Việc làm bền vững và An sinh xã hội ở Việt Nam

23/01/2017 17:56:48
Mỗi khi Tết đến xuân về, khi gặp nhau, người Việt Nam thường thăm hỏi nhau, chúc nhau sức khỏe dồi dào và con cái có công ăn việc làm ổn định. Khái niệm dân dã “việc làm ổn định” mang hàm ý có công ăn việc làm tử tế, có thu nhập… và như vậy, rất gần gũi với khái niệm hiện đại hiện nay “việc làm bền vững”. Vậy việc làm bền vững là thế nào, có mối quan hệ gì với ASXH ở Việt Nam, trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng, nhất là đối với lao động trẻ, lao động mới ra trường?

    Nội dung và chỉ số việc làm bền vững

   Việc làm, thất nghiệp không chỉ là mối quan tâm hàng đầu ở Việt Nam mà còn là mối quan tâm của các quốc gia trên toàn cầu. Theo một báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, việc làm chất lượng kém và không hiệu quả; quyền của người lao động tại nơi làm việc không đảm bảo… Ước tính toàn cầu có khoảng 200 triệu người đang thất nghiệp, trong đó gần 50% là lao động trẻ trong độ tuổi từ 15-24. ILO khuyến cáo, chỉ có việc làm bền vững mới giúp người lao động bảo đảm được cuộc sống một cách đầy đủ nhất. Như vậy là, cả trên bình diện quốc gia và thế giới, việc làm bền vững góp phần tích cực vào giảm nghèo, bảo đảm ASXH quốc gia và xây dựng hòa bình trên toàn cầu. Thực ra, khái niệm việc làm bền vững không mới. Từ năm 1999, việc làm bền vững là một trong 04 mục tiêu cơ bản trong cải tổ ILO, theo đó, “việc làm bền vững là tạo cơ hội cho nam giới, nữ giới có được việc làm ổn định, năng suất, trong điều kiện tự do, bình đẳng và bảo đảm nhân phẩm”.

 

  Việc làm bền vững bao gồm 06 vấn đề, bao gồm:

  - Cơ hội có việc làm: Sự cần thiết phải bảo đảm khả năng có việc làm cho tất cả người lao động có nhu cầu làm việc.

  - Người lao động được làm việc trong điều kiện tự do: Người lao động không bị ép buộc làm việc, nếu như họ không muốn.

  - Việc làm có năng suất: Nhằm có được thu nhập, bảo đảm mức sống có thể chấp nhận được trong điều kiện cụ thể.

  - Được bình đẳng trong công việc: Mọi người đều được đối xử như nhau trong công việc, không phân biệt màu da, sắc tộc, giới tính.

  - An toàn tại nơi làm việc: Người lao động được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, tham gia và thụ hưởng BHXH, bảo hiểm tai nạn lao động…

  - Được bảo đảm nhân phẩm tại nơi làm việc: Người lao động được tôn trọng, được tham gia vào các quá trình ra quyết định liên quan đến tiền lương, điều kiện lao động tại nơi làm việc.

  Trong 06 vấn đề nêu trên của việc làm bền vững, 02 vấn đề đầu liên quan đến việc tạo ra việc làm cho người lao động; các vấn đề sau liên quan đến mức độ bền vững của công việc, chất lượng việc làm.

  Khái quát những vấn đề trên, Tổng Giám đốc ILO Juan Somnavia nhận định: “Việc làm bền vững chính là những khát vọng của con người trong cuộc sống lao động của họ về cơ hội và thu nhập, quyền lợi, tiếng nói và sự thừa nhận; sự ổn định gia đình và phát triển cá nhân; sự công bằng và bình đẳng như nhau, phản ánh mối quan tâm của Chính phủ, người lao động và người sử dụng lao động, những người sẽ cùng nhau tạo ra một sự hợp nhất về đối thoại ba bên”.

  Năm 2007, ILO phát triển khái niệm việc làm bền vững gồm 04 vấn đề, là việc làm đầy đủ quyền con người với đúng trình độ cá nhân; việc làm với các điều kiện chấp nhận được, bình đẳng, có cơ hội phát triển và hoàn thiện các kỹ năng cá nhân; việc làm có ASXH, an toàn tại nơi làm việc hướng tới chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa rủi ro; việc làm có đối thoại xã hội thông qua tự do hiệp hội, tự do phát ngôn, được tham gia đối thoại cởi mở giữa Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động, được tham gia xây dựng các chính sách, chiến lược có liên quan. Với các nội hàm này, khái niệm việc làm bền vững có tính khái quát hơn, bao gồm các khía cạnh khác nhau của người lao động, nhất là được bảo đảm về ASXH.

  Từ đó, ILO đưa ra Bộ chỉ số chuẩn để đo lường việc làm bền vững; căn cứ vào Bộ chỉ số này, các quốc gia xây dựng chỉ số việc làm bền vững. Đối với Việt Nam, ILO hỗ trợ xây dựng Bộ chỉ số việc làm bền vững Việt Nam với 23 chỉ số - đây là những chỉ số chính, có thể phát triển thêm trong điều kiện của Việt Nam. Trong đó, có 03 chỉ số xác định quyền tại nơi làm việc; 11 chỉ số liên quan đến việc làm và ASXH; 05 chỉ số liên quan đến bảo hiểm; 04 chỉ số liên quan đến khía cạnh đối thoại xã hội. Các chỉ số liên quan đến việc làm, bảo hiểm và ASXH, cụ thể:

  Đối với vấn đề việc làm và ASXH, ILO khuyến cáo sử dụng 11 chỉ số: Tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động; tỷ suất việc làm-dân số; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực phi kết cấu; số lao động phổ thông (không có kỹ năng) và tiền lương của họ; tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ; tỷ lệ thanh niên không tham gia hoạt động kinh tế; tỷ lệ thất nghiệp; việc làm theo loại hình công việc, các loại hình hoạt động kinh tế; tỷ lệ lao động nữ trong lao động làm công ăn lương; năng suất lao động; thu nhập thực tế bình quân đầu người.

  Đối với vấn đề BHXH, có các chỉ số: Độ bao phủ của BHXH đối với người lao động; chi tiêu công cho BHXH; chỉ số tai nạn lao động; tỷ lệ trả lương theo giờ thấp.

   Việc làm bền vững ở Việt Nam trong mối quan hệ với BHXH và ASXH

Qua một số chỉ số nêu trên, từ thực tế của Việt Nam, có thể thấy có một số vấn đề nổi lên liên quan đến lĩnh vực ASXH, BHXH, đó là:

  Thứ nhất, chất lượng việc làm thấp, do tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật trong lực lượng lao động chưa cao.

  Theo thống kê, năm 2015, cả nước có 28,05 triệu lao động có chuyên môn kỹ thuật, chiếm 51,64% tổng lực lượng lao động. Tuy nhiên, chỉ có 10,56 triệu người có bằng cấp/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp trở lên), chiếm 20,785% trong tổng lực lượng lao động. Giữa các khu vực kinh tế, trong số lao động làm trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp, chỉ 3,6%; trong khu vực công nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 18,4%; trong khu vực dịch vụ, tỷ lệ lao động qua đào tạo khá hơn, đạt 38%.

  Thứ hai, năng suất lao động, dù có cải thiện, nhưng vẫn thấp.

  Trong 10 năm gần đây, năng suất lao động của Việt Nam có sự cải thiện, tốc độ tăng bình quân 4,24% /năm. Năm 2015, tốc độ tăng năng suất lao động đạt 6,2% so với năm 2014. Tuy nhiên, tăng năng suất lao động của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn, yếu tố lao động (chất lượng lao động) chưa đóng góp nhiều, nên ảnh hưởng đến tính bền vững của năng suất lao động. Năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó, thấp hơn Singapore gần 15 lần, Nhật Bản 11 lần, Hàn Quốc 10 lần; chỉ bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Việt Nam còn thiếu nhiều lao động lành nghề, nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Do vậy, vấn đề nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động, nâng cao tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật trong lực lượng lao động vẫn là một trong những bài toán quan trọng để tạo ra việc làm bền vững ở Việt Nam.

  Thứ ba, thất nghiệp vẫn là vấn đề của thị trường lao động, ảnh hưởng đến tính bền vững của việc làm ở Việt Nam.

  Năm 2015 cả nước có hơn 1,1 triệu người trong độ tuổi lao động thất nghiệp với tỷ lệ 2,33%; đặc biệt, nhóm thanh niên độ tuổi từ 15-24 tuổi có tỷ lệ thất nghiệp rất cao (7,03%). Bên cạnh đó, tình trạng thiếu việc làm còn khá lớn – đây là biểu hiện thiếu bền vững của việc làm. Năm 2015, có 912 ngàn người thiếu việc làm, chiếm 2,06% tổng số lao động trong độ tuổi có việc làm. Mức độ thiếu việc làm ở nông thôn trầm trọng hơn so với lao động ở thành thị (tỷ lệ cao gấp 2,4 lần), chiếm gần 82% tổng số lao động thiếu việc làm cả nước. Điều này có nghĩa là lao động ở nông thôn dễ tổn thương hơn so với lao động ở thành thị, hay nói cách khác, việc làm của lao động ở nông thôn kém bền vững, nhất là ở nhóm lao động lao động tự làm, nhóm lao động trẻ.

  Thứ tư, cơ cấu việc làm theo khu vực kinh tế chưa đáp ứng được nền kinh tế hiện đại.

  Theo thống kê, hiện nay mới chỉ có 30% lực lượng lao động Việt Nam làm việc trong khu vực kinh tế chính thức; như vậy, 70% lực lượng lao động còn lại đang làm việc ở khu vực phi chính thức. Đa số họ thuộc nhóm lao động dễ bị “tổn thương”, hay nói cách khác, việc làm của họ thiếu bền vững, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng ven đô, vùng đang đô thị hóa. Những lao động này không có được sự bảo đảm về thu nhập thông qua BHXH, trong khi các cơ chế ASXH chưa bao phủ hết ở khu vực kinh tế này.

  Thứ năm, tỷ lệ bao phủ BHXH còn thấp.

  Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2016, cả nước có 12,9 triệu lao động tham gia BHXH, trong đó số người tham gia BHXH bắt buộc chiếm 97,9% tổng số người tham gia BHXH. Số người tham gia BHXH (cả bắt buộc và tự nguyện) chỉ chiếm 22,3% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Độ bao phủ BHXH thấp là một trong những chỉ số phản ánh tính không bền vững của việc làm ở Việt Nam. Trong đó, đặc biệt thấp ở khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã, mặc dù các khu vực này có khoảng 35 triệu lao động đang làm việc nhưng chỉ có 680 ngàn người tham gia, chiếm tỷ lệ 5,6% tổng số lao động và chủ yếu tham gia BHXH tự nguyện.

   Những hệ lụy từ việc làm thiếu bền vững từ giác độ ASXH

  Việc làm bền vững là chiến lược quốc gia, hướng tới đem lại sự cuộc sống ấm no cho mọi người lao động và gia đình của họ, qua đó, góp phần bảo đảm ASXH quốc gia. Tuy nhiên, qua những chỉ số về việc làm bền vững nêu trên, cho thấy việc làm của Việt Nam chưa thực sự bền vững, còn nhiều nhóm lao động dễ bị tổn thương trong thị trường lao động, gây ra nhiều hệ lụy kinh tế - xã hội, có thể kể đến:

  - Việc làm bấp bênh, dẫn tới thu nhập thấp và không ổn định, ảnh hưởng về khả năng (tài chính) tham gia BHXH của người lao động, nhất là đối với lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Khi không có BHXH, người lao động sẽ không được sự bảo vệ về thu nhập, đặc biệt khi không còn khả năng lao động (nghỉ hưu) - Đây là hệ lụy lớn nhất, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người lao động và gia đình họ. Bên cạnh đó, việc làm bếp bênh đồng nghĩa với việc người lao động dễ gặp rủi ro trong cuộc sống, bị “nghèo hóa”, làm gia tăng các chi phí của hệ thống ASXH, làm hệ thống ASXH quốc gia có nguy cơ không được đảm bảo.

  - Tỷ lệ thất nghiệp lớn, đặc biệt ở nhóm lao động trẻ, làm cho thị trường lao động kém hiệu quả (không toàn dụng lao động); tăng chi phí BHXH (chi trả trợ cấp BHTN), tăng chi phí đào tạo lại nghề nghiệp cho người lao động và tăng chi phí cho bộ máy quản lý. Ngoài ra, còn dẫn đến những hệ lụy xã hội không mong muốn khác như vấn đề tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, tan vỡ hôn nhân, nạn tự tử do bất lực trong cuộc sống… ảnh hưởng đến ASXH nói chung.

  - Lao động trong khu vực phi chính thức còn quá lớn, chậm chuyển dịch sang nền kinh tế hiện đại hơn, kéo theo độ bao phủ của BHXH khó có thể mở rộng, mục tiêu BHXH cho mọi người lao động khó thực hiện và vì vậy mở rộng lưới an sinh cho mọi người lao động thông qua chính sách BHXH cũng khó hoàn thành.

   Việc làm thiếu bền vững đặt ra nhu cầu xã hội cần phải có các giải pháp tháo gỡ, hướng tới việc làm bền vững hơn, để người lao động có cuộc sống tốt đẹp hơn, được tôn trọng nhân phẩm hơn cả trong công việc và trong cuộc sống, đáp ứng được tôn chỉ của việc làm bền vững được đưa ra trong Chương trình nghị sự của ILO.

   Tài liệu tham khảo

  - Triệu Đức Hạnh (2006), Việc làm bền vững trong thời đại ngày nay, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

  - Mạc Văn Tiến (2016), Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập, Hội thảo Quốc gia, Hà Nội.

  - ILO (2006), Decent work, International Lalour Conference, 87th Session, Geneva.

  - ILO (2006), Asean Decent work Agenda, Businessworld, Manila, Philippines.

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam