Về việc thực hiện chính sách, pháp luật BHXH đối với người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam

13/06/2017 07:21:57
Hiện Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang chủ trì dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật BHXH (sửa đổi) về BHXH bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài (viết tắt là lao động nước ngoài) làm việc tại Việt Nam để xin ý kiến đóng góp. Nhìn nhận từ góc độ thị trường lao động và pháp luật BHXH của một số quốc gia trên thế giới trong xu thế hội nhập quốc tế, xin có một vài ý kiến trao đổi về vấn đề nêu trên.

  Tại Khoản 2 Điều 2 Luật BHXH (sửa đổi) quy định: “Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc theo quy định của Chính phủ”, thực hiện từ 01/01/2018.

  Việc thực hiện chính sách, pháp luật BHXH Việt Nam cho người lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam cần được nhìn nhận và giải quyết trong mối quan hệ tổng thể của vấn đề lao động di cư trong xu thế hội nhập quốc tế. Đây là cách tiếp cận hết sức cần thiết để đưa ra những đề xuất hợp lý về chính sách BHXH cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam nhằm bảo đảm việc tuân thủ chính sách pháp luật về BHXH ở Việt Nam, bảo đảm việc thực thi đồng bộ, thống nhất về Bộ luật Lao động, cũng như các Luật pháp khác của Việt Nam đối với công dân nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam trong mối quan hệ về di cư lao động giữa thị trường lao động của các quốc gia với nhau. Và cách tiếp cận như vậy cũng chính là thực hiện sự công bằng, bình đẳng, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động Việt Nam khi sang làm việc tại các quốc gia khác; bảo đảm sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa người lao động Việt Nam với người lao động nước ngoài cùng làm việc hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Thực hiện BHXH đối với người lao động nước ngoài chỉ là vấn đề mới đối Việt Nam, còn với các quốc gia khác, đã có lịch sử hàng chục năm qua trong việc tiếp nhận lao động từ quốc gia khác đến làm việc theo các hiệp định song phương về tuyển dụng lao động hoặc cung ứng lao động giữa các quốc gia (ANWERBEABKOMMEN). Đồng thời, nội dung về BHXH cho người lao động khi đến làm việc ở nước ngoài cũng chỉ là một công đoạn kế tiếp của quá trình đàm phán, thỏa thuận giữa hai quốc gia trong việc phái cử và nhận lao động đến làm việc. Về vấn đề này, khối EU đã đưa ra các nguyên tắc:

- Người lao động phải được bảo đảm xã hội ở quốc gia mà người lao động đến sống và làm việc (Ein Arbeitnehmer ist in dem Land sozialversichert, in dem er lebt und arbeitet).

- Không có hệ thống bảo đảm xã hội thống nhất cho cả khối EU (Kein einheitliches europäisches System der Sozialen Sicherheit).

- Phối hợp điều chỉnh cho phù hợp trong toàn hệ

thống (Koordinierung statt Harmonisierung der Systeme).

  Theo chúng tôi, đối tượng lao động là công dân của một quốc gia này đến một quốc gia khác sống và làm việc hợp pháp trong một thời hạn nhất định được hiểu là “lao động khách” hoặc “thợ khách” (GASTARBEITER). Để đảm cho hoạt động của người lao động đến một quốc gia khác làm việc được diễn ra thì cả quốc gia sở tại và người lao động phải tuân thủ quy định pháp luật của quốc gia đó. Trong đó, có luật pháp về BHXH. Hơn nữa, BHXH được hiểu là sự bảo đảm cho yếu tố lao động của quá trình sản xuất, do đó mỗi quốc gia đều xây dựng và thực thi một chính sách BHXH cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và tập quán của quốc gia mình nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động lao động được diễn ra một cách bền vững. Vì vậy, mọi người lao động nước ngoài vào làm việc hợp pháp tại Việt Nam đều phải tuân thủ nghiêm túc luật pháp của Việt Nam, trong đó có Luật BHXH (hay “nhập gia tùy tục”, vào nhà tùy theo tục nhà, đến nơi nào phải theo phong tục của nơi đấy). Tương tự, người Việt Nam đến sinh sống và làm việc hợp pháp ở một quốc gia khác phải tuân thủ theo luật pháp của quốc gia đó. Trường hợp người lao động vào làm việc bất hợp pháp, mặc nhiên không được bảo về bằng pháp luật lao động, cùng các pháp luật khác có liên quan của quốc gia sở tại và có thể bị trục xuất.

  Việc tuân thủ luật pháp, không phân biệt người lao động trong nước hay nước ngoài chính là sự đảm bảo thực thi nguyên tắc bình đẳng. Đây là nguyên tắc nền tảng nhằm quy định mọi nội dung của chính sách BHXH đối với người lao động nước ngoài. Việc tuân thủ chính sách pháp luật BHXH ở Việt Nam cũng là thể hiện lao động nước ngoài là một bộ phận lao động của Việt Nam, là thành phần quan trọng, là yếu tố đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

  Ở đây việc tuân thủ pháp luật về BHXH phải theo một nghĩa thống nhất như sau: Khi người lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc một cách hợp pháp, họ được cấp “giấy phép lao động”. Khi đến làm việc, người lao động nước ngoài có thể đến một mình hoặc có thể mang theo cả gia đình gồm vợ chồng con cái của họ. Để có thể bắt tay vào làm việc, tức là quan hệ lao động được tiến hành thì phải có hợp đồng lao động giữa chủ sử dụng lao động. Trong hợp đồng lao động sẽ là những cam kết về công việc, về tiền lương, tiền thưởng cũng như những điều kiện làm việc và các quyền lợi khác đi kèm… Trong quá trình làm việc, những rủi ro có thể xảy ra đến với họ cũng tương tự như người lao động Việt Nam làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, họ cũng có thể bị ốm đau hoặc con cái của họ bị ốm đau (đó là chưa bàn đến những nội dung khác như việc học hành của con cái của họ); họ cũng có thể gặp phải tai nạn lao động hoặc mắc phải bệnh nghề nghiệp; họ cũng có thể mang thai, sinh đẻ và điều đặc biệt đáng quan tâm là thời gian làm việc của mỗi người lao động đều có hạn. Thời gian khi người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng là một bộ phận thời gian lao động trong cuộc đời lao động của họ, họ phải được xác nhận làm căn cứ tính chế độ hưu trí, tử tuất sau này (cũng có thể hiểu là khoản tiền mà người lao động đã đóng góp cho chế độ hưu trí, tử tuất khi họ đến làm việc tại Việt Nam). Họ cũng có thể bị thất nghiệp khi doanh nghiệp của họ gặp phải khó khăn do thu hẹp sản xuất hoặc thay thế quy trình công nghệ… nguyên nhân từ công ty mẹ hoặc từ quốc gia phái cử lao động. Vì vậy, không có lý do gì mà người lao động nước ngoài lại không thực hiện đầy đủ các chế độ đã quy định của chính sách pháp luật BHXH hiện hành, bao gồm cả chính sách pháp luật về BHYT. Tương tự như vậy, người lao động đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất; người sử dụng lao động hàng tháng đóng trên quỹ tiền lương tháng đóng BHXH của người lao động là 3% vào quỹ ốm đau, thai sản; tối đa 1% vào quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất. Đương nhiên, khi người lao động nước ngoài bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế (trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy thì không được hưởng chế độ ốm đau) thì thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng BHXH dưới 15 năm và mức hưởng tính theo tháng bằng 75% mức tiền lương đóng bảo BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc… Có nghĩa là người lao động nước ngoài sẽ tham gia đóng góp - hưởng thụ quyền lợi của chính sách BHXH như người lao động Việt Nam, không có sự phân biệt, so sánh. Như vậy sẽ không thể đặt ra trường hợp chỉ thực hiện những chế độ BHXH này đối với người lao động nước ngoài mà không thực hiện chế độ khác, ví dụ như có ý kiến cho rằng chỉ có thực hiện chế độ ngắn hạn như chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp mà không thực hiện chế độ dài hạn như chế độ hưu trí, tử tuất. Hoặc có ý kiến cho rằng chỉ thực hiện BHXH tự nguyện đối với người lao động nước ngoài mặc dù họ có quan hệ lao động và có hợp đồng lao động. Những quan điểm, ý kiến trái ngược với quy định của luật pháp BHXH của Việt Nam khi thực hiện cho người lao động là công dân Việt Nam mà không thực hiện cho người lao động là công dân nước ngoài làm việc trên lãnh thổ Việt Nam là vô tình đã tạo ra sự khác biệt trong việc đối xử bình đẳng giữa người lao động trong nước và người lao động nước ngoài cũng như đã vô tình hạ thấp tính tuân thủ pháp luật của Việt Nam. Có thể đưa ra ở đây một ví dụ khác, có người cho rằng đối với chế độ BHYT (khám, chữa bệnh khi ốm đau), người lao động nước ngoài sẽ không tham gia BHYT theo Luật vì chất lượng khám chữa bệnh BHYT của nước ta còn thấp. Khi bị ốm đau thì họ sẽ ra nước ngoài khám chữa bệnh chứ không khám chữa bệnh ở các cơ sở khám chữa bệnh BHYT ở Việt Nam. Điều này hoàn toàn không đúng bởi lẽ ở Việt Nam chế độ BHYT xã hội đã xem xét đầy đủ đến mối quan hệ tương ứng giữa mức đóng, khung quyền lợi hưởng và kèm theo đó là chất lượng khám, chữa bệnh của các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT ở Việt Nam, cũng nhằm đảm bảo cho người ốm đau sớm trở lại tình trạng sức khỏe ban đầu. Luật pháp BHYT ở Việt Nam cũng như các quốc gia khác đều nhằm bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế, thuốc chữa bệnh cơ bản cho người lao động. Vì vậy, việc nếu có người lao động nước ngoài nào đó không thích khám chữa bệnh BHYT ở Việt Nam thì đó là ý chí, nguyện vọng cá nhân, chứ không phải vì lý do đó mà không thực hiện luật pháp BHYT đối với họ. Ngay ở Việt Nam, có những người lao động là công dân Việt Nam đã tham gia BHYT theo Luật (BHYT xã hội) nhưng do có điều kiện kinh tế khá giả, họ vẫn lựa chọn việc khám, chữa bệnh theo nguyên vọng riêng hay lựa chọn những cơ sở khám, chữa bệnh có chất lượng dịch vụ y tế cao cấp hơn ở trong nước, thậm chí ở nước ngoài. Như vậy, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải tuân thủ theo Luật BHYT Việt Nam, tức là có nghĩa vụ đóng góp BHYT, hưởng thụ các dịch vụ y tế theo quy định hiện hành. Nếu có sự khác biệt, thì chỉ ở việc nơi cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT cho người lao động nước ngoài phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp hoặc có phiên dịch để có thể thuận tiện trong việc thăm khám, điều trị bệnh cho họ.

  Việc thực hiện đúng quy định của Luật pháp BHXH ở Việt Nam còn thể hiện ở chỗ có thể mức thu nhập từ lao động của người lao động nước ngoài sẽ cao hơn hẳn so với người lao động động Việt Nam nhưng mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH vẫn chỉ giới hạn theo quy định của Luật BHXH hiện hành là không quá 20 lần mức lương cơ sở. Phần thu nhập còn lại không thuộc phạm vi mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, người lao động nước ngoài có thể chủ động tham gia các loại bảo hiểm hưu trí khác theo nguyện vọng của cá nhân. Tương tự, có quan điểm lo ngại cho rằng chế độ hưu trí và tử tuất ở nước ta mặc dù được đánh giá trong thiết kế là chưa cân đối giữa đóng – hưởng (mức hưởng hiện nay còn cao hơn nhiều so với mức đóng góp) thì khi thực hiện chế độ này đối với nhóm lao động là người nước ngoài, Quỹ BHXH sẽ phải hỗ trợ thêm khoản chi trả. Tuy nhiên, Luật pháp BHXH ở Việt Nam cần được tuân thủ nghiêm chỉnh, công bằng cho mọi người lao động cho đến khi có điều chỉnh bổ sung chính thức bằng Luật, không vì lý do nêu trên mà không thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất cho người lao động nước ngoài. Tuy nhiên, việc người lao động nước ngoài có tham gia chính sách BHTN hay không còn đang là vấn đề cần được trao đổi, nghiên cứu. Có quan điểm cho rằng, Luật BHXH (sửa đổi) chưa quy định về BHTN cho người lao động nước ngoài thì chưa có cơ sở thực hiện; hơn nữa, đa phần người lao động nước ngoài được cử đến làm việc theo thời hạn nhất định, hết thời hạn sẽ về nước, vì vậy không cần phải thực hiện BHTN.

  Chính sách pháp luật BHXH là một bộ phận của chính sách xã hội, thích ứng với từng quốc gia về điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục tập quán và thích ứng với từng giai đoạn lịch sử nhất định. Như vậy, với mỗi quốc gia khác nhau thì nội hàm chính sách BHXH, đối tượng tham gia, mức đóng góp, khung quyền lợi… và việc tổ chức thực hiện chính sách cũng hoàn toàn khác nhau. Điều đó là hoàn toàn khách quan và các quốc gia phải có nghĩa vụ tôn trọng lẫn nhau. Vì vậy, nguyên tắc tiếp theo của BHXH đối với người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam là điều chỉnh, bổ sung nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động đi làm việc ở nước ngoài không được thấp hơn so với lao động đang làm việc trong nước. Nguyên tắc này là thể hiện vai trò của các Nhà nước trong việc ký kết trước hết là các hiệp định song phương nhằm thỏa thuận khắc phục khác biệt, chênh lệch quá lớn giữa 02 nhà nước khi đưa lao động đến làm việc, nhằm đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho người lao động đến làm việc ở Việt Nam, mà vẫn tuân thủ Luật BHXH Việt Nam. Trong nội dung này có cả các khả năng đàm phán thống nhất về chế độ BHXH hưu trí khi người lao động không còn làm việc tại Việt Nam.

  Như vậy, vấn đề thực hiện BHXH cho người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam trong mối quan hệ tổng thể về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động. Và vì vậy, tiếp theo việc nhiên cứu xây dựng chính sách nhằm triển khai thực hiện BHXH cho người lao động nước ngoài ở Việt Nam là giải quyết những sự không đồng nhất giữa chính sách pháp luật BHXH của 02 quốc gia, trong đó cụ thể là chế độ hưu trí cho người lao động nước ngoài ở Việt Nam khi về nước. Cách giải quyết cụ thể về chế độ hưu trí cần được thông qua các cấp có thẩm quyền của 02 quốc gia đàm phán nhằm chuyển giao phần đã đóng góp bảo hiểm hưu trí làm cơ sở tính cộng dồn thời gian, tính mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH cho người lao động nước ngoài hưởng lương hưu sau này. Cũng cần hiểu thêm, “giấy phép lao động”; “chứng chỉ hành nghề” hay “ giấy phép hành nghề” của người nước ngoài chỉ là điều kiện cần cho hoạt động lao động hay hoạt động nghề nghiệp hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Còn hoạt động lao động hay hoạt động nghề nghiệp của người lao động nước ngoài ở Việt Nam chỉ được tiến hành khi có các điều kiện đủ khác đi kèm, ví dụ như hợp đồng lao động… Đây là điều kiện cần thiết, nền tẳng để hướng dẫn thực hiện BHXH bắt buộc cho người lao động nước ngoài.

  Theo số liệu thống kê của Cục Việc làm - Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, số lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam tăng nhanh, từ 12,6 nghìn người (năm 2004) đã tăng lên 83,5 nghìn người (tháng 12/2015, tăng khoảng 06 lần) với mức tăng bình quân mỗi năm khoảng 06 nghìn người và tỷ lệ tăng bình quân khoảng 15,7%. Đa số lao động nước ngoài đến Việt Nam là nam giới (gần 84%), còn lại khoảng 16% là lao động nữ; lao động trên 30 tuổi chiếm trên 86%. Hiện nay, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam tập trung chủ yếu tại thành phố lớn hoặc địa phương có các dự án lớn, có đông nhà thầu nước ngoài thi công xây lắp như TP.HCM, hơn 20 nghìn người; Bình Dương, hơn 12 nghìn người; Hà Tĩnh, hơn 07 nghìn người; Đồng Nai, hơn 06 nghìn người; Hà Nội, hơn 05 nghìn người; Thanh Hóa, gần 04 nghìn người; Bắc Ninh, hơn 03 nghìn người… Số lao động nước ngoài đến từ châu Á với số lượng cao nhất, gần 60 nghìn người, chiếm tỷ lệ hơn 71%; tiếp đến là lao động nước ngoài đến từ châu Âu, khoảng 19 nghìn người (22,7%); còn lại là lao động đến từ các Châu lục khác với gần 05 nghìn người chiếm gần 6% trong tổng số lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam. Trong số lao động đến từ châu Á, lao động Trung Quốc khoảng gần 26 nghìn người (30%); lao động Hàn Quốc là hơn 15 nghìn người (18%); lao động Đài Loan khoảng gần 11 nghìn người (13%); lao động Nhật Bản khoảng gần 08 nghìn người (10%); còn lại là lao động đến từ các quốc gia khác, gần 24 nghìn người (chiếm 29% trong tổng số lao động nước ngoài tại Việt Nam). Dự báo đến năm 2020, Việt Nam có khoảng gần 170 nghìn người lao động nước ngoài đến làm việc - điều đó cho thấy, nước ta càng ngày càng trở thành mảnh “đất lành chim đậu”. Đương nhiên, việc đối tượng lao động nước ngoài nào được cấp phép làm việc tại Việt Nam cần được các cơ quan chức năng cho phép căn cứ vào nhu cầu lao động trên thị trường lao động. Việt Nam, cũng như các quốc gia khác, sẽ chỉ cho phép tuyển dụng lao động với trình độ chuyên môn cao, mà lao động nước sở tại không thể đáp ứng được, tham gia vào thị trường lao động nước mình.

  Lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam phần lớn là từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… - các quốc gia có quan hệ kinh tế gắn bó nhiều năm; đặc biệt, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản cũng là các quốc gia hiện có lao động Việt Nam được cử đến làm việc theo hiệp định giữa các Chính phủ trong nhiều năm nay. Điều này sẽ thuận lợi hơn cho việc thực hiện BHXH cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, cũng như thuận lợi hơn khi đàm phám về giải quyết các chế độ BHXH dài hạn cho người lao động sau này. Các quốc gia này cũng hết sức “chuyên nghiệp” trong việc phái cử lao động của quốc gia mình đến quốc gia khác làm việc và tiếp nhận lao động từ nước khác đến làm việc tại nước mình nên sẽ thuận tiện và thông thoáng hơn cho việc triển khai thực hiện BHXH cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam.

  Vì vậy, để triển khai thực hiện BHXH cho người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo tinh thần theo Luật BHXH (sửa đổi) từ ngày 01/01/2018, xin đề xuất:

- Thực hiện đồng bộ các chế độ BHXH theo Luật BHXH (sửa đổi) như đối với công dân là lao động Việt Nam, bao gồm chế độ: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Hưu trí và Tử tuất.

- Hướng dẫn tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định về đối tượng đóng, mức đóng, mức hưởng, khung quyền lợi hưởng… hiện hành của Luật BHXH (sửa đổi).

- Trước mắt không thực hiện BHTN đối với người lao động nước ngoài và quy định rõ trong các hiệp định phái cử lao động là người lao động nước ngoài khi hết thời hạn quy định (kể cả khi đã gia hạn) phải chủ động đưa lao động nước ngoài về nước.

- Các cơ quan chức năng của Việt Nam cần bắt tay vào đàm phán với từng quốc gia phái cử lao động đến Việt Nam làm việc như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… để đàm phán về vấn đề BHXH cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam; trong đó, chú trọng đến việc giải quyết chế độ hưu trí, tử tuất.

  Để có thể triển khai thực hiện tốt chính sách BHXH từ 01/01/2018, cần thực hiện tuyên truyền, phổ biến rộng rãi chính sách pháp luật BHXH Việt Nam đối với người lao động nước ngoài tới từng doanh nghiệp có đối tượng lao động này; thực hiện tuyên truyền cả bằng ngôn ngữ của quốc gia phái cử lao động đến Việt Nam làm việc. Phổ biến rộng rãi các quy trình thủ tục đăng ký kê khai tham gia đóng góp và thủ tục hưởng chế độ BHXH; hình thức kê khai, đăng ký (chú ý kê khai đăng ký trực tuyến) và chuẩn bị sẵn các mẫu đăng ký kê khai, các giấy tờ thủ tục đóng, hưởng BHXH bằng song ngữ. Chuẩn bị lực lượng và bố trí cán bộ làm công tác BHXH có kiến thức ngoại ngữ để đảm bảo giao dịch thông suốt cho việc thực hiện BHXH cho người nước ngoài.

  Thực hiện BHXH cho người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam là một vấn đề mới đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền, có luật pháp, có nhiều tiềm năng, lợi thế về kinh tế, ổn định về chính trị để thu hút nước ngoài vào hoạt động đầu tư, trong đó có việc đưa lao động đến làm việc. Trong nhiều năm qua, Việt Nam cũng đã tổ chức đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài và đã trở thành lực lượng lao động quan trọng đối với quốc gia tiếp nhận lao động. Người lao động Việt Nam luôn tuân thủ Luật pháp của nước được phái cử đến làm việc. Nước ngoài phái cử lao động đến Việt Nam làm việc có lịch sử và thực thi pháp luật BHXH nhiều năm nay, công dân của họ cũng đã hiểu biết về BHXH ở quốc gia của họ, khi đến làm việc tại Việt Nam, không có lý do gì để không tuân thủ nghiêm chỉnh, đầy đủ luật pháp của Việt Nam, trong đó có Luật BHXH.n

  Tài liệu tham khảo:

  • Sozialversicherung im internationalen Vergleich – Eric Seils – WSI Mitteilungen 07/2009.
  • Die Gastarbeiter – Geschichte und aktuelle soziale Lage – WSI Report 16 Sebtember 2014.Auf einen Blick: Die Soziale Sicherhei in der EU  http://www.eu-info.de/sozialversicherung.

                                                                                           TS.Phạm Đình Thành

                                                                           Viện Khoa học BHXH, BHXH Việt Nam

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam