Tiền lương sẽ trở thành thu nhập chính, đảm bảo đời sống của người lao động

30/01/2019 15:16:07
Năm 2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong chính sách tiền lương của nước ta. Hệ thống bảng lương mới được thiết kế theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo. Tiền lương sẽ trở thành thu nhập chính, phản ánh đầy đủ thu nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình. Nhân dịp đầu Xuân mới, đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã dành cho phóng viên Tạp chí BHXH cuộc trao đổi về vấn đề này.

Nước ta đã trải qua 4 lần cải cách chính sách tiền lương vào các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm 2003. Xin đồng chí cho biết những kết quả quan trọng cũng như thực trạng chính sách tiền lương ở nước ta?

Đồng chí Ngọ Duy Hiểu: Sau 4 lần tiến hành cải cách vào các năm 1960, 1985, 1993 và 2003, chính sách tiền lương của Việt Nam đã từng bước được cải thiện, góp phần nâng cao đời sống của người hưởng lương.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, chính sách tiền lương của nước ta vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần sớm khắc phục. Cụ thể: Tiền lương trong khu vực công còn phức tạp, vẫn mang nặng tính bình quân, chưa đảm bảo sự công bằng, chưa phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm, chức vụ, chức danh; không có tác dụng thu hút người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Nhiều đối tượng cán bộ lãnh đạo vẫn được xếp lương theo chuyên môn, ngạch bậc, dẫn đến bất cập trong thu nhập của các chức danh lãnh đạo, quản lý. Việc nâng bậc, nâng ngạch, thăng hạng lương chủ yếu dựa vào bằng cấp đào tạo và thâm niên công tác, chưa gắn với nhiệm vụ cụ thể của vị trí việc làm và kết quả thực thi nhiệm vụ. Việc quy định mức lương bằng hệ số chỉ là biện pháp tình thế, nhưng đã kéo dài nhiều năm làm triệt tiêu ý nghĩa tiền lương, làm sai lệch ý nghĩa của tiền lương là giá trị trả cho công sức người hưởng.

Trong khu vực doanh nghiệp, tiền lương của người lao động chưa thực sự gắn với năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của người lao động. Chưa phát huy được vai trò, tác dụng của cơ chế thương lượng, định đoạt tiền lương giữa người sử dụng lao động và người lao động. Mức lương tối thiểu có độ bao phủ còn hẹp. Các can thiệp hành chính không hợp lý đã hạn chế cơ chế đối thoại, thỏa thuận giữa doanh nghiệp và người lao động là cơ chế phổ biến trong nền kinh tế thị trường.

Ngày 21/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 27- NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương. Xin đồng chí cho biết, những điểm mới căn bản trong cải cách chính sách tiền lương lần này?

Đồng chí Ngọ Duy Hiểu: Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã xác định: Chính sách tiền lương là một chính sách đặc biệt quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội. Tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính bảo đảm đời sống người lao động và gia đình người hưởng lương; trả lương đúng là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, tạo động lực nâng cao năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội; thúc đẩy chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

Nghị quyết đã xác định những nội dung cải cách căn bản về chính sách tiền lương cho giai đoạn tới. Cụ thể:

Đối với khu vực công: Thứ nhất, thiết kế cơ cấu tiền lương mới gồm: Lương cơ bản (chiếm khoảng 70% tổng quỹ lương) và các khoản phụ cấp (chiếm khoảng 30% tổng quỹ lương), bổ sung tiền thưởng (quỹ tiền thưởng bằng khoảng 10% tổng quỹ tiền lương của năm, không bao gồm phụ cấp).

Thứ hai, xây dựng, ban hành hệ thống bảng lương mới theo vị trí việc làm, chức danh và chức vụ lãnh đạo thay thế hệ thống bảng lương hiện hành; chuyển xếp lương cũ sang lương mới, bảo đảm không thấp hơn tiền lương hiện hưởng.

Thứ ba, xác định các yếu tố cụ thể để thiết kế bảng lương mới gồm: Bãi bỏ mức lương cơ sở và hệ số lương hiện nay, xây dựng mức lương cơ bản bằng số tiền cụ thể trong bảng lương mới. Mức tiền lương thấp nhất của công chức, viên chức trong khu vực công là mức tiền lương của người làm công việc yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp (bậc 1) không thấp hơn mức tiền lương thấp nhất của lao động qua đào tạo trong khu vực doanh nghiệp.

Thứ tư, sắp xếp lại các chế độ phụ cấp hiện hành, bảo đảm tổng quỹ phụ cấp chiếm tối đa 30% tổng quỹ lương. Tiếp tục áp dụng phụ cấp kiêm nhiệm, thâm niên vượt khung, khu vực, trách nhiệm công việc, lưu động, phục vụ an ninh, quốc phòng và phụ cấp đặc thù đối với lực lượng vũ trang (quân đội, công an, cơ yếu).

Thứ năm, gộp phụ cấp ưu đãi, trách nhiệm theo nghề và phụ cấp độc hại, nguy hiểm (gọi chung là phụ cấp theo nghề) áp dụng đối với công chức, viên chức của những nghề, công việc có yếu tố điều kiện lao động cao hơn bình thường và có chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà nước (giáo dục và đào tạo, y tế, tòa án, kiểm sát, thi hành án dân sự, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, hải quan, kiểm lâm, quản lý thị trường ...).

Thứ sáu, gộp phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút và trợ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thành phụ cấp công tác ở vùng đặc biệt khó khăn.

Thứ bảy, bãi bỏ phụ cấp thâm niên nghề (trừ quân đội, công an, cơ yếu để bảo đảm tương quan tiền lương với cán bộ, công chức); phụ cấp chức vụ lãnh đạo (do các chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị thực hiện xếp lương chức vụ); phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị - xã hội; phụ cấp công vụ (do đã đưa vào trong mức lương cơ bản); phụ cấp độc hại, nguy hiểm (do đã đưa điều kiện lao động có yếu tố độc hại, nguy hiểm vào phụ cấp theo nghề).

Đối với người lao động trong doanh nghiệp:

Thứ nhất, về mức lương tối thiểu vùng, tiếp tục hoàn thiện chính sách về tiền lương tối thiểu vùng theo tháng, bổ sung quy định mức lương tối thiểu vùng theo giờ nhằm nâng cao độ bao phủ của tiền lương tối thiểu và đáp ứng tính linh hoạt của thị trường lao động.

Thứ hai, điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, đặt trong mối quan hệ với các yếu tố của thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội (cung - cầu lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, năng suất lao động, việc làm, thất nghiệp, khả năng chi trả của doanh nghiệp...).

Thứ ba, các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước) được tự quyết định chính sách tiền lương (trong đó có thang, bảng lương, định mức lao động) và trả lương không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước công bố và trên cơ sở thỏa ước lao động tập thể phù hợp với tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, khả năng của doanh nghiệp và công khai tại nơi làm việc.

Thứ tư, Nhà nước công bố mức lương tối thiểu vùng theo tháng và theo giờ, tiền lương bình quân trên thị trường đối với các ngành nghề và hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường lao động, không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp. Doanh nghiệp và người lao động thương lượng, thỏa thuận tiền lương, ký hợp đồng lao động và trả lương gắn với năng suất và kết quả lao động.

Thứ năm, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nhà nước quy định nguyên tắc chung để xác định tiền lương và tiền thưởng đối với doanh nghiệp nhà nước gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh, hướng đến bảo đảm mặt bằng tiền lương trên thị trường. Thực hiện giao khoán chi phí tiền lương, bao gồm cả tiền thưởng trong quỹ lương gắn với nhiệm vụ, điều kiện sản xuất kinh doanh, ngành nghề, tính chất hoạt động của doanh nghiệp; từng bước tiến tới thực hiện giao khoán, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh gắn với kết quả, hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp.

- Đối với doanh nghiệp làm nhiệm vụ bình ổn thị trường theo nhiệm vụ được Nhà nước giao thì tính toán, xác định để loại trừ những chi phí bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường, làm cơ sở xác định tiền lương, thưởng của người lao động, quản lý doanh nghiệp.

- Đối với doanh nghiệp dịch vụ công ích, Nhà nước tính đúng, tính đủ chi phí tiền lương phù hợp với mặt bằng thị trường, giá sản phẩm, dịch vụ công ích.

Là cơ quan chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, nhân dịp Tết đến Xuân về, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đã có chương trình, kế hoạch hỗ trợ cho người lao động được đón Tết như thế nào, thưa đồng chí?

Đồng chí Ngọ Duy Hiểu: Để tổ chức và triển khai thực hiện tốt các hoạt động chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đoàn viên và người lao động nhân dịp đón Tết Nguyên đán Kỷ Hợi - 2019, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn đã ban hành Kế hoạch chăm lo Tết cho đoàn viên, người lao động nhân dịp Tết Kỷ Hợi 2019 và Công văn về điều chỉnh tiền lương theo Nghị định 157 về tiền lương tối thiểu vùng để thực hiện trong toàn hệ thống Công đoàn Việt Nam với các hoạt động trọng tâm:

- Công đoàn các cấp giám sát, kiến nghị người sử dụng lao động trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện làm việc, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, làm thêm giờ, không để người sử dụng lao động lợi dụng buộc người lao động tăng ca, làm thêm giờ, không được nghỉ Tết hoặc nghỉ Tết ít hơn thời gian luật định.

- Chủ động đôn đốc, giám sát việc thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng trong dịp Tết; kịp thời phát hiện và có các đề xuất, giải pháp đảm bảo quyền lợi của người lao động ở các doanh nghiệp gặp khó khăn, chủ bỏ trốn hoặc giải thể, phá sản.

- Tổ chức các hoạt động đưa đoàn viên, người lao động về quê ăn Tết (chuyến tầu, chuyến xe…) đảm bảo đúng đối tượng, chu đáo, an toàn.

- Tổ chức các hoạt động Tết cho đoàn viên, người lao động không có điều kiện về quê nghỉ Tết đảm bảo vui tươi, chu đáo, ấm áp, nghĩa tình. Phấn đấu không có đoàn viên nào không có Tết.

- Tổ chức Tết Sum vầy ở các cấp công đoàn, huy động các doanh nghiệp và toàn xã hội chăm lo cho người lao động, tạo điểm nhấn đặc biệt về hoạt động chăm lo Tết hàng năm.

- Tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà cho đoàn viên, người lao động kịp thời, ý nghĩa, đảm bảo đúng đối tượng. Tham mưu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà công nhân có hoàn cảnh khó khăn và người lao động có thành tích đặc biệt trong sản xuất và chiến đấu.

- Phối hợp xử lý kịp thời, hiệu quả những phát sinh liên quan đến quyền lợi của đoàn viên, người lao động xảy ra trong dịp Tết.

- Tuyên truyền, vận động đoàn viên, người lao động đón Tết, vui xuân tiết kiệm, an toàn, chấp hành các quy định của pháp luật và trở lại làm việc đúng thời gian quy định. Đối với công nhân lao động phải trực, làm ca, kíp không có điều kiện nghỉ Tết phải thực hiện tốt nhiệm vụ, đảm bảo an toàn lao động.

Quan điểm xuyên suốt là mọi đoàn viên, người lao động đều được vui Xuân, đón Tết. Sự chăm lo, hỗ trợ của tổ chức công đoàn các cấp giúp mọi người có Tết và Tết thêm sum vầy. Năm nay số lượng kinh phí, quà tặng chăm lo Tết dự kiến tăng ít nhất 30% so với năm 2017. Số người được chăm lo, hỗ trợ tăng ít nhất 20%./.

Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Thu Hương (thực hiện)

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam