Tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH: Từ quy định của pháp luật & Yêu cầu thực tiễn

27/11/2017 01:19:58

Ảnh minh họa

Cơ sở pháp lý về tiền lương tháng đóng BHXH
Quy định về căn cứ đóng BHXH đã được quy định tương đối đầy đủ trong Luật Lao động 2012, Luật BHXH 2014 và hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện.
Cụ thể, nội dung này đã được thể hiện rõ tại Khoản 2 Điều 89 Luật BHXH năm 2014:
Đối với người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động.
Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định.
Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ Qui định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc có nêu rõ hơn:
1. Từ ngày 01 /01/2016 đến ngày 31/12/2017, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động.
2. Từ ngày 01/01/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động.
Như vậy, để xem xét tiền lương tháng đóng BHXH, có 03 yếu tố cần quan tâm: mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Và điểm khác biệt được thực hiện từ năm 2018 là: tiền lương tháng đóng BHXH sẽ bao gồm cả “các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động”; trong khi trước đó, từ 01/01/2016 đến ngày 31/12/2017 thì tiền lương tháng đóng BHXH chỉ bao gồm mức lương và phụ cấp lương.
Khái niệm “mức lương”, “phụ cấp lương”, “các khoản bổ sung khác” cũng đã được các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Lao động quy định cụ thể. Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật lao động:
- Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương do người sử dụng lao động xây dựng theo quy định tại Điều 93 của Bộ luật Lao động. Mức lương đối với công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động và thời giờ làm việc bình thường (không bao gồm khoản tiền trả thêm khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
- Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh;
(Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH ngày 29/12/2015 của Bộ Lao động & Thương binh và xã hội Quy định và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định các loại phụ cấp bao gồm 08 loại: phụ cấp chức vụ, chức danh; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thâm niên; phụ cấp khu vực; phụ cấp lưu động; phụ cấp thu hút và các phụ cấp có tính chất tương tự).
- Các khoản bổ sung khác là khoản tiền bổ sung ngoài mức lương, phụ cấp lương và có liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động, trừ tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.
Như vậy, từ quy định về “các khoản bổ sung khác”, có thể thấy từ năm 2018, tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH không phải là tổng thu nhập của người lao động bởi nó không bao gồm tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, các khoản hỗ trợ, trợ cấp của người sử dụng lao động không liên quan đến thực hiện công việc hoặc chức danh trong hợp đồng lao động.
Cũng liên quan đến mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, Khoản 3 Điều 30 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH 2014 về BHXH bắt buộc nêu rõ hơn nữa:
Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như
+ Tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao động,
+ Tiền thưởng sáng kiến;
+ Tiền ăn giữa ca;
+ Các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ;
+ Hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
+ Các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động theo khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.
Như vậy, từ những phân tích, căn cứ các điều, khoản trong các văn bản hướng dẫn thực hiện đã nêu, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc không bao gồm tất cả các khoản phụ cấp, khoản bổ sung khác mà chỉ là một số khoản có thể xác định được trước và cố định hàng tháng.
Một lần nữa cần nhấn mạnh rằng: tiền lương tháng đóng BHXH không phải là toàn bộ thu nhập của người lao động như ý kiến gần đây của một số doanh nghiệp.
 
Bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người lao động
Quy định “tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương các khoản bổ sung khác” là một trong những điểm mới của Luật BHXH 2014, được xây dựng dựa trên yêu cầu từ thực tiễn quá trình thực hiện chính sách, pháp luật BHXH trong giai đoạn trước đó, từ năm 2007 đến 2015.   
Theo đó, trong nhiều đợt kiểm tra, thanh tra, phát hiện tiền lương tháng đóng BHXH tại nhiều doanh nghiệp ở mức rất thấp, bằng mức lương tối thiểu vùng và nguy hại hơn là không theo đúng mức lương đã trả cho người lao động.
Người sử dụng lao động thực hiện hành vi này nhằm mục đích giảm bớt chi phí đóng BHXH vốn thuộc trách nhiệm của họ; ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động bởi mức hưởng BHXH, BHTN sẽ thấp hơn số thực tế họ được hưởng. Việc này thường xảy ra phổ biến ở khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... Thực tế có không ít người sử dụng lao động sử dụng hai hệ thống sổ lương khác nhau, một hệ thống dùng để chi trả lương thực tế cho người lao động, thường là tương ứng với sức lao động; một hệ thống khác dùng để đăng ký tham gia, làm cơ sở tính mức đóng BHXH, BHTN, trong nhiều trường hợp chỉ bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng một chút. Từ quá trình kiểm tra của cơ quan BHXH cho thấy đã từng có trường hợp số tiền lương thực hưởng của người lao động cao gấp 06 lần tiền lương được doanh nghiệp khai báo làm cơ sở đóng BHXH và chỉ bằng mức lương tối thiểu vùng. Trong khi đó, theo quy định tại Điểm b, khoản 3, Điều 7 Nghị định 49/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương, mức lương thấp nhất của công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua đào tạo, học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
Có trường hợp người lao động làm công việc thuộc danh mục nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nhưng tiền lương đóng BHXH cũng chỉ bằng các trường hợp làm nghề thông thường dù tiền lương thực tế được hưởng cao hơn (trong khi theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 7 Nghị định 49/2013/NĐ-CP nêu trên, mức lương của công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường).
Theo kết quả điều tra về lao động, tiền lương và BHXH trong các loại hình doanh nghiệp năm 2011 do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện thì mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHTN bình quân chỉ bằng 59% mức tiền lương, tiền công bình quân người lao động thực nhận. Điều này dẫn tới hệ lụy là người lao động khi phát sinh hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn (ốm đau, thai sản) hay nghỉ hưu, sẽ có mức thu nhập thấp hơn rất nhiều so với mức thu nhập khi đi làm, không bảo đảm được cuộc sống.
Chính xuất phát từ thực tế trên nên trong quá trình xây dựng, sửa đổi Luật BHXH, các nhà xây dựng luật đã quy định chi tiết hơn về tiền lương tháng đóng BHXH, thể hiện cụ thể tại Khoản 2 Điều 89 Luật BHXH năm 2014 như đã nêu. Thực tế trong quá trình soạn thảo luật, việc tác động khi triển khai thực hiện cũng đã được dự báo, tính đến, nhất là đối với cộng đồng doanh nghiệp. Cũng chính vì lo ngại tác động mạnh đến cộng đồng doanh nghiệp nên trong Luật cũng đã quy định rõ lộ trình triển khai thực hiện; chia làm 02 giai đoạn, thực hiện từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2017 và từ ngày 01/01/2018 trở đi.
Như đã biết, chính sách, pháp luật BHXH ở mọi quốc gia đều được xây dựng theo những nguyên tắc cơ bản, trong đó, quan trọng nhất là phải bảo đảm nguyên tắc có đóng, có hưởng. Như vậy, tiền lương tháng đóng BHXH sẽ là cơ sở để xác định mức hưởng các chế độ BHXH của người lao động; bao gồm các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và hưu trí. Tiền lương tháng đóng BHXH ở mức thấp, không theo đúng thực tế tiền lương hàng tháng thì người lao động sẽ bị thiệt thòi; mức hưởng các chế độ như vừa nêu sẽ ở mức thấp là điều thấy rõ và tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến An sinh của mỗi người lao động nói riêng và của cả cộng đồng nói chung. Thực tế, có không ít người về hưu phàn nàn rằng: lương hưu thấp, lương hưu không đủ sống… một trong những nguyên nhân chính là việc tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH trong quá trình đi làm thường ở mức thấp.
Xuất phát từ thực tế này, hướng tới mục tiêu bảo đảm vững chắc An sinh xã hội dài hạn, bền vững, Luật BHXH 2014 đã quy định một cách chi tiết hơn về tiền lương tháng đóng BHXH một cách chặt chẽ hơn, theo đúng nguyên tắc đóng – hưởng của chính sách BHXH đã được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện từ cách đây mấy trăm năm.../.

 

ThS. Nguyễn Trí Đại
Trưởng ban Thu, BHXH Việt Nam

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam