Thực hiện BHYT học sinh, sinh viên: Thành tựu, vấn đề đặt ra và giải pháp căn cơ, bền vững

05/09/2018 09:04:09
Trong lộ trình tiến đến BHYT toàn dân, HSSV là nhóm đối tượng được hướng đến đầu tiên bởi những yếu tố thuận lợi tập trung, dễ truyền thông giáo dục, độ tuổi trẻ, giàu lý tưởng và sức khỏe tốt. Thực hiện chính sách BHYT học sinh, sinh viên đồng nghĩa sẽ khôi phục hệ thống YTTH. Gần ¼ thế kỷ trôi qua với những thành tựu to lớn, chính sách BHYT học sinh, sinh viên được Nhà nước luật hóa bắt buộc tham gia với sự hỗ trợ 30 % mức đóng. Tuy nhiên, với ý nghĩa là nhóm đi trước trên lộ trình BHYT toàn dân, nhưng đến nay vẫn còn số ít HSSV chưa tham gia BHYT. Giải pháp nào để thực hiện hiệu quả, hoàn thành diện bao phủ BHYT học sinh, sinh viên trong thời gian tới?

Những thành tựu to lớn
Phải nói rằng chính những người tiên phong triển khai chính sách BHYT học sinh, sinh viên đã đi trước trong nhận thức, quỹ BHYT học sinh, sinh viên là nền tảng CSSK ban đầu cho học sinh thông qua hệ thống YTTH với nguồn kinh phí do quỹ BHYT học sinh, sinh viên trích lại. Những năm tháng đầu tiên khi triển khai chính sách BHYT học sinh, sinh viên vào trường học quả thật không dễ dàng, lúc đó chúng ta hoàn toàn không có các văn bản pháp lý chỉ đạo của Nhà nước. Ngoài ra, chúng ta phải cạnh tranh khốc liệt với những Công ty kinh doanh bảo hiểm dày dạn kinh nghiệm thương trường, với những phương thức khuyến mãi, trích hoa hồng hấp dẫn cho nhà trường. Họ sẵn sàng dùng mọi biện pháp đánh bật chúng ta ra khỏi trường học qua việc mua chuộc phụ huynh học sinh phản đối trong những hội nghị triển khai đầu năm học. Chúng ta thiếu thốn đủ mọi thứ, từ kinh phí, nhân lực còn mới mẻ chưa có kinh nghiệm, hệ thống tổ chức chưa ổn định. Trong khi xã hội vẫn còn nhiều định kiến không tốt về chính sách BHYT do một số người tham gia BHYT không được chăm sóc tốt khi đi khám chữa bệnh. Chúng ta chỉ có niềm tin vào một chính sách xã hội mới của Đảng và Nhà nước mang tính nhân văn, nhân đạo, cộng đồng sâu sắc vì sức khỏe tương lai con em chúng ta. Chính niềm tin đó đã động viên, thúc đẩy những người làm công tác BHYT mạnh mẽ quyết tâm hơn trong việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục các Bộ, Ngành, đoàn thể, các cấp chính quyền địa phương và Nhân dân tham gia, đồng tình và ủng hộ chính sách BHYT.
Ý tưởng cạnh tranh với các Công ty kinh doanh bảo hiểm và muốn cho phụ huynh tin tưởng rằng việc tham gia BHYT có lợi cho học sinh là con em của họ, cần phải có hệ thống YTTH có cán bộ y tế chuyên trách, chăm sóc sức khỏe ban đầu và là đầu mối làm Đại lý thu phí BHYT. Đây là cách thức tổ chức mà không có Công ty kinh doanh bảo hiểm nào làm được. Đây cũng là điểm mạnh và thuận lợi nhất do chính sách BHYT học sinh, sinh viên tạo ra, thực tế gần ¼ thế kỷ qua đã chứng minh chính sách BHYT học sinh, sinh viên và hệ thống YTTH có tác động lẫn nhau trong lộ trình BHYT toàn dân. Nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã xây dựng Đề án thí điểm thực hiện YTTH có cán bộ y tế chuyên trách hưởng lương từ quỹ BHYT trích lại được các cấp chính quyền, ngành GD-ĐT, ngành Y tế địa phương chấp nhận, mặc dù vẫn có nhiều ý kiến lo ngại kinh phí trích lại không đủ trả lương và phụ cấp cho nhân viên y tế trường học. Tuy nhiên, bằng sự tận tâm, nhẫn nại thuyết phục của người làm công tác BHYT vì mục đích cao đẹp thiết thực của BHYT học sinh, sinh viên, cái lợi của YTTH, Đề án của nhiều tỉnh, thành được chấp nhận thí điểm ở những trường có số lượng học sinh và nguồn thu lớn. Thực tiễn chứng minh trước năm 1992, toàn quốc chưa có hệ thống YTTH trong nhà trường, sau năm 1992 nhiều trường học trong toàn quốc đã thí điểm thành công hệ thống YTTH chuyên trách hoạt động nhờ quỹ BHYT học sinh, sinh viên trích lại. Tên gọi BHYT HSSV gắn liền với YTTH đã hình thành từ đó cho đến nay. Năm 1994, GS. Trần Xuân Nhĩ, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT thời đó đã có bài viết trên báo nhân dân: “Khôi phục lại YTTH là mục tiêu chính của BHYT”, nhận thấy vai trò quan trọng của chính sách BHYT HSSV và công tác YTTH, liên Bộ GD&ĐT và Bộ Y tế đã ra Thông tư số 14/1994/TT-GD-ĐT-YT về BHYT tự nguyện HSSV và sau đó thay thế bằng Thông tư số 40/1998/TT-GD-ĐT-YT về công tác BHYT học sinh và YTTH, đến năm 2000 ban hành Thông tư số 03/2000/TTLT-BYT-GD-ĐT hướng dẫn công tác YTTH, sau khi có kết quả từ Đề án thí điểm ở một số tỉnh, thành về công tác BHYT học sinh, sinh viên gắn với tổ chức hệ thống YTTH. Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất thời đó về công tác BHYT học sinh và YTTH. Tuy nhiên, sau khi Thông tư ban hành, việc triển khai BHYT học sinh và YTTH trong toàn quốc nảy sinh nhiều khó khăn, nhiều trường học có số học sinh ít, kinh phí trích lại từ quỹ BHYT học sinh không đủ trả lương và hoạt động, YTTH đứng trước nguy cơ phải dừng lại. Trước những khó khăn như vậy, nhưng với sự tận tâm đam mê nghề nghiệp, những người làm công tác BHYT trong cả nước phải tiếp tục tuyên truyền, vận động các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, đoàn thể và Nhân dân tiếp tục triển khai. Đến năm 2006, đáp lại mong ước của những người làm công tác BHYT học sinh và YTTH, ngày 12/7/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 23/2006/CT-TTg về việc tăng cường công tác y tế trong trường học. Đây chính là mệnh lệnh tối cao của Chính phủ bắt buộc ngành GD-ĐT, Y tế và chính quyền các cấp phải thực hiện trước tình hình khó khăn khi triển khai chính sách BHYT học sinh và YTTH lúc bấy giờ. Có những chính sách sau khi thí điểm bắt buộc phải dừng lại vì không phù hợp với thực tiễn, nhưng với chính sách BHYT học sinh và YTTH tuy gặp khó khăn, nhưng không dừng lại và Chính phủ yêu cầu phải tiếp tục triển khai thực hiện. Đây là bước thành công đầu tiên và thành tựu to lớn trong viêc phát triển BHYT học sinh.
Chỉ thị số 23/2006/CT-TTg về tăng cường công tác y tế trường học của Thủ tướng Chính phủ là động lực quan trọng lôi kéo ngành GD-ĐT và chính quyền các cấp tham gia phát triển củng cố hệ thống YTTH về nguồn nhân lực, trang thiết bị y tế và kinh phí. Thông qua những kết quả đạt được từ việc triển khai Chỉ thị số 23, toàn quốc đã gia tăng số lượng HSSV tham gia BHYT tự nguyện. Với con số khiêm tốn HSSV tham gia BHYT năm học 1995 chỉ đạt 1,7%, thì năm học 1996 đã lên con số trên 2,5 triệu, đạt tỷ lệ 14,7% HSSV toàn quốc, con số này tăng “đột biến” vào năm 2006 với gần 7 triệu HSSV, đạt 45% tổng số toàn quốc. Từ năm 2007 đến 2009 số HSSV tham gia trên 10,7 triệu em, đạt 60%. Tuy nhiên, đến năm 2010 tình hình tham gia BHYT học sinh, sinh viên đã giảm mạnh chỉ còn 7,8 triệu em tham gia đạt 46%. Trước tình hình sụt giảm số lượng HSSV tham gia BHYT do công tác chỉ đạo phối hợp giữa các ngành liên quan chưa đồng bộ, nhất là sự chỉ đạo của Sở GĐ-ĐT ở một số địa phương còn xem nhẹ công tác BHYT tự nguyện, thậm chí xem đó là nhiệm vụ của cơ quan BHXH. Ở bậc đại học chỉ vận động sinh viên năm thứ nhất, không tổ chức theo dõi các em tham gia BHYT vào những năm tiếp theo nên số lượng sụt giảm. Thế là sau gần 17 năm triển khai BHYT học sinh, sinh viên và YTTH bằng các văn bản dưới Luật cho thấy tình hình không đáp ứng như mong đợi. Năm học 2010-2011, BHYT học sinh, sinh viên đã được Luật hóa vào diện bắt buộc phải tham gia với sự hỗ trợ mức đóng của nhà nước. Sau 5 năm HSSV tham gia BHYT bắt buộc theo luật, năm 2015 số HSSV tham gia trên 13,5 triệu em, đạt 75% HSSV toàn quốc, hệ thống YTTH có cán bộ y tế chuyên trách có hầu hết các trường học. Đến nay, tuy số HSSV tham gia BHYT đạt 92,5%, tương ứng khoảng 15,9 triệu em, là một thành tựu to lớn, khẳng định sự phát triển đúng hướng, vượt bậc của BHYT với đối tượng quan trọng này.

Vấn đề đặt ra và những giải pháp căn cơ, bền vững
Chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của sức khỏe HSSV trong mục tiêu giáo dục toàn diện và cũng là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, gia đình và toàn xã hội. Học sinh là đối tượng tập trung, dễ quản lý và huy động tham gia BHYT hơn các đối tượng khác. Nếu không làm tốt BHYT HSSV thì khó thành công lộ trình BHYT toàn dân. Tuy nhiên sau 17 năm triển khai BHYT học sinh, sinh viên tự nguyện và 8 năm triển khai BHYT học sinh, sinh viên bắt buộc, tình hình tham gia BHYT học sinh, sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu bao phủ 100%. Trước đây, trong Hội nghị trực tuyến về công tác BHYT 6 tháng đầu năm 2015, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đặt ra câu hỏi: tại sao sau 5 năm thực hiện BHYT học sinh, sinh viên theo Luật BHYT mà cho đến nay vẫn mới chỉ có 85% HSSV tham gia. Và câu hỏi đó vẫn tiếp tục đưa ra cho chúng ta đến năm 2017, tại sao HSSV tham gia BHYT diện bắt buộc lại được Nhà nước hỗ trợ mức đóng 30%, thế nhưng tỷ lệ chỉ đạt 92,5%, hiện vẫn còn đến 7,5% số HS- SV chưa tham gia BHYT. Đây là câu hỏi đặt ra, nhiệm vụ “cốt lõi” trong việc phát triển chính sách BHYT học sinh, sinh viên từ năm 2018 trở đi, đòi hỏi chúng ta phải đưa ra những giải pháp mang tính căn cơ, bền vững.
Vai trò nhận thức của mỗi cán bộ lãnh đạo trong các cấp chính quyền, các ngành liên quan tại địa phương cần phải được quán triệt sâu sắc nhất là khâu tổ chức thực hiện. Chúng ta đã có đầy đủ các văn băn chỉ đạo của Đảng từ Bộ Chính trị đến các cấp ủy đảng địa phương, các Bộ, ngành và các cấp chính quyền về công tác BHYT nói chung và BHYT học sinh, sinh viên nói riêng. Điều quan trọng bây giờ là nhận thức trong tổ chức thực hiện, cần sự đồng thuận, quyết tâm cao để hoàn thành bao phủ BHYT học sinh, sinh viên trước năm 2020. Cần xây dựng kế hoạch chỉ tiêu cụ thể từ nay đến 2020 bao phủ 100% HSSV tham gia BHYT và được xem như là một chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước.
Chúng ta được Chính phủ giao chủ trì việc tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm chính về kết quả thực hiện chính sách BHYT nói chung, BHYT học sinh, sinh viên nói riêng. Không thể bằng lòng với kết quả hiện tại, cần nghiên cứu phát hiện những vấn đề bất cập thực tiễn trong từng địa phương để có giải pháp lâu dài. Tất nhiên, BHXH các địa phương phải tìm ra vấn đề và đưa ra các giải pháp cụ thể cho địa phương mình mới hy vọng bao phủ số HSSV còn lại. Theo số liệu thống kê cho thấy, hầu hết các địa phương số học sinh tham gia đạt từ 94% đến 99%, nhưng số sinh viên bậc đại học, cao đẳng, trung học nghề chỉ đạt từ 64% đến 75%. Như vậy, tỷ lệ HSSV chưa tham gia còn lại chủ yếu ở bậc đại học. Thiết nghĩ Bộ GD- ĐT đưa chỉ tiêu tham gia BHYT 100% tại các trường đại học, cao đẳng; Bộ LĐ-TB&XH có văn bản giao chỉ tiêu phát triển BHYT cho các trường nghề, trung học nghề. Lấy tiêu chí BHYT học sinh, sinh viên đánh giá bình xét thi đua từ khoa, phòng đến từng lớp học và khu vực trường nghề. Các trường Đại học, cao đẳng tại địa phương tăng cường công tác phổ biến giáo dục chính sách pháp luật BHYT đến từng sinh viên, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của một công dân trí thức gương mẫu, vận động tuyên truyền với các hình thức phù hợp với lứa tuổi sinh viên.
Ngành BHXH cần cải cách thủ tục hành chính về thu, đóng phí và cấp thẻ BHYT đơn giản thuận tiện cho sinh viên trong quá trình học. Phối hợp với ngành y tế tổ chức cho các em ưu tiên đăng ký KCB ban đầu ở những bệnh viện gần trường học nhằm CSSK cho các em được nhanh chóng thuận lợi. Đề nghị Chính phủ có cơ chế chính sách cho sinh viên khi tham gia BHYT như hỗ trợ vay tín dụng, huy động các nguồn lực cộng đồng xã hội mua thẻ cho các em HSSV có hoàn cảnh khó khăn. Thay đổi cơ chế hỗ trợ mua thẻ 30% bằng cách tăng 50% cho những vùng khó khăn và giảm 20% ở những vùng kinh tế phát triển hơn.
Mặc dù chỉ còn số ít HSSV chưa tham gia BHYT, nhưng đây là số HSSV diện bắt buộc nằm trong lộ trình BHYT toàn dân nên có một ý nghĩa rất quan trọng. Mục đích đã gần đạt được, tuy nhiên để đạt mục đích bao phủ 100% HSSV tham gia BHYT, ngành BHXH cần huy động quyết liệt hơn để có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các cấp chính quyền, nhà trường và toàn xã hội./.

 

BS Hà Thúc Chí

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam