Về tuổi nghỉ hưu của người lao động trong dự thảo Sửa đổi Bộ Luật Lao động năm 2012

12/10/2017 02:28:55

Ảnh minh họa

Tuổi nghỉ hưu theo pháp luật hiện hành
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Luật BHXH (sửa đổi), tuổi nghỉ hưu của người lao động thuộc lực lượng dân sự tại Việt Nam hiện nay được chia thành các nhóm sau:
Nhóm 01: Người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.
Nhóm 02: Người lao động có đủ 15 năm làm việc ở vùng có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên hoặc có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành (nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi).
Nhóm 03: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%:
- Nếu nghỉ hưu năm 2017: Nam đủ 52 tuổi, nữ đủ 47 tuổi.
- Nếu nghỉ hưu năm 2018: Nam đủ 53 tuổi, nữ đủ 48 tuổi.
- Nếu nghỉ hưu năm 2019: Nam đủ 54 tuổi, nữ đủ 49 tuổi.
- Nếu nghỉ hưu từ năm 2020 trở đi: Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi.
Nhóm 04: Người lao động có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò, người lao động suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên: Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi.
Nhóm 05: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành; Trường hợp người lao động bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp không quy định độ tuổi (tuổi của người lao động không phải là điều kiện khi giải quyết chế độ hưu trí hằng tháng).
Nhóm 06: Một số đối tượng người lao động được kéo dài thời gian làm việc (thời gian công tác) khi đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Khoản 3 Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2012. Hiện nay mới có hướng dẫn thực hiện cho người lao động là giảng viên thuộc biên chế trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013; một số chức danh thuộc ngành tòa án, viện kiểm sát theo Nghị định số 153/2015/NĐ-CP ngày 29/05/2015; người có các chức danh khoa học, chức danh công nghệ theo Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/05/2014. Tuy nhiên, từ các văn bản này cho thấy nhóm đối tượng vẫn còn bó hẹp chưa bao phủ hết nội dung của Khoản 3 Điều 187 Bộ luật Lao động
năm 2012.

Các quan điểm về tuổi nghỉ hưu
Trong quá trình rà soát, thảo luận và xin ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2012, có nhiều quan điểm về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động thuộc Nhóm 01 và Nhóm 02, có thể kể đến:
- Giữ nguyên quy định tuổi nghỉ hưu như hiện nay vì quy định này đã được thực hiện ổn định ở Việt Nam trong nhiều năm, nếu có sự thay đổi sẽ gây xáo trộn về quyền lợi và đời sống của bản thân, gia đình người lao động. Điều quan trọng là Nhà nước phải quản lý được lao động và thu nhập trên thị trường lao động, thu đúng, đủ tiền BHXH theo đúng quy định của Luật BHXH (sửa đổi) thì khả năng mất cân đối quỹ hưu trí và tử tuất như đã từng dự báo sẽ được đẩy lùi.
- Nâng tuổi nghỉ hưu của cả người lao động nam và nữ theo lộ trình, theo hướng cứ mỗi năm tăng một số tháng cho đến khi đạt được độ tuổi theo mục tiêu; tính toán tốc độ nâng hợp lý giữa người lao động nam và nữ để vừa đảm bảo thực hiện bình đẳng giới trong chế độ hưu trí, vừa phù hợp với các yếu tố đặc thù sinh học của từng giới.
- Giữ nguyên độ tuổi của lao động nam như hiện nay, nâng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ lên bằng tuổi nghỉ hưu của lao động nam để đảm bảo sự bình đẳng về giới trong chế độ hưu trí.
- Nâng tuổi nghỉ hưu đồng loạt lên 05 tuổi để đảm bảo phù hợp với thực trạng và xu hướng già hóa dân số hiện nay và trong tương lai, đồng thời đảm bảo cân đối thu – chi của quỹ bảo hiểm hưu trí và tử tuất, tránh xảy ra tình trạng mất cân đối quỹ như dự báo.
- Giữ nguyên độ tuổi như quy định hiện nay, kết hợp với việc mở rộng đối tượng được kéo dài thời gian làm việc (thời gian công tác) khi đến tuổi nghỉ hưu. Lý do của quan điểm này tương tự quan điểm thứ nhất, tuy nhiên với việc mở rộng các đối tượng được kéo dài thời gian làm việc sẽ có tác dụng đáp ứng được nguyện vọng của nhiều người lao động hơn nếu chưa muốn nghỉ hưu khi đạt tuổi chuẩn của chế độ hưu trí, vừa tăng thu, giảm chi cho Quỹ bảo hiểm hưu trí và tử tuất.

Dự kiến quy định tuổi nghỉ hưu theo Dự thảo Sửa đổi Bộ Luật lao động
Dự thảo Sửa đổi Bộ luật Lao động tháng 05/2017 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng dự kiến 02 phương án quy định tuổi nghỉ hưu như sau:
“Điều 148. Tuổi nghỉ hưu
1. Phương án 01 (hiện hành): Tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.
Phương án 02 (tăng tuổi nghỉ hưu kể từ 01/01/2021 và theo lộ trình): Tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Từ 01/01/2021 cứ mỗi năm tăng thêm 06 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.
2. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc, nghề nghiệp đặc thù có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại khoản 1 Điều này.
Chính phủ quy định chi tiết Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này”.
Như vậy, các phương án đưa ra trong Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi trùng với phương án theo quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai nêu trên.

Một số đề xuất
Theo quan điểm của tác giả, việc sửa đổi quy định về tuổi nghỉ hưu cần được cân nhắc một cách kỹ lưỡng và cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản như giải quyết hài hòa lợi ích 03 bên: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; phù hợp với nhu cầu và khả năng đáp ứng về sức khỏe của lực lượng lao động xã hội; đảm bảo bình đẳng giới; giải quyết được mâu thuẫn giữa xu hướng già hóa dân số và xu hướng trẻ hóa lực lượng lao động của khu vực doanh nghiệp hiện nay và trong tương lai; phù hợp với chính sách giải quyết việc làm và giải quyết tình trạng thất nghiệp của người lao động; đồng bộ với các quy định khác có liên quan; kết hợp với tăng cường công tác thực hiện pháp luật và quản lý nhà nước; khả năng cân đối thu – chi của Quỹ BHXH nói chung, quỹ hưu trí nói riêng.
Từ những yêu cầu nêu trên, xin đề xuất phương án sửa đổi quy định về tuổi nghỉ hưu của lực lượng dân sự như sau:
Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động giữ nguyên tuổi nghỉ hưu theo quy định hiện hành
Lý do:
- Đối với khu vực sản xuất kinh doanh nếu nâng tuổi nghỉ hưu phần lớn người lao động khó lòng đáp ứng về mặt sức khỏe khi lao động nam trên 60 tuổi, lao động nữ trên 55 tuổi. Đặc biệt, đối với người lao động đã làm công việc hoặc nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế quy định từ đủ 15 năm trở lên, thực tế cho thấy sau 55 tuổi đối với nam và sau 50 tuổi đối với nữ người lao động không đáp ứng điều kiện sức khỏe để tiếp tục làm việc.
- Xu hướng trẻ hóa đội ngũ lao động ở các doanh nghiệp hiện nay đang trở thành phổ biến. Thực tế nhiều nơi, nhiều ngành nghề người sử dụng lao động đang tìm nhiều cách để thải lao động nam sau 50 tuổi và lao động nữ sau 45 tuổi. Ở cả 02 trường hợp nêu trên, nếu người người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc thì dường như người lao động không thể xin việc mới ở nơi khác với tuổi đời đã tương đối cao như vậy, quay trở lại họ lại chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc còn thiếu khá nhiều tuổi đời mới đủ điều kiện hưởng lương hưu (nếu nâng tuổi nghỉ hưu so với quy định hiện hành). Khi đó họ sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội, các vấn đề xã hội có thể từ đó sẽ phát sinh, xã hội sẽ bất ổn.
- Nhu cầu của phần lớn người lao động làm việc tại khu vực doanh nghiệp hiện nay là muốn giữ nguyên tuổi nghỉ hưu.
- Tránh ảnh hưởng tiêu cực đến cơ hội việc làm của những người sắp hoặc mới gia nhập thị trường lao động. Từ đó tránh ảnh hưởng không tích cực tới việc thực hiện chính sách việc làm của Nhà nước.
Tuy nhiên, phương án này chỉ hợp lý và hiệu quả (vừa đáp ứng nhu cầu của người lao động, đặc điểm của thị trường lao động trong khu vực sản xuất kinh doanh, vừa góp phần cải thiện cân đối thu – chi của quỹ bảo hiểm hưu trí và lợi ích của xã hội) thì bên cạnh đó cần cân nhắc thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
- Cần có hướng dẫn cụ thể hơn, đầy đủ hơn đối tượng người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác được kéo dài thời gian làm việc không quá 05 năm tính từ ngày đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Khoản 3 Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2012. Đặc biệt, quy định cũng phải được hướng dẫn để áp dụng cho cả những người lao động làm việc theo hợp đồng lao động ở khu vực doanh nghiệp.
 - Cần đồng bộ với quy định về quyền chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. Ví dụ, cần cân nhắc, đưa ra khỏi Bộ luật Lao động quy định tại Khoản 4 Điều 36, không quy định người sử dụng lao động có quyền chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động hết tuổi lao động như dự kiến trong Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi (tháng 05/2017). Nếu thực hiện theo hướng này thì khi đủ điều kiện nghỉ hưu, việc có nghỉ hưu hay không là do người lao động quyết định. Nếu người lao động chưa muốn nghỉ hưu, hợp đồng lao động chưa hết hạn thì người lao động có quyền tiếp tục làm việc và đóng BHXH. Như vậy, vừa đảm bảo quyền làm việc của người lao động, vừa cải thiện tình hình tài chính của quỹ bảo hiểm hưu trí.
- Tăng cường công tác quản lý thu BHXH, đảm bảo thu đúng và đủ tiền BHXH theo quy định của Luật BHXH (sửa đổi). Hiện nay, không ít doanh nghiệp đăng ký danh sách người lao động tham gia BHXH ít hơn tổng số người lao động sử dụng thường xuyên, phần lớn các doanh nghiệp đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cho người lao động thấp hơn, thậm chí thấp hơn rất nhiều so với tổng tiền lương thực trả cho người lao động, nhất là đối với lực lượng lao động có tiền lương ở mức khá và tiền lương ở mức cao. Nếu quản lý được, nếu thu đúng, thu đủ thì số tiền BHXH thu được sẽ lớn hơn nhiều so với thời gian qua. Để làm được việc này, giữa cơ quan BHXH và cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cơ quan thuế phải thiết lập mối quan hệ phối hợp công tác một cách thực sự và có hiệu quả (đã có cơ sở pháp lý cho mối quan hệ phối hợp này – Luật BHXH (sửa đổi), các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật BHXH). Bản thân các cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội) phải quản lý được số lao động sử dụng thực của các đơn vị sử dụng lao động thuộc diện quản lý (không chỉ quản lý trên hồ sơ, sổ sách như hiện nay). Khi đã quản lý được lao động và tiền lương làm căn cứ đóng BHXH như trên, việc cân nhắc quy định về mức lương hưu cũng cần được đặt ra để đảm bảo cân đối thu – chi của quỹ bảo hiểm hưu trí.
Thực hiện nâng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan nhà nước
Với những đối tượng này có thể thực hiện theo Phương án 02 Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi tháng 05/2017.
“Điều 148. Tuổi nghỉ hưu
1. Phương án 02 (tăng tuổi nghỉ hưu kể từ 01/01/2021 và theo lộ trình): Tuổi nghỉ hưu của người lao động bình thường làm việc trong điều kiện lao động bình thường là nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi. Từ 01/01/2021 cứ mỗi năm tăng thêm 06 tháng cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.
2. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc, nghề nghiệp đặc thù có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định tại khoản 1 Điều này.
Chính phủ quy định chi tiết Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này”.
Ở phương án này cũng cần cân nhắc thực hiện đồng bộ với các giải pháp đã đề cập ở trên.
Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu là vấn đề hết sức nhạy cảm và tác động sâu rộng tới mọi mặt của đời sống xã hội, do vậy để tạo sự đồng thuận cao, cơ quan soạn thảo xây dựng pháp luật phải tính toán hết sức khoa học, chặt chẽ. Bên cạnh đó, quá trình triển khai cần có sự chuẩn bị về tâm lý cho người lao động, người sử dụng lao động, cũng như cần có một lộ trình phù hợp. Ngoài ra, phải lường trước những tác động của chính sách để khi chính sách được ban hành phải mang lại những lợi ích tốt hơn cho người lao động, đảm bảo lợi ích kinh tế và tài chính lâu dài cho đất nước./.

PGS TS. Lê Thị Hoài Thu
Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam