểm mới về BHYT học sinh, sinh viên. Đến nay, các nội dung này đã và đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng đặt ra những vấn đề cần được phân tích rõ, làm cơ sở điều chỉnh, sửa đổi và hoàn thiện Luật BHYT tích cực hơn.

(Ảnh minh họa)

 

Một số kết quả chủ yếu

Theo thống kê của BHXH Việt Nam, năm 2016, sau thời gian các quy định về BHYT học sinh, sinh viên của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được đưa vào triển khai (từ tháng 9/2015, thời điểm bắt đầu năm học 2015-2016), tổng số học sinh, sinh viên tham gia BHYT là 15,9 triệu người; trong đó, số tham gia tại nhà trường là 12,1 triệu, số tham gia theo diện thuộc nhóm đối tượng khác (người nghèo, cận nghèo, thân nhân công an, quân đội, cơ yếu…) là 3,8 triệu; tỷ lệ tham gia BHXH của học sinh, sinh viên trên cả nước đạt 92,5%.

Đến năm 2017, các chỉ số tham gia đều tăng, tương ứng là 16,5 triệu học sinh, sinh viên có BHYT, số tham gia tại nhà trường là 12,3 triệu. Tỷ lệ tham gia BHYT của học sinh, sinh viên trên cả nước đạt 93,5%.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì tăng, năm 2018, tỷ lệ bao phủ đạt 94,2% và năm 2019 đạt khoảng 95%.

Tương ứng, tổng thu BHYT học sinh, sinh viên qua các năm cũng liên tục tăng; không chỉ do tỷ lệ tham gia tăng, mức đóng hàng năm cũng tăng lên do sự thay đổi của mức lương cơ sở. Mức đóng bình quân/thẻ BHYT/năm năm 2018 là trên 640.000 đồng.

Quyền lợi khám, chữa bệnh của nhóm học sinh, sinh viên cũng được đảm bảo hiệu quả. Từ con số trên 7,88 triệu lượt khám, chữa bệnh năm 2016 tăng lên trong năm 2019, đạt khoảng 8,5 triệu. Mức chi bình quân/thẻ tăng từ 177.756 đồng năm 2017 lên 248.375 trong năm 2018.

Tổng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu năm 2017 là 546 tỷ đồng, năm 2018 là trên 676 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong năm 2019 nhiều trường học không đảm bảo điều kiện về y tế học đường theo quy định tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP để được nhận kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Có thể thấy, các quy định mới về BHYT học sinh, sinh viên trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT từng bước được triển khai, dần phát huy hiệu quả, đi vào nền nếp. Khó khăn lớn nhất là trong năm học 2015-2016, khi bắt đầu thực hiện thu BHYT học sinh, sinh viên theo năm tài chính, công tác triển khai gặp áp lực nhất định. Tuy nhiên, với sự phối hợp chặt chẽ từ cơ quan BHXH và các trường học, tăng cường truyền thông, linh hoạt mức đóng… đến nay, việc thực hiện thu BHYT đã hiệu quả hơn. Tỷ lệ bao phủ BHYT với nhóm học sinh, sinh viên có bước tăng trưởng khá đều trong 03 năm gần đây, dù mức tăng trưởng không cao.

Đặc biệt, cùng với quá trình hiện đại hóa công tác quản lý của Ngành BHXH, khác với trước kia, với việc cấp mã số BHXH duy nhất, đồng bộ với mã thẻ BHYT, hiện nay, không cần phải in lại đồng loạt thẻ BHYT học sinh, sinh viên ở thời điểm đầu năm học. Thẻ BHYT cũ của các em học sinh, sinh viên vẫn được sử dụng, quyền lợi khám, chữa bệnh được đảm bảo ngay bằng việc kích hoạt gia hạn trên hệ thống phần mềm thu của cơ quan BHXH. Ngoài việc tiết kiệm được một khoản kinh phí in, cấp thẻ đầu mỗi năm học, cách làm này còn bảo đảm quyền lợi khám, chữa bệnh BHYT cho các em học sinh, sinh viên kịp thời hơn; hạn chế được tối đa các trường hợp chưa được thanh toán BHYT do chậm in, cấp thẻ.

Quyền lợi khám, chữa bệnh BHYT được đảm bảo, thể hiện qua số lượt khám, chữa bệnh, tổng chi từ Quỹ BHYT, mức chi BHYT bình quân/thẻ liên tục tăng qua các năm. Đặc biệt, nguồn kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu trích từ Quỹ BHYT đảm bảo cho y tế trường học – quyền lợi chỉ có ở nhóm học sinh, sinh viên, cũng liên tục tăng qua các năm.

Vấn đề đặt ra

Luật BHYT quy định BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc toàn dân, tuy nhiên vẫn chưa có biện pháp, chế tài xử lý cụ thể đối với nhóm chưa tham gia BHYT. Do đó các cơ sở giáo dục vẫn chưa có biện pháp ràng buộc học sinh, sinh viên phải tham gia BHYT, dẫn đến tỷ lệ tham gia BHYT còn chưa đồng đều tại một số địa phương.

Nhóm đối tượng học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề chưa tích cực tham gia BHYT (chủ yếu chỉ tham gia năm thứ nhất); do nhận thức của một bộ phận học sinh, sinh viên cho rằng họ ít ốm đau nên không tham gia BHYT. Việc phát triển đối tượng sinh viên tham gia BHYT vì vậy gặp nhiều khó khăn ở hầu hết các địa phương, dẫn đến tỷ lệ tham gia còn BHYT thấp. Chủ yếu học sinh tại các trường phổ thông tham gia đạt tỷ lệ cao.

Một số địa phương do ngân sách hạn hẹp nên chưa hỗ trợ thêm cho học sinh, sinh viên ngoài mức hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Điều kiện hoàn cảnh kinh tế của nhiều hộ gia đình có con em đi học còn khó khăn, không có tiền mua BHYT. Bên cạnh đó, một số học sinh, sinh viên thuộc các nhóm đối tượng khác như người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo, thân nhân công an, quân đội cơ yếu, người có công… không được nhà trường thống kê đầy đủ; nên số liệu thống kê học sinh, sinh viên thuộc nhóm đối tượng khác chưa chính xác.

Mức đóng BHYT học sinh, sinh viên hàng năm tăng do mức lương cơ sở điều chỉnh tăng sẽ là khó khăn đối với những gia đình còn khó khăn, đông con đi học. Nhiều hộ gia đình tuy không thuộc hộ nghèo hay cận nghèo nhưng khó khăn trong tham gia BHYT do thu nhập không ổn định nhưng đầu năm học phải đóng nhiều khoản thu theo yêu cầu của nhà trường ngoài việc đóng BHYT như học phí, trang phục, sách vở,…

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHYT học sinh, sinh viên ở một số nhà trường còn hạn chế, chưa được quan tâm đúng mức, một bộ phận học sinh, sinh viên chưa hiểu rõ trách nhiệm, quyền lợi và ý nghĩa của việc tham gia BHYT.

Một số sở Giáo dục và Đào tạo, phòng Giáo dục và Đào tạo chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm chỉ đạo triển khai BHYT học sinh tại các nhà trường, chưa quan tâm thích đáng đến công tác y tế trường học. Tại một số cơ sở giáo dục chỉ liệt kê số tiền đóng BHYT học sinh, sinh viên vào các khoản thu đầu năm học mà thiếu đi công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật BHYT cho học sinh, sinh viên…

Hoạt động y tế tại các trường học đạt hiệu quả chưa cao, nhiều trường chưa có cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm có đủ điều kiện theo quy định để được trích kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu, ảnh hưởng không nhỏ đến chăm sóc sức khỏe học đường; các trường còn lúng túng trong quản lý và sử dụng số kinh phí được trích chuyển tại nhà trường. Sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu không hiệu quả: phần lớn các trường hợp tai nạn thương tích, ốm đau tại nhà trường đều thông báo cho gia đình hoặc người thân đến để đưa đi bệnh viện do nhà trường không xử lý được.

Đề xuất kiến nghị

Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo từ Trung ương đến địa phương, đề nghị quán triệt mạnh mẽ chỉ tiêu tỷ lệ tham gia BHYT đạt 100% đối với từng cơ sở giáo dục; đưa tiêu chí đánh giá phân loại tổ chức cơ sở Đảng, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và việc chấp hành pháp luật của nhóm đối tượng này; đảm bảo hằng năm đạt 100% học sinh, sinh viên tham gia BHYT.

Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật BHYT đến học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh thông qua Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên, Đội Thiếu niên Tiền phong. Đặc biệt nhấn mạnh thực hiện BHYT không chỉ là quyền lợi và trách nhiệm công dân của mỗi học sinh, sinh viên mà còn thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của những chủ nhân tương lai của đất nước, khẳng định vai trò của BHYT trong bối cảnh viện phí điều chỉnh theo hướng tính đúng, tính đủ.

Các đơn vị liên quan cung cấp danh sách học sinh, sinh viên, bao gồm cả số có tham gia BHYT và chưa tham gia BHYT để cơ quan BHXH tuyên truyền, vận động tham gia; đồng thời có cơ sở phân bổ và sử dụng có hiệu quả, đúng quy định đối với kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Củng cố mạng lưới y tế học đường, có các giải pháp về nhân lực (bổ sung cán bộ y tế, ký hợp đồng với cơ sở y tế đủ điều kiện) để nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh, sinh viên.

Đối với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, cần quan tâm, tăng cường chỉ đạo hơn nữa việc thực hiện công tác BHXH, BHYT nói chung và BHYT học sinh, sinh viên nói riêng trên địa bàn. Không khen thưởng đối với các nhà trường nếu chưa hoàn thành tỷ lệ học sinh, sinh viên tham gia BHYT. Huy động nguồn kinh phí thuộc Ngân sách địa phương, nguồn tài trợ để hỗ trợ học sinh, sinh viên tham gia BHYT ngoài phần kinh phí đã được ngân sách Trung ương hỗ trợ.

Đề nghị nghiên cứu để nâng mức hỗ trợ đóng từ 30% đến 50% (trước mắt có thể thực hiện theo vùng kinh tế xã hội); tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong khám, chữa bệnh BHYT nhằm tạo thuận lợi cho người tham gia BHYT nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng khi đi khám, chữa bệnh; kiểm tra giám sát và có chế tài xử lý đối với trường hợp cơ sở khám, chữa bệnh thu thêm các chi phí đã kết cấu trong giá dịch vụ y tế, chi phí thuộc phạm vi thanh toán BHYT và hạn chế thu thêm các chi phí ngoài phạm vi thanh toán BHYT.

ThS Bs.Lê Văn Phúc

Trưởng ban Dược - Vật tư y tế

Phụ trách Ban THCS BHYT 

BHXH Việt Nam

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam