Whitmore - "vi khuẩn ăn thịt người" và những biểu hiện lâm sàng của bệnh

13/01/2020 14:09:39
Whitmore là một bệnh nhiễm trùng ở người, động vật do Burkholderia pseudomallei – vi khuẩn sống trong đất, nước bị nhiễm khuẩn và xâm nhập chủ yếu qua da - gây ra. Bệnh thường gặp ở Bắc Australia và các quốc gia khu vực Đông Nam Á; trong đó, tại Việt Nam, ca bệnh đầu tiên được ghi nhận năm 1925, sau đó lan ra các địa phương trong cả nước và đáng lo ngại, đột nhiên gia tăng trong thời gian gần đây. Whitmore có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, khó chẩn đoán, tỷ lệ tử vong cao ở những trường hợp viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng. Những người có bệnh nền (tiểu đường, bệnh gan, thận, phổi mạn tính...) có nguy cơ cao mắc bệnh.

Theo Hướng dẫn Chẩn đoán và điều trị bệnh Whitmore (kèm theo Quyết định số 6101/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế vừa ban hành), thời kỳ ủ bệnh Whitmore từ 01 - 21 ngày, có thể kéo dài và khó xác định bởi nhiễm trùng Burkholderia pseudomallei có thể là nhiễm trùng tiềm ẩn và tái kích hoạt giống bệnh lao. Đối với thể cấp tính, các biểu hiện lâm sàng hay gặp bao gồm viêm phổi, sốt cao, sốt rét run, ho đờm, mủ, tổn thương có thể tiến triển thành viêm phổi hoại tử dẫn đến suy hô hấp, sốc nhiễm khuẩn; nhiễm khuẩn huyết cũng là thể bệnh hay gặp, có thể không xác định được đường vào, dễ diễn biến thành sốc nhiễm khuẩn, suy đa phủ tạng gây tử vong. Ngoài ra, các biểu hiện lâm sàng ít gặp hơn là áp xe trong ổ bụng (áp xe gan, áp xe lách, áp xe cơ thắt lưng chậu); tổn thương đa dạng không đặc hiệu như loét da, áp xe dưới da, mụn mủ rải rác, viêm mô tế bào, viêm cân mạc, áp xe cơ; viêm thận bể thận, viêm tiền liệt tuyến, áp xe tiền liệt tuyến; viêm tủy xương, viêm khớp nhiễm trùng; viêm màng não mủ, áp xe não, viêm màng não - tủy; viêm màng ngoài tim, phình mạch; áp xe hoặc viêm mủ tuyến mang tai; viêm hạch bạch huyết. Với thể bán cấp và thể mạn tính, biểu hiện lâm sàng thường gặp ở phổi và da; bệnh nhân có sốt, ho đờm, mủ hoặc ho máu, gầy sút cân, ra mồ hôi trộm về đêm tương tự lao phổi; tại da, tổn thương là các u hạt, loét da khó lành. Lưu ý, ở trẻ em, biểu hiện lâm sàng có thể khác với người lớn, thể bệnh viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết có thể xảy ra nhưng không thường xuyên. Ngược lại, thường gặp các tổn thương da hoặc viêm mủ, áp xe tuyến mang tai.

Tất cả các trường hợp nhiễm Burkholderia pseudomallei từ nhẹ đến nặng đều cần được điều trị ban đầu bằng kháng sinh tĩnh mạch ít nhất 02 tuần, sau đó là điều trị duy trì kháng sinh đường uống trong tối thiểu 03 tháng. Trong sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch, có thể lựa chọn 01 trong các kháng sinh sau: Ceftazidim – đây là lựa chọn ưu tiên, dùng 2g tiêm tĩnh mạch chậm, mỗi 6-8 giờ (trẻ em 50mg/kg tiêm tĩnh mạch chậm mỗi 6-8 giờ), tối đa 8g/ngày hoặc Meropenem (1g truyền tĩnh mạch, mỗi 08 giờ, trẻ em 25mg/kg mỗi 08 giờ, gấp đôi liều nếu có viêm màng não) hoặc Imipenem/cilastatin (1g truyền tĩnh mạch, mỗi 08 giờ, trẻ em 25mg/kg mỗi 08 giờ). Trường hợp bệnh nhân cần điều trị tại các đơn vị hồi sức tích cực nên lựa chọn kháng sinh nhóm carbapenem; trường hợp bệnh nhân nặng (nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, áp xe) có thể phối hợp trimethoprim/sulfamethoxazole (TMP/SMX) dạng uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Thời gian kéo dài tối thiểu 02 tuần, có thể tới 4-8 tuần với những trường hợp bệnh nặng, sốc nhiễm trùng, chỉnh liều ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận. Trong giai đoạn duy trì, có thể sử dụng kháng sinh đường uống, lựa chọn 01 trong các thuốc như TMP-SMX, liều 6-8 mg/kg/ (tính liều theo TMP), mỗi 12 giờ; Doxycillin 100mg/lần x 02 lần/ngày; Amoxicillin/Clavulanic, liều 60 mg/kg/ngày (tính theo liều amoxicillin), tối đa 1000 mg/lần x 03 lần/ngày. Lưu ý, với phụ nữ có thai ưu tiên lựa chọn amoxicillin/clavulanic trong giai đoạn duy trì. Để hỗ trợ, cần áp dụng phương pháp hồi sức và liệu pháp chăm sóc tích cực theo các hướng dẫn về viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng; kiểm soát đường máu mao mạch, mục tiêu duy trì đường máu mao mạch từ 7-11 mmol/1; phẫu thuật dẫn lưu cho các trường hợp bệnh nhân có áp xe một ổ lớn ở gan, cơ và áp xe tuyến tiền liệt; viêm khớp nhiễm khuẩn có thể phải dẫn lưu và rửa ổ khớp nhiều lần; viêm xương tủy cần phẫu thuật cắt bỏ xương hoại tử ở bệnh nhân có tổn thương viêm tủy xương hoại tử rộng và có ổ áp xe tủy xương; phình động mạch nhiễm trùng (do vi khuẩn xâm nhập vào thành động mạch) cần được phẫu thuật khẩn cấp bằng việc thay thế các mảnh ghép mạch máu nhân tạo; dự phòng huyết khối tĩnh mạch bằng sử dụng heparin trọng lượng phân tử thấp; dự phòng loét do stress và/hoặc xuất huyết tiêu hóa dùng các thuốc ức chế bơm proton hoặc các thuốc kháng H2.

Các trường hợp đã chẩn đoán là mắc bệnh cần được theo dõi và điều trị kịp thời, chống tái phát. Whitmore hiện chưa có vaccine, để phòng bệnh, cần sử dụng các thiết bị bảo vệ cá nhân như ủng, găng tay không thấm nước để bảo vệ chống tiếp xúc với đất, nước nhiễm vi khuẩn và làm sạch hoàn toàn vết rách da, trầy xước hoặc bỏng bị nhiễm bẩn.

BS.Phan Kim

Viết bình luận

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Tạp chí Bảo Hiểm Xã Hội

Open:

Phone: 0436 281 539

150 Phố Vọng, Thanh Xuân Hà Nội, Việt Nam